LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin trích
dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ
Đào Thị Thu Huyền
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, đến nay luận văn thạc sĩ kinh tế môi trường
“Nghiên cứu hàng rào xanh của thị trường EU đối với hàng hóa thủy sản xuất khẩu
của Việt Nam và định hướng cho phát triển thủy sản bền vững” của tôi đã được
hoàn thành.
Trước hết tôi xin được trình bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TSKH
Nguyễn Trung Dũng (Trường Đại học Thủy lợi), và PGS.TS Đặng Tùng Hoa
(Trường Đại học Thủy Lợi), đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Thủy lợi đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những
2001 - 2008 58
Hình: 3.1 Dự báo cung cầu thủy sản thế giới từ FAO 82
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn lợi thủy sản Việt Nam 19
Bảng 1.2: Số liệu kết quả sản xuất, kinh doanh thủy sản (2000 - 2007) 23
Bảng 1.3: Hàm lượng chất dinh dưỡng của thủy sản (Đơn vị %) 28
Bảng 2.1: Các trung tâm thu mua lớn ở châu Âu 42
Bảng 2.3 Xuất khẩu cá tra sang thị trường EU từ 2008 - Quý I/2012 48
Bảng 2.4 Xuất khẩu tôm sang các thị trường chính của EU năm 2012 54
Bảng 3.1: Dự báo cung - cầu nguyên liệu thủy sản ở trong nước đến năm 2020 84
Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu nguyên liệu cho chế biến thủy sản đến năm 2020 85
Bảng 3.3: Dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đến năm 2020 86
HACCP Hệ thống kiểm soát mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
NAFIQAD Cục quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản
NK Nhập khẩu
MSC Hội đồng quản lý biển
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
RASFF Hệ thống cảnh báo nhanh về thực phẩm
SA Trách nhiệm xã hội
XK Xuất khẩu
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO XANH CỦA EU VÀ NGÀNH
THỦY SẢN VIỆT NAM 1
1.1 Tổng quan về hàng rào xanh của EU 1
1.1.1 Khái niệm về hàng rào xanh của EU 1
1.1.2. Những quy định về môi trường của EU áp dụng với hàng thủy sản nhập khẩu
1
1.1.3. Các tiêu chuẩn về môi trường của EU ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam 9
1.1.4. Sự cần thiết của việc nghiên cứu “ Hàng rào xanh” của EU 17
1.2. Tổng quan về ngành thủy sản Việt Nam 18
1.2.1. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam 18
1.2.2. Vài nét về ngành thủy sản Việt Nam 20
1.2.3. Vị trí, vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân 28
1.2.4. Tiềm năng phát triển thủy sản Việt Nam 30
1.2.5. Một số yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 34
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG
3.3.2. Các giải pháp vi mô 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93 MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam có một tiềm năng rất lớn về thủy sản (cả nước ngọt và nước mặn),
do đó có nhiều điều kiện để thuận lợi để phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản tạo ra nguồn cung nguyên liệu dồi dào cho ngành chế biến thủy sản phục vụ nhu
cầu trong nước và xuất khẩu. Nhờ vậy, xuất khẩu thủy sản đã trở thành một trong
những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế mang lại nguồn ngoại tệ
lớn cho đất nước và luôn nằm trong danh sách những ngành có giá trị xuất khẩu
hàng đầu của Việt Nam, tạo nguồn thu nhập đáng kể cho nông – ngư dân và các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Theo thống kế của Cục hải quan Việt Nam, năm 2010 cả nước xuất khẩu
được 1,353 triệu tấn thủy sản trị giá 5,034 tỉ đô la, tăng 11,3% về khối lượng và
18,4% về giá trị so với năm 2009. Trong hai tháng đầu năm 2011 xuất khẩu thủy
sản Việt Nam đạt 835 triệu USD, tăng 54,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong số
các thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu của Việt Nam, thị trường EU đóng một
vai trò quan trọng (http://www.hbse.com.vn).
Đặc biệt, hiện nay vấn đề về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mỗi
người nói riêng và mỗi quốc gia nói chung là rất quan trọng. Chính vì vậy cần phải
có một biện pháp, một hàng rào kỹ thuật trong thương mại để ngăn chặn hàng xuất
khẩu. Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu
chuẩn chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng
hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, các vấn đề liên quan tới ghi nhãn, vận
chuyển, bảo quản hàng hóa. Chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy
- Các báo cáo tổng kết của bộ thủy sản.
- Các báo cáo nghiên cứu có liên quan.
Phương pháp phân tích:
- Phương pháp mô tả.
- Phương pháp dự báo kinh tế.
- Phương pháp tần số đơn giản
Phương pháp chuyên gia:
- Trực tiếp gặp gỡ hai chuyên gia ngành thủy sản bàn về vấn đề xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU.
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO XANH CỦA EU VÀ NGÀNH
THỦY SẢN VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về hàng rào xanh của EU
1.1.1 Khái niệm về hàng rào xanh của EU
Hàng rào xanh còn gọi là hàng rào về môi trường là những quy định về môi
trường mà nước nhập khẩu áp dụng với hàng hóa nhập khẩu vào nước mình nhằm
hạn chế tác động xấu của việc sản xuất và sử dụng hàng hóa tới môi trường, bảo vệ
người tiêu dùng trong nước, và tạo điều kiện khuyến khích hàng hóa trong nước
(http://www.slideshare.net).
EU dựa vào hiệp định toàn cầu, đặc biệt trong chương trình nghị sự 21 Hội
nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển, được tổ chức ở
Rio de janeiro năm 1992 tại Brazin.
1.1.2. Những quy định về môi trường của EU áp dụng với hàng thủy sản nhập
khẩu
1.1.2.1 Quy định về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm
23T Khái niệm23T 23THACCP23T (Hazarrd Analysis and Crictical Control Point) 23Tđược nêu
dụng quy định HACCP để đảm bảo sản xuất, chế biến thực phẩm an toàn. Năm
1997, EU đã công bố bắt buộc áp dụng hệ thống HACCP đối với các doanh nghiệp
sản xuất thực phẩm ở các nước thứ 3 muốn xuất khẩu sản phẩm sang châu Âu. Và
cuối những năm 1990, Việt Nam đã bắt đầu áp dụng quy định HACCP trong các
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang các thị trường EU, Mỹ, Nhật
Mục đích của HACCP
HACCP giúp doanh nghiệp chế biến, sản xuất thực phẩm tự đổi mới về
phương pháp kiểm soát quát trình sản xuất, để có những sản phẩm thực phẩm an
toàn, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường EU nói riêng, và thị trường
các nước, và trong nước nói chung.
Nguyên tắc của HACCP (Tiêu chuẩn của CODEX số hiệu CAC/RCP 1-
1969, Rev,
27TTCVN 5603:200827T.)
Tuân thủ 8 nguyên tắc của Quản lý chất lượng
- Nguyên tắc 1: Định hướng vào khách hàng.
- Nguyên tắc 2: Vai trò của Lãnh đạo.
- Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
- Nguyên tắc 4: Tiếp cận theo quá trình.
- Nguyên tắc 5: Phương pháp hệ thống.
- Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
- Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
- Nguyên tắc 8: Hợp tác cùng có lợi với nhà cung ứng.
Nội dung của HACCP
Nội dung của hệ thống gồm 7 nguyên tắc áp dụng:
Nguyên tắc 1: Phân tích mối nguy và xác định các biện pháp phòng ngừa: là
quá trình thu thập, lập danh sách tất cả các mối nguy có thể hiện diện hoặc tiềm ẩn
4
Nguyên tắc 4 - Giám sát các điểm kiểm soát tới hạn: Giám sát là đo lường hay
quan trắc theo lịch trình các thông số của điểm kiểm soát tới hạn CCP, so sánh
chúng với các giới hạn tới hạn đã có. Việc giám sát phải thực hiện đúng thủ tục đã
đề ra nhằm đảm bảo quá trình sản xuất được kiểm soát, ngăn ngừa sự vi phạm các
ngưỡng tới hạn.
Nguyên tắc 5 - Thiết lập hành động khắc phục- phòng ngừa cần tiến hành khi
giới hạn tới hạn bị vi phạm: Hành động khắc phục là các tuân thủ phải thực hiện
ngay khi kết quả giám sát sai lệch với giới hạn tới hạn tại một điểm kiểm soát tới
hạn CCP, nhằm điều chỉnh quá trình trở lại giới hạn tới hạn. Hành động phòng ngừa
là các thủ tục phải thực hiện nhằm ngăn ngừa sự sai lệch với giới hạn tới hạn lại tiếp
tục xảy ra.
Nguyên tắc 6 - Thiết lập các thủ tục thẩm tra: Là áp dụng các phương pháp thủ
tục, thử nghiệm mẫu và các hình thức giám sát, đánh giá khác nhau nhằm xác định:
kế hoạch HACCP đã được xây dựng là phù hợp với mục tiêu mong muốn; quá trình
sản xuất phù hợp với kế hoạch HACCP.
Nguyên tắc 7 - Thiết lập hệ thống lưu trữ hồ sơ: Các thủ tục của kế hoạch
HACCP phải được lập thành văn bản. Hồ sơ của quá trình sản xuất được kiểm soát
theo kế hoạch HACCP phải được lưu giữ đầy đủ. Tài liệu và hồ sơ này nhằm chứng
mình kế hoạch HACCP có hiệu quả và giúp cho việc thực hiện, duy trì, cải tiến kế
hoạch HACCP.
1.1.2.2 Các yêu cầu về nhãn mác
Hiện EU đang thực hiện chương trình dán nhãn sinh thái (ECO - LABED).
Mục đích của chương trình là phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Thủy sản là một trong các mặt hàng thuộc chương trình nhãn hiệu cho thực phẩm có
nguồn gốc hữu cơ. Chương trình này áp dụng cho cả thủy sản được sản xuất trong
định số 104/2000 (EC) và các quy định dán nhãn đặc thù đối với hàng thủy sản theo
quy định số 2406/96 (EC).
Thêm vào đó, những sản phẩm thủy sản nhất định phải tuân thủ những tiêu
chuẩn thị trường theo quy định số 2406/96 (EC). Quy định này yêu cầu những lô
hàng phải có cùng kích cỡ và độ tươi đồng nhất. Hạng mục độ tươi, kích cỡ và hình
thức trình bày phải được thể hiện rõ trên nhãn mác đính trên lô đó. Những tiêu
6
chuẩn này tạo thuận lợi cho việc ấn định mức giá chung cho từng hạng mục sản
phẩm và xác định mức độ chất lượng.
Thông tin mà nhãn mác cung cấp phải dễ hiểu, dễ nhìn thấy, dễ đọc và phải
bằng ngôn ngữ của nước thành viên nơi sản phẩm đó được bán.
Việc phát triển nhãn mác và thương hiệu cho các sản phẩm Việt Nam, đặc biệt
là các sản phẩm thủy sản, đã được quan tâm chú trọng phát triển trong những năm
gần đây. Điều này góp phần cải thiện rõ rệt giá trị và hình ảnh của thủy sản Việt
Nam trên thị trường thế giới, và trong nước. Tuy nhiên, có một thực tế hiện rất
nhiều các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đang mắc phải là chưa thực sự
quan tâm đầu tư cho chiến lược chất lượng sản phẩm, gắn liền với xây dựng thương
hiệu và quảng bá sản phẩm, mẫu mã còn đơn điệu, bao bì của hàng thủy sản còn quá
sơ sài. Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam tại thị
trường EU, các doan nghiệp cần tăng cường đầu tư cho việc xây dựng thương hiệu
hàng thủy sản, đặc biệt về đăng ký thương hiệu, thiết kế nhãn mác và mẫu mã, bao
bì cho sản phẩm, liên kết với người sản xuất nguyên liệu đăng ký xuất xứ hàng hóa
đảm bảo các yêu cầu cần thiết khi xuất khẩu hàng hóa sang EU.
1.1.2.3 Bao bì và phế thải bao bì
Trong vấn đề quản lý bao bì và chất phế thải bao bì, liên mình châu Âu quy
định rất chặt chẽ trong chỉ thị 94/62/EEC. Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang EU
cách làm để nó có thể chiếm một tỷ lệ phần trăm khối lượng vật liệu được dùng vào
việc sản xuất thành những sản phẩm có thể bán được, chỉ cốt sao phù hợp với các
tiêu chuẩn hiện hành của châu Âu. Với những yêu cầu trên của Liên minh Châu Âu
các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển nói chung, các nhà xuất khẩu Việt
Nam nói riêng phải nắm được những yêu cầu này để trở thành và tiếp tục làm đối
tác thương mại của doanh nghiệp EU. Các nhà xuất khẩu phải đảm bảo thực hiện tốt
các yêu cầu về môi trường, nghĩa là bao bì (Bao bì vận chuyển, bao bì thương
mại ) phải được giới hạn và có thể tái chế. Mức giới hạn đối với một số hóa chất
sử dụng trong sản xuất bao bì.
+ Quy định về bao bì và phế thải bao bì, hiện đã được chuyển vào luật quốc
gia của các nước thành viên EU. Tuy nhiên, việc thi hành chỉ thị trên thực tế có thể
dưới những hình thức khác nhau.
Hiện nay, chương trình phế thải bao bì được thực hiện có hiệu quả nhất ở
Châu Âu gọi là “Grenn Dot’’ của Đức (http://www.tinthuongmai.vn). Tại Đức các
8
ngành thương mại và công nghiệp buộc phải thu hồi các nguyên liệu bao bì để tái sử
dụng hoặc tái chế. Quy định này cũng có hiệu lực đối với hàng nhập khẩu. Ký hiệu
xanh đã trở thành biểu tượng của hệ thống tái chế và tái sử dụng phế thải bao bì của
Đức. Để được in ký hiệu xanh trên bao bì, doanh nghiệp liên quan phải chi một
khoản lệ phí và việc này được thực hiện trên hợp đồng. Trong trường hợp các nhà
xuất khẩu từ chối thu hồi bao bì sẽ không được phép sử dụng ký hiệu xanh. Ngoài
việc phải gánh chịu hậu quả pháp lý, trong mặt người tiêu dùng, có thể họ còn bị
xem là vô trách nhiệm đối với môi trường, và bị khách hàng tẩy chay sản phẩm. Ký
hiệu xanh cũng được sử dụng ở Pháp và Bỉ. Chính vì vậy, muốn đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản sang EU, các doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ quy định về bao
bì và phế thải bao bì của EU. Việc tuân thủ quy định này không chỉ giúp các doanh
phẩm, Ủy ban Châu Âu sẽ có các biện pháp trừng phạt: trả lại hàng, tiêu hủy hàng,
cấm hoặc hạn chế xuất khẩu, kiểm tra 100% các lô hàng thực phẩm xuất khẩu vào
EU.
Quy định kiểm tra thú y đối với hàng thủy sản chỉ rõ yêu cầu cụ thể về mặt vệ
sinh thực phẩm đối với việc sản xuất và đưa thủy sản vào thị trường EU. Quy định
này kiểm soát toàn bộ các khâu từ nuôi trồng, khai thác, chế biến, vận chuyển đến
tiêu thụ. Trong các khâu trên thì nuôi trồng, khai thác, chế biến và vận chuyển có
ảnh hưởng tới môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Nếu hàng nhập khẩu
của bất kỳ quốc gia nào bị một nước thành viên EU phát hiện có vấn đề về chất
lượng lập tức sẽ bị đưa lên hệ thống cảnh báo nhanh về thực phẩm (RASFF) cho tất
cả các thành viên khác. Từ đó EU có những biện pháp cấm hoặc hạn chế nhập khẩu
riêng đối với từng trường hợp vi phạm cụ thể.
Theo quy định mới, từ ngày 1/1/2010, thủy sản nhập khẩu vào EU phải phù
hợp với quy định IUU (Illegal unreported and unregulated fishing – luật phải chứng
minh được nguồn gốc thủy sản). Theo đó các lô hàng phải có thông tin từ tên tàu
khai thác, tên chủ tàu, phương tiện đánh bắt và vùng biển khai thác, loại sản phẩm
và trọng lượng, giấy khai báo chuyến hàng trên biển, trong khu vực cảng, tàu tiếp
nhận hoặc đơn vị tiếp nhận trong cảng Như vậy để xuất khẩu vào EU, doanh
nghiệp không thể sử dụng các lô hàng hải sản không rõ nguồn gốc, không đủ chứng
từ.
1.1.3. Các tiêu chuẩn về môi trường của EU ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam
10
1.1.3.1 Nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái là một loại nhãn được cấp cho những sản phẩm thỏa mãn một
số tiêu chí nhất định do một cơ quan chính phủ, hoặc một tổ chức chính phủ ủy
11
phẩm do nhà sản xuất hoặc các đại lý bán lẻ quyết định. Công bố loại này phải đáp
ứng được một số yêu cầu cụ thể như: phải chính xác và không gây nhầm lẫn, được
minh chứng và được kiểm tra, xác nhận, tương ứng với sản phẩm cụ thể và chỉ được
sử dụng trong hoàn cảnh thích hợp hoặc đã định, không gây ra sự diễn giải sai…
Còn đối với việc lựa chọn biểu tượng đặc trưng dựa trên cơ sở chúng đã được thừa
nhận hoặc sử dụng rộng rãi, ví dụ như vòng Mobius, dùng cho các công bố về hàm
lượng tái chế hoặc tái chế được.
ISO 14025 (Nhãn loại III/Công bố môi trường kiểu III): Bao gồm các thông
tin định lượng về sản phẩm dựa trên đánh giá chu trình sống của sản phẩm. Mục
đích chính là cung cấp dữ liệu môi trường được định lượng và có thể được dùng để
thể hiện sự so sánh giữa các sản phẩm. Cũng giống với nhãn kiểu I là việc công bố
phải được bên thứ ba công nhận nhưng các thông số môi trường của sản phẩm còn
phải được thông báo rộng rãi trong báo cáo kỹ thuật (http://vi.wikipedia.org).
Điểm chung của cả ba loại này là đều phải tuân thủ 9 nguyên tắc được nêu
trong tiêu chuẩn ISO 14020:1998 (nguyên tắc về tiêu chuẩn đánh giá, các điều
khoản áp dụng, thủ tục,
27Tphương pháp27T…) trong đó, điểm mấu chốt là các thông tin
đưa ra phải khoa học, chính xác và dựa trên kết quả của quá trình đánh giá vòng đời
sản phẩm, các thủ tục phải không cản trở cho hoạt động
27Tthương mại quốc tế27T.
Nhãn sinh thái MSC được cấp bởi tổ chức phi lợi nhuận quốc tể MSC. Tại
thị trường EU, nhãn sinh thái MSC được sử dụng trên các sản phẩm từ cá và thủy
sản ngày càng được ưa chuộng. Theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Hội
đồng quản lý biên (MSC) thực hiện vào năm 2012, hiện có 30% số người tiêu thụ
thủy sản ít nhất 2 tuần/lần tại EU biết đến nhãn sinh thái MSC. Và nhận thức của
người tiêu dùng châu Âu về nhãn MSC ngày càng tăng qua các năm. Tại Đức 55%
người tiêu dùng biết đến MSC (năm 2010 là 36%), 44% tại Hà Lan (34% năm
2010), 38% tại Thụy Điển (28% năm 2010), 31% tại Anh (18% năm 2010), Pháp
MSC (Marine Steawardship Council) - Hội đồng quản lý biên. Đây là một tổ
chức quốc tế phi chính phủ được thành lập để khuyến khích các vùng khai thác thủy
sản bền vững và thực hành nghề cá có trách nhiệm trên toàn thế giới thông qua các
giải pháp thị trường dài hạn, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu cả về môi trường
và thương mại.
Sản phẩm thủy sản sử dụng nhãn MSC đảm bảo được khai thác từ một ngư
trường bền vững, được quản lý tốt và được khai thác một cách có trách nhiệm. Hiện
13
nay, MSC là một trong số các nhãn sinh thái uy tín trên thế giới, nó giúp chứng
nhận các ngành ngư nghiệp bền vững. Cùng với ASC, MSC có giá trị như một giấy
thông hành, đảm bảo phát triển thủy sản an toàn và là thương hiệu bảo hộ cho các
sản phẩm thủy sản trên thế giới nói chung, và sản phẩm thủy sản Việt Nam nói
riêng. Tiêu chuẩn MSC CoC bao gồm các yêu cầu đối với hệ thống kiểm soát bằng
tài liệu, khả năng nhận biết và truy tìm nguồn gốc sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, và
lưu trữ hồ sơ. Việc đạt được chứng nhận MSC Coc giúp các doanh nghiệp đáp ứng
được các yêu cầu truy xuất nguồn từ thị trường EU. Những sản phẩm đạt chứng
nhận ASC sau khi được cấp chứng chỉ MSC Coc, sẽ được thị trường thế giới, đặc
biệt là thị trường Châu Âu đón nhận.
Lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn ASC, MSC CoC
Khẳng định với người tiêu dùng về thủy sản được nuôi trồng theo phương
pháp thực hành nông nghiệp tốt và các sản phẩm thủy sản chế biến, phân phối, dự
trữ được truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn ASC, MSC CoC đảm bảo vệ sinh, an
toàn thực phẩm, dễ dàng thâm nhập vào siêu thị, nhà hàng cao cấp, và xuất khẩu
sang các thị trường khó tính như EU. Từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại
giá trị lớn cho doanh nghiệp.
thực phẩm. Khi đưa vào áp dụng tiêu chuẩn Global GAP các tổ chức phải thực hiện
các yêu cầu sau:
Các nhà sản xuất phải thiết lập một hệ thống kiểm tra và giám sát an toàn
thực phẩm xuyên suốt bắt đầu từ khâu sửa soạn nông trại canh tác đến khâu thu
hoạch, chế biến, và bảo quản.
Phải ghi chép lại toàn bộ quá trình sản xuất, bắt đầu từ khâu xuống giống đến
khi thu hoạch và bảo quản để phòng ngừa khi xảy ra sự cố như ngộ độc thực phẩm
hay dư lượng hóa chất vượt ngưỡng cho phép và có thể truy nguyên được nguồn
gốc.
Trọ
ng tâm của Global GAP là an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc,
nhưng bên cạnh đó nó cũng đề cập đến các vấn đề khác như an toàn, sức khỏe, và
phúc lợi cho người lao động và bảo vệ môi trường.
Lợi ích của việc áp dụng tiêu chuẩn Global GAP
Tạo niềm tin cho khách hàng, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị
trường. Đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về an toàn, vệ sinh thực phẩm của thị
trường.
15
Việc được cấp chứng nhận Global GAP là cam kết đảm bảo về an toàn chất
lượng và liên tục cải tiến nhằm sẵn sàng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng.
Global GAP giúp nhà sản xuất phản ứng kịp thời các vấn đề trong sản xuất
liên quan đến an toàn, vệ sinh thực phẩm thông qua việc kiểm soát sản xuất từ khâu
xuống giống tời khâu thu hoạch. Giảm thiểu chi phí, và rủi ro phát sinh trong quá
trình nuôi trồng, thu hoạch, chế biến, bảo quản, và tiêu thụ hàng hóa. Nâng cao chất
lượng hàng hóa.
- Thực hiện và điều hành
- Kiểm tra và khắc phục
- Xem xét của lãnh đạo.
Để có thể áp dụng thành công hệ thống quản lý môi trường, các doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản cần phải thiết lập chính sách môi trường, đồng thời tiến hành
nhận diện các tác động tới môi trường gây nên bởi mọi hoạt động, sản phẩm/dịch vụ
của doanh nghiệp. Bước tiếp theo cần thiết lập các mục tiêu, chỉ tiêu môi trường và
các chương trình quản lý môi trường để đạt được các mục tiêu và chỉ tiêu đó. Trong
quá trình thực hiện để đạt được hiệu quả cao, các doanh nghiệp cần định kỳ tiến
hành kiểm tra đánh giá hiệu quả của việc thực hiện và đề xuất các phương án cải
tiến cho phù hợp.
Lợi ích của việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001
Về mặt thị trường:
- Nâng cao uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp với khách hàng,
- Nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động
môi trường.
- Phát triển bền vững nhờ đáp ứng các yêu cầu của cơ quan quản lý môi trường
và cộng đồng xung quanh.
Về mặt kinh tế:
- Giảm thiểu mức sử dụng tài nguyên và nguyên liệu đầu vào,
- Giảm thiểu mức sử dụng năng lượng,
- Nâng cao hiệu suất các quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ,
- Giảm thiểu lượng rác thải tạo ra và chi phí xử lý,
- Tái sử dụng các nguồn lực/tài nguyên,
- Tránh các khoản tiền ph
ạt về vi phạm yêu cầu pháp luật về môi trường,