Lời nói đầu
Công tác giải quyết khiếu nại hành chính luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm vì nó vừa phản ánh tính chất dân chủ của Nhà nước ta vừa góp phần
trực tiếp vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Khiếu nại, tố cáo vừa là vấn đề chính trị, vừa là vấn đề pháp lý. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức không chỉ liên quan đến các quyền,
tự do, lợi ích của công dân, mà còn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội, đến
ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Nhận thức sâu sắc ý nghĩa đó, từ khi lãnh đạo nhân dân xây dựng chính
quyền cách mạng, Đảng ta, mà đi đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng
đến vấn đề khiếu nại, tố cáo của nhân dân. 60 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã
lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với những định hướng cụ
thể phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn phát
triển của đất nước.
Trong những năm đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng hội
nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan
trọng: kinh tế, xã hội phát triển; an ninh, quốc phòng được bảo đảm; đời sống
nhân dân từng bước được cải thiện; vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày
càng được nâng cao. Tuy nhiên, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa cũng làm nảy sinh nhiều khiếu nại, tranh chấp. Tệ nạn tham nhũng, quan
liêu, tiêu cực ngày càng nghiêm trọng là một nguyên nhân dẫn đến nhiều tố cáo
của cán bộ, đảng viên. Gần 20 năm qua, dân chủ được mở rộng và ngày càng thể
hiện sâu sắc trong đời sống xã hội là một thành quả to lớn của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta. Không chỉ ý thức cao về dân chủ, về trách nhiệm công dân, mà
còn nhiều cơ chế pháp lý tương đối thuận lợi đã giúp cho nhân dân chủ động bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần xây dựng đảng, chính quyền
trong sạch, vững mạnh.
Trong thời gian tới, khi Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN thì sẽ nảy sinh nhiều khiếu nại, tố cáo, nhất là những khiếu
trách nhiệm đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo”.
Điều 74 Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi
nhận: “ Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.Việc
khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời
hạn pháp luật qui định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi
dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. Mọi hành
vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và
công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh”.
Để cụ thể hoá quyền khiếu nại, tố cáo được qui định tại Hiến pháp, tháng
12 năm 1998, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật khiếu nại, tố
cáo. Tiếp theo đó, ngày 07/8/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
67/1999/NĐ-CP qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo.
Ngày 14/6/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2002/NĐ-CP sửa đổi, bổ
xung một số điều của Nghị định 67/1999/NĐ-CP.
Luật khiếu nại, tố cáo ra đời tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền
khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức và cá nhân. Các cấp các ngành nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm của
mình trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Quá trình thực hiện Luật khiếu
nại, tố cáo cho thấy công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có những chuyển
biến tích cực ở các cấp, các ngành, góp phần ổn định tình hình xã hội. Đảng và
Nhà nước thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3
3
Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư Trung ương Đảng, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và
Chính phủ thường xuyên tập trung lãnh đạo công tác này.
Sau khi Luật khiếu nại, tố cáo được ban hành Đảng và Nhà nước đã ban
hành nhiều văn bản chỉ đạo việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09/CT-TW về một số
quyền các địa phương và Bộ, ngành; sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
thanh tra nhà nươc, kiểm tra của Đảng và thanh tra nhân dân, trong đó các cơ
quan thanh tra nhà nước đóng vai trò tích cực và có hiệu quả thông qua việc xác
minh, kết luận, kiến nghị thủ trưởng cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố
cáo ở các cấp, các ngành; tham gia chỉ đạo giải quyết các vụ việc khiếu kiện
phức tạp, bức xúc, có nguy cơ trở thành điểm nóng ở các địa phương.
Từ khi Luật khiếu nại, tố cáo có hiệu lực, các cơ quan nhà nước đã tiếp
nhận 878.053 đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị. Các cơ quan hành chính nhà
nước đã tiếp nhận xử lý 765.073 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết. Đến hết
năm 2005 đã giải quyết được hơn 639.432 vụ việc (đạt tỷ lệ hơn 83%), trong đó
có 553.245 vụ việc khiếu nại và 55.307 vụ việc tố cáo. Qua công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo đã khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và
công dân với số tiền hơn 108 tỷ 265 triệu đồng, 4.121 ha đất, 32.063 tấn lương
thực; thu hồi cho nhà nước 123tỷ 365 triệu đồng, 6.235 ha đất, 5.235 tấn lương
thực; kỷ luật hành chính 6.279 người, chuyển cơ quan điều tra 91 vụ với 171
người.
2- Những hạn chế, vướng mắc trong công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo:
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, với sự cố gắng, nỗ
lực của các cơ quan nhà nước và các cơ quan thanh tra trong công tác giải quyết
khiếu nại tố cáo, tình hình khiếu nại, tố cáo đến nay đã có chiều hướng giảm,
song chưa vững chắc. Không ít vụ việc khiếu nại, tố cáo vẫn diễn biến phức tạp,
tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Một số
vụ khiếu nại, tố cáo kéo dài đã qua nhiều cấp, nhiều ngành nhưng người dân vẫn
5
5
không đồng ý với quyết định giải quyết, tiếp tục khiếu kiện vượt cấp lên Thủ
tướng Chính phủ, Quốc hội và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Nguyên nhân làm phát sinh khiếu kiện cũng như việc tồn tại các hạn chế vướng
mắc này là do:
cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước bị giảm sút.
- Một số nơi tổ chức Đảng, chính quyền đoàn thể ở cơ sở yếu kém, nội bộ
chưa đoàn kết, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hoá biến chất, quan liêu,
mất dân chủ, làm sai chính sách pháp luật, biết sai phạm nhưng không xem xét,
kết luận, xử lý kịp thời, nghiêm minh; một số cán bộ có biểu hiện lợi dụng việc
khiếu nại, tố cáo phục vụ mục đích cá nhân, bôi nhọ cán bộ, gây mâu thuẫn nội
bộ, làm phát sinh khiếu kiện bức xúc.
- Một số người khiếu kiện do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có
nguyên nhân là không hiểu chính sách, pháp luật nên khiếu nại thiếu căn cứ,
vượt ra ngoài qui định của pháp luật hoặc cố tình đeo bám dai dẳng, cố chấp
được thua, không chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố
cáo có lý có tình. Một số trường hợp có hành vi quá khích, gây rối, kích động,
lôi kéo người khác khiếu kiện, đây cũng là nguyên nhân làm phức tạp thêm tình
hình khiếu nại, tố cáo.
- Hệ thống pháp luật nói chung, đặc biệt là các qui định pháp luật về khiếu
nại, tố cáo chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thậm chí nhiều qui định không còn
phù hợp với thực tế cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật khiếu
nại, tố cáo chưa được thực hiện thường xuyên cho nên người dân không nắm
được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình khiếu nại, tố cáo dẫn đến
nhiều vụ việc mặc dù đơn giản nhưng người dân khiếu nại đến quá nhiều cơ
quan, tổ chức, làm mất nhiều thời gian trong quá trình xem xét, giải quyết.
Qua hơn 5 năm thực hiện Luật khiếu nại, tố cáo cho thấy có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đạt hiệu quả. Một trong
những nguyên nhân cơ bản là do một số qui định của Luật khiếu nại , tố cáo đã
bộc lộ những điểm bất cập, không phù hợp với yêu cầu thực tế công tác giải
7
7