LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Những năm gần đây thế giới đang phải đối mặt với rất nhiều các cuộc
khủng hoảng trong rất nhiều lĩnh vực trong đó vấn đề “An ninh lương thực”
cũng đang là một vấn đề hết sức cấp bách.Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật
phát triển như vũ bão đều đưa tới sự phát triển trong mọi nghành kinh tế thì cả
thế giới lại phải đối mặt với việc thiếu trầm trọng về lương thực,gánh nặng
lương thực ấy lại kéo thêm các nước châu Phi luôn trong tình trạng thiếu lương
thực và nạn đói triền miên.một số nước trước kia là cường quốc về xuất khẩu
lương thực như Hoa Kỳ lại đang dần rút chân ra khỏi cuộc chạy đua về sản xuất
và xuất khẩu lương thực.Nga và Ấn Độ thì cấm xuất khẩu Lương thực do lo ngại
tình trạng thiếu lương thực trong nước đã làm giá lương thực thế giới tăng
cao.Cũng chính những điều kiện đó đã đưa Việt Nam một nước đang phát triển
có rất nhiều thế mạnh phát triển nông nghiệp trở thành một quốc gia sản xuất và
xuất khẩu lương thực đứng đầu thế giới.Một câu hỏi luôn đặt ra trong đầu tôi:
“Tại sao không tận dụng và thúc đẩy những thế mạnh của chính nội lực quốc gia
mình là sản xuất,xuất khẩu lương thực để phát triển kinh tế? ”.Đó cũng là lý do
em lựa chọn đề tài: “Sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam trong những năm
gần đây thực trạng,giải pháp”cho khóa luận tốt nghiệp của mình.Từ đó để ra
một số giải pháp tăng năng xuất,chất lượng trong sản xuất và hiệu quả trong
xuất khẩu.
Trong những năm gần đây Việt Nam đang tăng nhanh về sản lượng lương thực
cũng như kim nghạch xuất khẩu.Ước tính đến hết năm 2010 tổng sản lượng gạo
của nước ta đạt 41 triệu tấn,kim nghạch xuất khẩu đạt mức 6,2 triệu tấn/năm,đạt
giá trị 2,173 tỷ USD,tăng 36% so với năm 2008.Song tất cả các số liệu trên vẫn
chưa xứng tầm với những thế mạnh mà Việt Nam đang có.giá lương thực của
Việt Nam vẫn thấp hơn rất nhiều so với sản phẩm cùng loại của 1 số nước như
Thái Lan do kém hơn về chất lượng và chính sách phân biệt của các nước nhập
khẩu.Điều đó đang đặt chúng ta trước rất nhiều việc phải làm để tăng năng
xuất,chất lượng lương thực.thay đổi hình ảnh lương thực Việt Nam trong mắt
bạn hàng quốc tế.
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất
và xuất khẩu lương thực Việt Nam trong nhưng năm gần đây.
b. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng năng
xuất,chất lượng của ngành sản xuất lương thực cùng với tính hiệu quả trong việc
xuất khẩu lương thực của Việt Nam trong những năm gần đây.
3. Nhiệm vụ của khóa luận:
a. Nhiệm vụ
Tổng hợp cơ sở lý luận về vai trò và đặc điểm sản xuất và xuất khẩu
lương thực.
Khóa luận đã hệ thống về thực trạng sản xuất và xuất khẩu lương thực của
Việt Nam trong nhưng năm gần đây.
Nêu ra nhưng khó khăn và thuân lợi của Việt Nam trong việc sản xuất và
xuất khẩu lương thực.
Đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục nhưng hạn chế cũng như phát
huy tối đa thế mạnh để nâng cao năng suất, sản lượng lương thực và tăng tính
hiệu quả,giá trị của lương thực Việt Nam trên thị trường lương thực thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng biện pháp duy vật lịch sử,duy vật biện chứng phương
pháp phân tích,tổng hợp,kết hợp với những phương pháp như thống kê,so
sánh,thu thập tài liệu.
5. Những đóng góp của khóa luận:
Khóa luận đã khái quát hóa những vấn đề cơ bản về vai trò và đặc điểm
của sản xuất lương thực. Thực trạng sản xuất và xuất khẩu lương thực ở Việt
Nam những năm gần đây.
Đánh giá nhưng kết quả mà Việt Nam đã đạt được cũng như những khó
khăn vượt qua trong ngành sản xuất và xuất khẩu lương thực.
Rút ra những bài học kinh nghiệm từ những thuận lợi và khó khăn đã trải
qua.
các bộ lạc Phùng Nguyên với kĩ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước đã tạo
nên những tiền đề vật chất và tinh thần đầu tiên cho thời đại các Vua Hùng. Tổ
tiên ta từ văn hóa Phùng Nguyên đã sớm chọn cây lúa nước làm nguồn sản xuất
chính, đạt nền móng cho nông nghiệp của nước nhà phát triển như ngày nay.
1.1.2 sự phân bố các vùng sản xuất nông nghiệp, lương thực trên thế giới và Việt
nam:
a.Thế Giới
Trên thế giới đang dứng trước một số khó khăn lớn,dân số của các nước
đang phát triển tăng quá nhanh trong khi sản xuất lương thực trên thế giới tăng
không đáng kể. Dự trữ lương thực trên thế giới ở mức thấp chưa từng thấy.nhiều
khu vực sản xuất lương thực giảm sút do thời tiết khắc nhiệt,đất đai canh tác
giảm và bị khai thác quá mức, đầu tư chiều sâu vào nông nghiệp ở mức thấp.Ở
một số nước sản xuất sản xuất lương thực chính như: Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nga,
Trung Quốc, Ucraina…Sản lượng tăng không nhiều có năm còn giảm. Châu Phi
cận xahara đang đối mặt với nạn đói. Đông Âu nhằm vào thị trường Tây Âu để
xuất khẩu lương thực nay phải nhập từ nước ngoài.cho nên lương thực là vấn đề
được cả loài người quan tâm.
Từ đầu thế kỉ đến nay sản xuất lương thực trên thế giới cả về diện tích
năng xuất và sản lượng, trong gần 1 thế kỉ diện tích reo trồng tăng 1,5 lần và sản
lượng tăng 3,5 lần.
Những nước có diện tích gieo trồng lương thực lớn nhất thế giới là Liên
Xô(cũ): 120 triệu ha, Ấn Độ: 110 triệu ha, Trung Quốc: 95 triệu ha, Mĩ: 82 triệu
ha. Đi đôi với việc phát triển về số lượng, cơ cấu diện tích và sản lượng lương
thực trên thế giới cũng có nhiều thay đổi.Về diện tích gieo trồng vào đầu thế kỉ
diện tích lúa nước lúa mì gần ngang nhau khoảng 30% tổng diện tích cây lương
thực, Ngô chiếm 12%.
Hiện nay diện tích lúa mì chiếm diện tích lớn nhất rồi đến lúa nước và
ngô.
Phân bố nước sản xuất lương thực lúa mì tập trung ở các nước Châu Âu,Châu Á
và Bắc Mĩ các nước SNG: 51 triệu ha, Trung Quốc: 30 triệu ha, Mĩ 27 triệu ha,
bình khoảng 100m.Với những thế mạnh về mặt tự nhiên cùng với diện tích rộng
nhất trong các đồng bằng châu thổ(gần 40.000km
2
) đồng bằng sông Cửu Long
thật sự là nguồn cung cấp lớn nhất cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
(3872,9 nghìn ha lúa cả năm và 18.678 nghìn tấn lúa năm 2009).
Đồng Bằng sông Hồng: Là sản phẩm của của sông Hồng và sông Thái Bình khác
với đồng bằng sông Cửu Long mới được khai thác thì đồng bằng sông Hồng
được khai thác từ lâu đời gắn với văn minh lúa nước của người Việt.với diện
tích đất tự nhiên khoảng 15.000km
2
tuy các thế mạnh về tự nhiên thua kém
đồng bằng sông Cửu Long song bù lại đồng bằng có sự thâm canh cao nhất cả
nước. Ngành trồng lúa rất phát đạt và trở thành vựa lúa lớn thứ 2 cả nước
(1155,5 nghìn ha lúa cả năm và 6500,7 nghìn tấn năm 2009).
Duyên Hải Miền Trung: Là dải đồng bằng nhỏ hẹp cũng là nơi phân bố trồng của
các cánh đồng lúa, tuy quy mô nhỏ và không tập trung. Đây là một dải bao gồm
đồng bằng: Thanh-Nghệ-Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Nam-Ngãi-Định, Phú Yên-
khánh Hòa, Ninh Thuận- Bình Thuận với diện tích tự nhiên sấp xỉ đồng bằng
sông Hồng 14.560 km
2
. Được hình thành nhờ sự bồi đắp của các con sông nhỏ
như sông Mã, sông Cả, sông Chu…Đây là vựa lúa lớn thứ 3 của cả nước với
1221,6 nghìn ha lúa cả năm và 5764,5 nghìn tấn năm 2009.
1.1.3 Vai trò sản xuất nông nghiệp, sản xuất lương thực
Trong bất cứ xã hội nào, lương thực – cái ăn của con người thường được
đặt lên hàng đầu. Vai trò to lớn của nó thể hiện ở chỗ nông nghiệp sản xuất ra
lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người.Đối với đất
nước nói chung và riêng từng thành viên nói riêng, lương thực có ý nghĩa rất
quan trong.
cây lương thực cho phù hợp . Đồng thời có kế hoạch phòng chống, hạn chế
những tác hại của môi trường tự nhiên đến sự phát triển của sản xuất lương thực.
Sản xuất lương thực là ngành sản xuất có thời gian sản xuất dài hơn thời
gian lao động. Trong sản xuất lương thực thời gian lao động không trùng khớp
với thời gian sản xuất, tính thời vụ thể hiện rất rõ. Vì vậy lao động sản xuất
lương thực có thời gian dồn dập có thời gian nhàn dỗi. Việc sử dụng đất đai và
lao động thế nào cho hợp lý là rất cần thiết.
Sản xuất lương thực được tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn, đất
đai là công cụ đồng thời là đối tượng của lao động. Đất đai là tư liệu sản xuất
chủ yếu của sản xuất lương thực cho nên nơi nào có điều kiện đất đai phù hợp có
thể tiến hành sản xuất và phân bố cây lương thực . Trong khi sản xuất công
nghiệp thường tập trung vào những địa điểm nhất định thì sản xuất lương thực
lại có xu hướng trải rộng và đất đai không chỉ là nơi sản xuất, là đối tượng của
lao động mà còn là công cụ của lao động. Vì vậy khi phân bố sản xuất lương
thực phải chú ý đến việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và làm giàu cho đất đai.
Sản xuất lương thực cần gắn liền với công nghiệp chế biến và tiêu thụ, tạo
nên chu trình sản xuất nông – công nghiệp hoàn chỉnh và khép kín. Hình thành
tổ chức nông – công nghiệp phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng
miền. Các hình thức tổ chức sản xuất này sẽ làm tăng giá trị của lương thực,
nâng cao trình độ chuyên môn hóa sản xuất giảm bớt tình thời vụ, làm tăng khối
lượng và chất lượng lương thực, giảm giá thành. Đưa chế biến lại gàn vùng
nguyên liệu và tiêu thị giảm bớt chi phí giao thông.
Tạo điều kiện kết hợp chặt chẽ hơn giữa công nghiệp với nông nghiệp. Áp
dụng những phương pháp công nghiệp vào sản xuất lương thực tiến tới công
nghiệp hóa sản xuất lương thực.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất lương thực
1.3.1.Điều kiện tự nhiên – thiên nhiên
Sản xuất lương thực là ngành chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi điểu kiện tự nhiên
- thiên nhiên do đặc thù của ngành sản xuất này. Một số yếu tố thiên nhiên ảnh
hưởng tới sản xuất lương thực:
1.3.2 Các điều kiện kinh tế - xã hội
a. Vị trí địa lý kinh tế giao thông
Sản xuất lương thực phát triển trước tiên ở những nơi có vị trí địa lý phù hợp
có mạng lưới giao thông hoàn thiện về các loại phương tiện đắc biệt là đường bộ
phát triển điều đó ảnh hưởng tới việc vận chuyển đến các khu chế biến, tiêu thụ
giúp hạ giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
b. Dân cư và nguồn lao động
Sản xuất lương thực được tiến hành ở các vùng lao động dồi dào có thói
quen, kinh nghiệm và truyền thống.
c. Sự phát triển của các ngành sản xuất, hỗ trợ
Sự phát triển sản xuất lương thực không thể thiếu sự phát triển đồng bộ và
cân đối của các ngành sản xuất khác. Cùng với quá trình “công nghiệp hóa sản
xuất nông nghiêp” ta cần gắn các vùng sản xuất lương thực với các vùng công
nghiệp phục vụ sản xuất lương thực như: sản xuất phân bón, máy móc, bảo vệ
thực vật… Đi đôi với nó là công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Cùng với
đó là sự áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nâng cao năng xuất,
sản lượng lương thực. Kết hợp có khoa học việc phân công lao động một cách
hợp lý, tập trung chuyên môn hóa, chuyên canh trong sản xuất điều đó giúp đẩy
nhanh quá trinh công nghiệp hóa nông nghiệp.
d. Sự điều hành của nhà nước
Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đế quá trình phát triển sản xuất lương thực ở
nước ta. Nhà nước điều hành vĩ mô cùng với đó là các vùng các địa phương
cũng có những chính sách hợp lý thúc đẩy sản xuất lương thực. Các yếu tố
thường được nhà nước áp dụng rất hiệu quả như: chính sách đầu tư vào nông
nghiệp, chính sách can thiệp giá cả hợp lý, chính sách tín dụng, chính sách điều
chỉnh cơ cấu sản xuất, chính sách xây dựng và cải tạo các vung sản xuất. Tất ca
đều ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất lương thực.
1.4. Vai trò của xuất khẩu lương thực trên thế giới và Việt Nam đặc biệt
trong cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay
1.4.1. Tầm quan trọng của việc xuất khẩu lương thực trên thế giới và Việt Nam
đẩy sản xuất lương thực từ đó thúc đẩy các ngành công nghiệp phục vụ nông
nghiệp phát triển theo. Xuất khẩu lương thực cũng là một hình thức giúp hoạch
định chính sách phát triển quốc gia một cách hợp lý dựa trên những thế mạnh
sẵn có. Một đất nước đang phát triển như nước ta việc tích lũy của cải vật chất là
hết sức quan trọng cho quá trình phát triển vì vậy tận dụng thế mạnh xuất khẩu
lương thực để tích lũy là hoàn toàn đúng đắn. Song bên cạnh đó ta cũng cần chú
ý đế việc tận dụng việc lương thực thế giới đang tăng giá mà đẩy mạnh sản xuất
lương thực cùng với đó dự trữ để đảm bảo an ninh lương thực trong nước.
Chuyển dịch lao đông chậm từ nông nghiêp sang công nghiệp và dịch vụ đầu tư
mạnh vào nông nghiệp khoa học và tri thức nhằm nâng cao năng xuất và sản
lượng cho lương thực Việt Nam trên thị trường thế giới.
1.4.2. Những tác động từ cuộc khủng hoảng lương thực tới thị trường xuất khẩu
lương thực thế giới và Việt Nam
Cuộc khủng hoảng lương thực đang đặt thế giới và Việt Nam ở trước
những thái cực trái chiều về thị trường xuất khẩu. Số lượng lương thực giao dịch
trên thị trường thế giới ngày càng giảm do các nước có thế mạnh xuất khẩu
lương thực nay phải đối mặt với việc giảm năng xuất và sản lượng do rất nhiều
nguyên nhân mà trong số đó quan trọng nhất là biến đổi khí hậu và lo ngại mất
an ninh lương thực ngay trong chính quốc gia ḿnh. Chính những điều đó khiến
lương thực thế giới ngày càng trở lên bất ổn giá cả leo thang không ngừng ngoài
dự báo và tầm kiểm soát của tổ chức Lương Thực thế giới.
Cuộc khủng hoảng trầm trọng lương thực thế giới đó lại có những tác
động hết sức tích cực đến việc xuất khẩu lương thực của Việt Nam một quốc gia
có đầy đủ các thế mạnh để xuất khẩu lương thực. Giá lương thực tăng cao công
với đó thị trường xuất khẩu lương thực không ngừng được mở rộng đã đưa xuất
khẩu lương thực Việt Nam thay đổi đang kể. Đưa Việt Nam trở thành một trong
những nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới. Đồng thời cuộc khủng hoảng
lương thực thế giới cũng đặt chúng ta trước những thách thức vô cùng to lớn.
Thách thức ấy chính là chúng ta phải cố gắng giữ vị trí xuất khẩu lương
thực(Gạo) hàng đầu thế giới. Đồng thới không ngừng đổi mới thay đổi kĩ thuật
những mối lo ngại trong đó vấn đề bùng nổ dân số và bất ổn an ninh lương thực
đang là mối lo được đặt lên hàng đầu.Theo thống kê trong quá khứ cứ khoảng
1000 năm dân số thế giới lại tăng gấp đôi song từ thế kỷ 18 thời gian đó được
rút ngắn xuống còn 200 năm. Cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 thời gian đó chỉ còn
37 năm. Theo dự báo dân số thế giới sẽ đạt mức 9,2 tỉ người vào năm 2050 vì
vậy để đảm bảo lương thực cho mức dân số trên thế giới cần tăng gấp rưỡi sản
lượng lương thực hiện nay. Bài toán thiếu lương thực không chỉ là bài toán của
mỗi gia đình,mỗi chính phủ mà vấn đề đó đang là nỗi lo trên toàn thế giới. Dân
số thế giới ngày càng tăng song diện tích và sản lượng lương thực trên toàn thế
giới không những có xu thế giữ nguyên mà còn giảm do rất nhiều nguyên
nhân(thiên nhiên và xã hội). Tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa quá
nhanh,thảm họa thiên nhiên xảy ra triền miên và kéo dài ở một số quốc gia như
Trung Quốc, Nga, Mỹ, Ấn Độ… Những nước có diện tích và sản lượng lương
thực hàng đầu thế giới. Điều đó dẫn đến một thực thế diện tích và sản lượng
lương thực thế giới sẽ không tăng trong các năm tới. Thế giới đang phải đứng
trước một cuộc khủng hoảng lương thực trước mắt.
Hiện nay trên thế giới có 5 loai cây lương thực chính là: Lúa mì, lúa gạo,
ngô, sắn và khoai tây trong đó lúa mì, lúa gạo và ngô là 3 loại cây lương thực
chính trên thế giới chiếm khoảng 87% sản lượng lương thực toàn cầu và khoảng
43% calori từ mọi lương thực, thực phẩm. Dưới đây là tình hình sản xuất các
loại cây lương thực chính trên thế giới.
a. Lúa gạo
Lúa gạo hay còn gọi là lúa nước là một trong năm loại cây lương thực
chính của thế giới. Chúng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu
vực Đông Nam Châu Á và Châu Phi. Lúa nước cung cấp 1/5 toàn bộ calo tiêu
thụ bởi người. Theo dự báo của FAO, sản lượng lúa trong năm nay ước đạt 668
triệu tấn thóc, tương đương 446 triệu tấn gạo nhưng đó mới là sản lượng cao thứ
2 kể từ năm 2000, chỉ kém sản lượng kỷ lục năm 2008. Một số nước trọng điểm
sản xuất lúa gạo trên thế giới là Thái Lan và Việt Nam. Hai nước này cũng đồng
thời là hai nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Năng xuất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Lúa mì 223,56 3,08 689,94
Lúa gạo 158,95 4,30 685,01
Ngô 161,01 5,10 822,71
Nguồn: AGROINFO
Trong 10 năm đầu thế kỷ 21 năm 2008 chính là năm mà lương thực thế
giới bội thu về lương thực. Cả diện tích, năng xuất và sản lượng lương thực đều
có mức tăng kỷ lục do gặp rất nhiều thuận lợi về mặt thời tiết. Trong năm 2008
thế giới cũng đạt được mức xuất khẩu lương thực kỷ lục. Đây chính là mốc tăng
mà cả thế giới đáng ghi nhận và cần phát huy để đẩylùi cuộc khúng hoảng lương
thực hiện nay.
Ngoài 3 loại cây lương thực chính kể trên thế giới còn nhiều loại cây
lương thực quan trong khác nó giúp giải quyết nhu cầu lương thực từng khu vực,
vùng miền của nhiều quốc gia trên thế giới. Tùy thuộc vào điều kiên song tự
nhiên mà các loại cây này cũng có những sự phân bố khac nhau trên thế giới.
Các loại cây lương thực khác khá phổ biến như: Khoai Tây là loại cây trồng khá
phổ biến ở Châu Âu nhưng cho đến nay nó đã trở thành loại cây trồng phổ biến
trên khắp thế giới.
Sắn cũng là loại cây lương thực khá phổ biến nó được trồng chủ yếu ở các
nước Đông Nam Á và các nước Châu Phi. Trong đó Thái Lan là nước chiếm
85% sản lượng sắn xuất khẩu. Các cây lương thực trên thế giới không thể không
kể đến khoai Lang đây là loại cây lương thực phân bố trên khắp thế giới, có tới
111 quốc gia trên thế giới trồng sắn. Trong đó các nước đang phát triển chiêm
tới 95% diện tích và sản lượng sắn.
Ba loại cây còn lại trong nhóm các loại cây lương thực phải kể đến đó là
Cao Lương, Đại Mạch và Kê. Tuy xét về cả diện tích và sản lượng chúng không
thể so sanh với các loại cây lương thực khác song nó cũng đóng một vai trò khá
Bước sang thế kỷ 21 cùng với những vấn đề bất ổn về mọi mặt của thế giới
như kinh tế, chính trị và xã hội. Cộng thêm vấn đề bất ổn về an ninh lương thực
đang đặt thế giới trước những mối quan tâm nóng bỏng cần giải quyết. Người ta
thông kê trên thế giới cứ 10 người thì lại có 1 người thiếu đói tỉ lệ này trong xã
hội phát triển ngày nay không những giảm mà ngày càng có xu hướng tăng lên.
Từ năm 1985 đến nay con số người thiếu đói đã tăng thêm 40 triệu người. Ngoài
số lượng người thiếu đói kinh liên thế giới còn có thêm khoảng 500 triệu người
thiếu ăn. Ở lục địa đen khoảng 4/5 số nước ở châu lục này thường xuyên phải
đối mặt với tình trạng thiếu đói một cách trầm trọng. Điều này càng làm tăng lên
gánh nặng về lương thực cho thế giới. Mỗi năm thế giới phải chi khoảng 200 tỉ
USD cho việc xuất khẩu lương thực. Những điều trên được lý giải do các nước
phát triển đang đánh mất cơ cấu trong ngành kinh tế đề cao các ngành công
nghiệp và dịch vụ và dần bỏ việc trú trọng đầu tư cho nông nghiệp. Tình trạng
thiên tai hạn hán liên miên cũng làm giảm sút nghiêm trọng về sản lượng lương
thực toàn thế giới. Diện tích canh tác nông nghiệp ngày càng thu hẹp để nhừng
chỗ cho các dự án công nghiệp và dịch vụ. Hiện nay gánh năng về lương thực
không được các nước trên thế giới chung tay giải quyết mà nó được đặt vào vai
các nước đang phát triển. Cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay đã tác động rất
xuất tới tình hình xuất khẩu lương thực của thế giới. Một số nước do lo ngại tình
trạng thiếu hụt lương thực đã cấm xuất khẩu lương thực cộng với đó các nước
còn mua thêm lương thực để dự trữ. Các nước xuất khẩu lương thực hàng đầu
thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ, Thái Lan và Việt Nam các nước hầu
hết đều hạn chế xuất khẩu lương thực do biến đổi bất thường của thời tiết dẫn
đến giảm mạnh về sản lượng. Tình trạng hạn hán kéo dài ở Trung quốc và Nga
lũ lụt ở Mỹ đều tác động rất mạnh mẽ tới thị trường xuất khẩu lương thực thế
giới. Thực trạng xuất nhập khẩu chủ yếu diễn ra ở 3 loại cây lương thực chính
của thế giới là: Lúa mì, lúa gạo và ngô.
a. Lúa mì
Lúa mì là loại lương thực chính của thế giới, lúa mì cũng là loại lương
thực có hoạt đông xuất nhâp khẩu diễn ra khá nhộn nhịp trên thế giới do các
Đông
6,33 20,27 9,65 0,55 6,07
Bắc phi 9,99 13,78 16,95 0,16 6,69
Pakistan 3,01 21,80 0,15 0,60 2,36
ASEAN 1,81 00 10,25 0,43 1,69
Ấn Độ 3,50 73,70 3,00 0,05 4,50
Nga 2,61 45,00 1,20 10,50 2,30
Kazakhstan 4,50 12,50 0,22 5,50 3,71
Ukraine 2,19 14,00 0,01 2,50 2,30
FSU-12 13,47 84,59 4,18 18,69 11,43
Trong bảng số liệu trên ta thấy hoạt đông xuất nhập khẩu lúa mì của thế
giới trong năm 2007-2008 diễn ra hết sức sôi đông. Hầu hết các nước sản xuất
lúa mì lớn cũng là những nước tham gia sôi động vào hoạt động xuất nhập khẩu
lúa mì. Các nước đầu vụ sẽ cân đối lượng tiêu dùng nội địa và xem xét tình hình
biến động thị trường lúa mì thế giới sau đó các quốc gia này sẽ quyết định xuất
khẩu để thu lợi. Trong bảng số liệu trên ta nhận thấy 2 cường quốc về lúa mì của
thế giới là Nga, Trung quốc đều nằm trong nhóm các nước nhập khẩu lớn điều
này lý giải sự lo ngại về thiếu hụt về lương thực của quốc gia mình. Nga do hạn
hán kéo dài giảm mạnh về năng xuất và sản lượng. Nga đã ban hành lệnh cấm
xuất khẩu lúa mì trong những năm gần đây. Trung Quốc là quốc gia có sản
lượng lúa mì nhưng cũng do ảnh hưởng của thiên tai và dân số quá đông nên
nhu cầu nhập khẩu lương thực ngày càng tăng. Hạn hán mấy tháng gần đây, làm
sản lượng lúa mì của Trung Quốc giảm ảnh hướng tới sản lượng chung của thế
giới dẫn đến lúa giá lúa mì ngày càng tăng.
a. Ngô
Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới đứng thứ 3 sau lúa mì và
gạo. Sản lượng sản xuất ngô trên thế giới trung bình hàng năm từ 696,2 đến
723,3 triệu tấn(2005-2007). Trong đó Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản lượng ngô
toàn thế giới còn lại 59,38% do các nước khác sản xuất. suất trong thập liên đầu
của thế kỷ 21 Mỹ đã độc chiếm ngôi vị số 1 trên thị trường ngô thế giới.
Lúa gạo là cây lương thực quan trong thứ 2 trên thế giới chỉ đứng sau lúa
mì. Tuy lượng gạo thế giới giao dịch trên thế giới chỉ băng 1/5 lượng giao dịch
lúa mì trên thế giới song những năm gần đây thế giới phải đối mặt với cuộc
khủng hoảng lương thực bên cạnh đó là tình trạng thất thường của thiên tai
khiến các nước sản xuất lúa mì phải thay đổi chính sách lương thực của quốc gia
mình điều này ảnh hưởng rất lớn đế thị trường xuất khẩu gạo của thế giới. Nga
ra sắc lệnh cấm xuất khẩu ngũ cốc tới hết năm 2011 đáp lại động thái đó của
Nga một số nước xuất khẩu lương thực lớn như Trung Quốc và Ấn Độ cũng dè
chừng trong việc xuất khẩu lương thực do lo ngại thiếu hụt lương thực quốc gia.
Những điều trên đã đẩy nhu cầu lương thực thế giới quay sang lúa gạo đẩy giá
gạo của thế giới tăng nhanh. 2 quốc gia xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới là
Thái Lan và Việt Nam đang gánh trên vai 50% lượng gạo xuất khẩu trên toàn