Thực trạng hủy bỏ hợp đồng BHNT tại Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội- nguyên nhân và giải pháp khắc phục - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.....................................................6
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU......................................................7
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................... 8
CHƯƠNG I: BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ VẤN ĐỀ HỦY BỎ HỢP
ĐỒNG TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ..............10
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ.......................10
1.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ...........................10
1.2. Những đặc trưng của Bảo hiểm nhân thọ....................................15
1.2.1. BHNT là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể chi trả cho dù có
rủi ro hay không có rủi ro xảy ra – vừa mang tính tiết kiệm vừa mang
tính rủi ro...........................................................................................15
1.2.2. BHNT đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của người tham
gia bảo hiểm......................................................................................16
1.2.3. Các loại hợp đồng trong BHNT thường rất đa dạng và phức
tạp......................................................................................................17
1.2.4. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá
trình định phí khá phức tạp................................................................17
1.2.5. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế- xã hội
nhất định............................................................................................18
1.3. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ......................................................19
1.4. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ..................................................21
1.4.1. Bảo hiểm trong trường hợp tử vong.........................................21
1.4.2. Bảo hiểm trong trường hợp sống.............................................23
1.4.3. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.....................................................24
1.4.4. Các điều khoản bảo hiểm bổ sung............................................25
1
II. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ..............................................25
2.1. Khái niệm........................................................................................25
2.2. Một số khái niệm và những điểm cần lư] ý khi ký kết hợp đồng
BHNT.....................................................................................................26

2.1. Q]y định của pháp l]ật về h]ỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
.................................................................................................................62
2.2. Q]i định của BVNT Hà Nội về hủy bỏ hợp đồng BHNT...........63
III. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH VỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG BHNT TẠI
BVNT HÀ NỘI..........................................................................................67
3.1. Tình hình ch]ng về hủy bỏ hợp đồng tại BVNT Hà nội.............68
3.2. Hủy bỏ hợp đồng theo thời gian....................................................70
3.3. Hủy bỏ hợp đồng theo sản phẩm..................................................73
IV. NGUYÊN NHÂN HỦY BỎ HỢP ĐỒNG TẠI BVNT HÀ NỘI.....75
4.1. Ng]yên nhân từ phía doanh nghiệp..............................................75
4.2. Ng]yên nhân từ phía đại lí............................................................80
4.3. Ng]yên nhân từ phía khách hàng.................................................83
4.4. Ng]yên nhân khác..........................................................................84
V. CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ KHÁCH HÀNG HỦY BỎ HỢP
ĐỒNG ĐÃ VÀ ĐANG SỬ DỤNG...........................................................86
5.1. Hoàn thiện sản phẩm và thiết kế sản phẩm mới.........................87
5.2. Công tác đào tạo và hỗ trợ đại lí...................................................88
5.3. Công tác chăm sóc khách hàng.....................................................91
5.4. Cho vay phí tự động- cơ chế hữ] hiệ] đảm bảo q]yền lợi của
khách hàng.............................................................................................91
5.5. Cho vay theo hợp đồng.................................................................92
3
5.6. Dừng nộp phí và d]y trì hợp đồng với số tiền bảo hiểm giảm.. .93
5.7. Giảm số tiền bảo hiểm...................................................................93
5.8. Khôi phục hiệ] lực của hợp đồng,thực hiện các thay đổi liên
q]an đến hợp đồng................................................................................94
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG BHNT
TẠI BẢO VIỆT NHÂN THỌ HÀ NỘI...............................................94
I. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA BVNT HÀ
NỘI NĂM 2008. ........................................................................................94

HĐ: Hợp đồng
HĐKTM: Hợp đồng khai thác mới
PĐTKTM: Phí đầu tiên khai thác mới
TVV: Tư vấn viên
KDBH: Kinh doanh bảo hiểm
HDĐL: Hợp đồng đại lý.

6
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
Trang
Biểu: Doanh thu phí BHNT toàn thị trường 2001- 2007.............................................8
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội............................................42
Bảng 1: Tỷ trọng doanh thu phí BHNT/GDP của Việt nam ( 2001- 2006)...............13
Bảng 2: Bản miêu tả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng An Gia Phát Lộc
(A27P/2007)..............................................................................................................35
Bảng 3: Kết quả kinh doanh của BVNT Hà Nội (2003-2007)..................................51
Bảng 4: Tổng số đại lý và tư vấn viên tuyển mới của BVNT Hà nội ( 2003-2007)..53
Bảng 5:Tình hình chi trả quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng của BVNT Hà nội
(2003-2007)...............................................................................................................54
Bảng 6: Hiệu quả kinh doanh của BVNT Hà Nội(2005-2007).................................55
Bảng 7: Tình hình hủy hợp đồng tại BVNT Hà Nội (2005-2007)............................62
Bảng 8: Tình hình hủy bỏ hợp đồng theo thời gian tại BVNT Hà Nội(2005-2007). 64
Bảng 9 :Tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng theo sản phẩm tại Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
(2005 - 2007).............................................................................................................67
Bảng 10: Hệ số xếp loại đại lý theo tháng.................................................................73
Bảng 11: Tỷ lệ hợp đồng bị hủy bỏ do nợ phí quá hạn.............................................77
Bảng 12: Tỷ lệ hoa hồng 1 số sản phẩm của công ty BHNT Prudential...................79
Bảng 13: Thưởng trợ cấp chuyên nghiệp quý của Prudential....................................79
Bảng 14: Lãi suất tiền gửi tiết kiệm( nhận lãi cuối kỳ)của một số NH tháng 4 năm
2008...........................................................................................................................80

bỏ hợp đồng. Bởi cạnh tranh giữa các công ty BHNT cũng như sự phát triển rầm rộ
8
của các sản phẩm dịch vụ có tính chất tương đồng BHNT như ngân hàng, chứng
khoán, bất động sản…cho phép khách hàng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn
hình thức đầu tư, từ đó dẫn đến việc khách hàng hủy bỏ hợp đồng BHNT tại công ty
để tham gia các kênh đầu tư khác gây thiệt hại không nhỏ cho chính khách hàng cũng
như công ty và đại lý.
Xuất phát từ thực tế này, sau một thời gian nghiên cứu, thực tập tại BVNT Hà Nội,
với vốn kiến thức đã học và những tích lũy qua quá trình tìm hiểu thực tế tại công ty,
cùng sự giúp đỡ của các anh chị phòng Dịch vụ khách hàng- BVNT Hà Nội, em đã
quyết định chọn đề tài: “Thực trạng hủy bỏ hợp đồng BHNT tại Bảo Việt Nhân
Thọ Hà Nội- nguyên nhân và giải pháp khắc phục” làm Luận văn tốt nghiệp.
Trong Luận văn, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương
pháp duy vật biện chứng đi từ lý luận đến thực tiễn, phương pháp duy vật lịch sử,
phương pháp thống kê, so sánh, liên hệ, phân tích tổng hợp…
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Bảo hiểm nhân thọ và vấn đề hủy bỏ hợp đồng trong kinh doanh
BHNT.
Chương II: Thực trạng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại BVNT Hà Nội.
Chương III: Giải pháp hạn chế hủy bỏ hợp đồng tại BảoViệt Nhân Thọ Hà Nội

9
CHƯƠNG I: BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ VẤN ĐỀ HỦY BỎ HỢP
ĐỒNG TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày
dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải
những rủi ro bất ngờ xảy ra. Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện
pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra như:

: Định nghĩa theo Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm- tr 13
10
hoặc người thứ ba”
4
. Điều này có nghĩa là người tham gia bảo hiểm chuyển rủi ro cho
người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi người tham
gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất thì người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi
thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo hiểm là
những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm. Đây được coi là định
nghĩa mang tính chung nhất của bảo hiểm.
BHNT là một loại hình bảo hiểm thuộc BHCN trong BHTM. Vì vậy, BHNT
cũng mang đầy đủ những tính chất của bảo hiểm nói chung. BHNT là sự cam kết
giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả
cho người tham gia( hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định
khi có những sự kiện đã định trước xảy ra( trong trường hợp người được bảo hiểm bị
chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo
hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm cho các rủi ro có
liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.
Cùng với các loại hình BHTM khác như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hỏa hoạn
thì BHNT là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất.
Trên thế giới, theo truyền thống có từ xa xưa thì khi một người chẳng may qua
đời, những người thân, hàng xóm thường đứng ra quyên góp tiền của để trợ giúp gia
đình người đó vượt qua giai đoạn khó khăn nhất. Tuy nhiên, gia đình có người không
may qua đời có thể vẫn gặp khó khăn nếu số tiền quyên góp được không đủ để trang
trải các chi phí phát sinh. Trước nhu cầu đó, bảo hiểm nhân thọ ra đời như một
phương thức hiệu quả cung cấp tài chính khi một người không may gặp rủi ro liên
quan đến bản thân và gia đình.
BHNT xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại cách đây khoảng 4500 năm. Tại
đây, đã có những hoạt động sơ khai, mang tính chất của bảo hiểm nhân thọ. Người ta
lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội cũng

con chiên ở nhà thờ của mình. 3 năm sau đó, năm 1762 công ty bảo hiểm nhân thọ
Equitable ở nước Anh được thành lập và bán bảo hiểm nhân thọ cho mọi người dân.
12
Ở châu Á, các công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty
bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, 2 công ty khác là Kyoei và
Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay.
Có thể nói, hiện nay trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển
nhất.Đơn cử, năm 1985 doanh thu phí BHNT mới chỉ đạt 630,5 tỷ USD thì năm 1989
đã lên tới 1210,2 tỷ và năm 1993 con số này là 1647 tỷ, chiếm gần 48% tổng phí bảo
hiểm. Hiện nay, có 5 thị trường BHNT lớn nhất thế giới là: Mỹ, Nhật Bản, CHLB
Đức, Anh và Pháp.
Tại Việt Nam, trước năm 1945, ở miền Bắc những người làm việc cho Pháp đã
được tham gia BHNT và thời đó có một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo
hiểm. Các hợp đồng này đều do các công ty bảo hiểm của Pháp cung cấp.
Vào những năm 1970, ở miền Nam, công ty bảo hiểm nhân thọ Hưng Việt đã
triển khai một số sản phẩm như bảo hiểm nhân thọ trọn đời, bảo hiểm tử kỳ thời hạn
5 năm, 10 năm, 20 năm. Tuy nhiên, công ty này chỉ hoạt động trong một thời gian
ngắn khoảng gần 2 năm, do đó hầu hết người dân lúc đó chưa biết đến bảo hiểm nhân
thọ.
Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý và điều
tiết của Nhà nước đã tạo ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế. Chính sách mở cửa vào năm
1987 đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam được học hỏi và tiếp cận với
những kỹ thuật bảo hiểm mới trên thế giới. Từ kinh nghiệm các nước, Bảo Việt lúc
đó vẫn là công ty bảo hiểm duy nhất ở Việt Nam, đã thấy được tiềm năng to lớn của
bảo hiểm nhân thọ ở nước ta. Vì vậy, Bảo Việt đã tiến hành nghiên cứu đề tài cấp bộ:
“ Lý thuyết về bảo hiểm nhân thọ và sự ứng dụng vào thực tế ở Việt Nam”. Trong đề
tài này, những lý thuyết cơ bản của ngành bảo hiểm nhân thọ trên thế giới đã được
các nhà nghiên cứu tổng hợp, đồng thời họ phân tích các điều kiện triển khai bảo
hiểm nhân thọ tại Việt nam trong tình hình kinh tế- xã hội những năm cuối của thập
kỷ 80. Tuy nhiên, trong thời gian này hầu như các điều kiện cần thiết để triển khai

Năm 2000 và năm 2001, Bảo Việt tiếp tục thành lập thêm 59 công ty bảo
hiểm nhân thọ thành viên tại các địa phương khác trong cả nước, nâng tổng số công
14
ty thành viên của Bảo Việt lên tới 61 đơn vị. Bắt đầu từ đây, Bảo Việt đã có mạng
lưới bảo hiểm nhân thọ phủ khắp toàn quốc, đảm bảo phục vụ nhanh chóng, thuận
tiện tất các nhu cầu bảo hiểm nhân thọ của mọi tầng lớp nhân dân ở mọi miền, vùng
trong cả nước.
Cùng với sự lớn mạnh của Bảo Việt cũng như sự gia nhập ngày càng nhiều
của các công ty BHNT nước ngoài, doanh thu phí BHNT toàn thị trường đã tăng lên
nhanh chóng.
Biể]: Doanh th] phí BHNT toàn thị trường(2001-2007)
Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt nam
1.2. Những đặc trưng của Bảo hiểm nhân thọ
1.2.1. BHNT là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể chi trả cho dù có rủi ro hay
không có rủi ro xảy ra – vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa bảo hiểm nhân thọ với
bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp
một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty
bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn( gọi là số tiền bảo hiểm) cho người
hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm
xảy ra. Tính tiết kiệm của BHNT thể hiện ở chỗ: số tiền bảo hiểm được trả khi người
được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng. Hoặc
15
số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này
không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ
qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này sẽ giúp những người còn sống trang trải
những khoản chi phí cần thiết như: thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái…
Đây chính là thể hiện tính rủi ro của BHNT. Hơn thế nữa, tính tiết kiệm của BHNT
còn được thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có
kế hoạch và có kỷ luật. Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết

phẩm của nó.Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng
hạn BHNT hỗn hợp lại có các hợp đồng 5 năm, 10 năm, 15 và 20 năm. Mỗi hợp đồng
với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí, độ
tuổi của người tham gia... Chính vì vậy, việc quản lý hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là
hết sức khó khăn. Ngày nay, tất cả các công ty bảo hiểm nhân thọ trên thế giới đều
tập trung chú ý vào lĩnh vực công nghệ thông tin để quản lý hợp đồng.
1.2.4. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định
phí khá phức tạp.
Sản phẩm BHNT là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến với
công chúng.Trong đó, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí như chi phí khai
thác, chi phí quản lý hợp đồng…Giá cả của sản phẩm BHNT (phí BHNT) không chỉ
phụ thuộc vào những chi phí trên mà còn phụ thuộc vào độ tuổi của người được bảo
hiểm, tình hình sức khỏe và nghề nghiệp của anh ta, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham
gia, phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát…Vì thời hạn của hợp
đồng BHNT là rất dài cho nên khi tính phí bảo hiểm ngoài việc dựa trên cơ sở khoa
học, người ta còn phải dựa trên một số giả định cần thiết như nền kinh tế ổn định,
lạm phát một con số, không có hợp đồng bảo hiểm hủy bỏ, sự luân chuyển của dòng
tiền tệ trong nền kinh tế diễn ra ổn định…Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức
tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ,
phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung.
17
1.2.5. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định.
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT ra đời và phát triển từ rất lâu.
Trong khi ở một số quốc gia trên thế giới, BHNT lại chỉ mới được triển khai hoặc
còn kém phát triển. Lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng,
cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế- xã hội phải phát
triển.
Những điều kiện về kinh tế như:
- Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
- Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân 1 đầu người.

ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều cá nhân và gia đình
trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệt nếu đó lại
là người trụ cột trong gia đình bị chết, hoặc bị thương tật vĩnh viễn. Khi đó, gia đình
phải chịu chi phí mai táng chôn cất, chi phí nằm viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật
và bù đắp những khoản thu thường xuyên bị mất đi. Khó khăn hơn nữa là một loạt
các nghĩa vụ và trách nhiệm mà người quá cố chưa kịp hoàn thành như trả nợ, phụng
dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con cái ăn học…Mặc dù hệ thống bảo trợ xã hội và các
tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thời trước mắt
mà chưa đảm bảo được lâu dài về mặt tài chính.Tham gia BHNT sẽ góp phần giúp cá
nhân và gia đình ổn định cuộc sống, kịp thời khắc phục hậu quả sau rủi ro, giúp các
thành viên trong gia đình quan tâm lẫn nhau hơn, từ đó tạo ra một nếp sống đẹp và
lành mạnh trong xã hội.
Thứ hai, BHNT góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các
doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi gắn bó giữa người lao động và người sử
dụng lao động. Tùy theo đặc điểm ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, các chủ doanh
nghiệp thường mua bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn…cho người làm công và
những người chủ chốt trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo ra
sự lôi cuốn, gắn bó và trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp ngay cả
trong lúc doanh nghiệp gặp khó khăn. Tham gia BHNT chính là giải pháp hiệu quả
giúp doanh nghiệp bảo vệ nguồn nhân lực của mình. Điều đó đặc biệt có ý nghĩa
19
trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt nguồn nhân lực có chất lượng như hiện nay giữa
các doanh nghiệp.
Thứ ba, BHNT góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn cho nền kinh tế.
Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là thu phí bảo hiểm
trước, thực hiện chi trả tiền bảo hiểm cho khách hàng sau khi có sự kiện bảo hiểm
xảy ra. Mặt khác, các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường rất dài. Do vậy, phí bảo
hiểm mà công ty bảo hiểm thu được của khách hàng sẽ hình thành nên quỹ bảo hiểm,
quỹ này ngoài việc được sử dụng để chi trả bồi thường và dự phòng thì khi nhàn rỗi,
nó sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế.Vốn

cầu tiết kiệm hoặc đầu tư số tiền mặt tạm thời nhàn rỗi. Ở các nước đang phát triển
và chậm phát triển, thường thiếu các công cụ để đáp ứng nhu cầu này. Vì vậy, BHNT
ra đời là nhằm giúp các cá nhân và tổ chức thực hiện nhu cầu này một cách có hiệu
quả. Do đặc thù của BHNT là đối tượng tham gia tương đối rộng, là hình thức bảo
hiểm vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro, có cơ chế và phương thức đóng
phí thuận lợi. Cho nên, BHNT có nhiều ưu điểm hơn hẳn gửi tiền tiết kiệm. Vì thế,
việc thực hành tiết kiệm từ chi tiêu ngân sách gia đình để mua BHNT sẽ dễ dàng hơn.
Thứ năm, BHNT còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội
như:Tạo ra sự ổn định trong xã hội thông qua việc giảm thiểu sự lo lắng của bên mua
bảo hiểm, tạo them công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc
giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm có kế hoạch…Khi cung cấp sản
phẩm BHNT thì các công ty cần rất nhiều đại lý, tư vấn viên đi khai thác, hệ thông
nhân viên sử dụng máy tính, thống kê, kế toán…Do vậy, lĩnh vực BHNT thu hút khá
nhiều lao động. Ở Mỹ có gần 2 triệu người làm việc trong ngành bảo hiểm. Ở
HongKong với số dân 6 triệu người, có tới 20000 người làm trong các công ty bảo
hiểm. ở Việt nam, năm 2006 kỷ niệm 10 năm sản phẩm BHNT, đã thống kê riêng
ngành BHNT đã tao ra công ăn việc làm cho khoảng 70000 người lao động có thu
nhập ổn định.
1.4. Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.
BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo
hiểm.Do đó, người bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm BHNT, mà thực
chất là đa dạng các loại hợp đồng nhằm đáp ứng và thỏa mãn mọi nhu cầu của người
tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ thường có các loại hình chủ yếu sau:
1.4.1. Bảo hiểm trong trường hợp tử vong.
Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia làm 2 nhóm:
21
A. Bảo hiểm tử kỳ: Là loại hình bảo hiểm nhân thọ được kí kết chỉ để bảo hiểm
cho khả năng chết xảy ra trong thời gian đã qui định cụ thể trong hợp đồng. Theo đó,
khi người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định( thời hạn bảo hiểm) thì
công ty bảo hiểm sẽ có trách nhiệm thanh toán STBH cho người thụ hưởng quyền lợi

L7: Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện.
B.Bảo hiểm nhân thọ trọn đời: là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người
được bảo hiểm chết vào bất kì thời điểm nào trong suốt cuộc đời của họ.Khi người
được bảo hiểm chết, công ty bảo hiểm có trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định trong hợp đồng.
Đặc điểm:
- Thời hạn bảo hiểm không xác định.
- Phí bảo hiểm có thể đóng 1 lần hoặc đóng định kì va không thay đổi trong
suốt quá trình bảo hiểm.
-Phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc
chắn sẽ xảy ra, nên STBH chắc chắn phải chi trả.
Mục đích:
-Góp phần ổn định cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của người
được bảo hiểm.
- Mua sắm tài sản, giữ gìn tài sản cho thế hệ sau.
- Giúp người thân tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh.
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời bao gồm các loại sau:
BHNT trọn đời có tham gia chia lãi.
BHNT trọn đời không tham gia chia lãi.
BHNT trọn đời không đóng phí liên tục.
BHNT trọn đời phí đóng 1 lần.
1.4.2. Bảo hiểm trong trường hợp sống.
A. Bảo hiểm sinh kì thuần túy: Là loại hình bảo hiểm nhân thọ được kí kết chỉ
để bảo hiểm cho khả năng sống xảy ra khi hết 1 khoảng thời gian đã quy định trong
23
hợp đồng. Khi người được bảo hiểm sống hết khoảng thời gian đó thì công ty bảo
hiểm sẽ chi trả STBH cho người được bảo hiểm.
Đặc điểm:
- Thời hạn bảo hiểm xác định.
- Phí bảo hiểm thường đóng 1 lần .

-Nhằm đáp ứng các mục đích cá nhân khác của người tham gia bảo hiểm.
1.4.4. Các điều khoản bảo hiểm bổ sung.
Thực chất, các điều khoản bảo hiểm bổ sung là các nghiệp vụ bảo hiểm con
người phi nhân thọ chứ không phải là BHNT. Tuy nhiên để tiến hành đa dạng hóa các
sản phẩm BHNT, các công ty BHNT đã lồng ghép các điều khoản bảo hiểm bổ sung
này vào các loại hình BHNT cơ bản để nhằm gia tăng thêm quyền lợi cho khách
hàng. Các điều khoản bảo hiểm bổ sung cơ bản là:
- Bảo hiểm tai nạn.
- Bảo hiểm sức khỏe.
- Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật.
- Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo…
II. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
2.1. Khái niệm.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thực chất cũng là một hợp đồng kinh tế. Là sự
cam kết giữa hai bên mà trong đó bên nhận bảo hiểm có trách nhiệm và nghĩa vụ chi
trả STBH cho bên tham gia khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người được
bảo hiểm; còn bên tham gia bảo hiểm có trách nhiệm,nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm
theo như quy định trong hợp đồng đã được pháp luật thừa nhận. Như vậy, trong mỗi
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đều có hai bên:
• Bên nhận bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm:
- Có trách nhiệm, nghĩa vụ chi trả STBH theo đúng như quy định trong hợp
đồng. Đây là trách nhiệm lớn nhất mà doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện.
25

Trích đoạn Hủy bỏ hợp đồng theo thời gian NGUYÊN NHÂN HỦY BỎ HỢP ĐỒNG TẠI BVNT HÀ NỘI Hoàn thiện sản phẩm và thiết kế sản phẩm mới Cho vay phí tự động cơ chế hữu‎ hiệu‎ đảm bảo qu‎yền lợi của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status