Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
1.4.1. Lý do sử dụng rào cản thương mại ....................................................................... 33
Mặc dù nhiều học thuyết đã chứng minh: trong hầu hết các trường hợp, những rào cản
thương mại đều làm giảm phúc lợi tổng thể của cả xã hội, nhưng vẫn được các quốc gia
sử dụng. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải kể tới việc chính phủ muốn
phân phối lại phúc lợi của xã hội. Xã hội được nhắc tới ở đây được chia làm ba nhóm
chính: các nhà sản xuất, những người tiêu dùng, và chính phủ. Để tạo ra nguồn thu
nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính mình, các chính phủ thường dựa vào thuế
quan nhập khẩu và các nguồn thu từ rào cản thương mại nhằm tăng nguồn thu cho ngân
sách. Việc đánh thuế vào hàng hoá tạo ra nguồn thu dễ dàng hơn là đánh thuế thu nhập,
cũng như thuế doanh thu từ các cửa hàng bán lẻ. Đồng thời, nó cũng không tạo ra sự
bất bình của người dân trong nước. ................................................................................. 33
1.4.2. Xu hướng sử dụng các rào cản ............................................................................. 35
3.1.Những cơ hội, thách thức của ngành thuỷ sản khi Việt Nam đã gia nhập WTO .........59
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế đang được các quốc gia trên thế giới coi là giải pháp tất yếu
để đẩy mạnh và tháo gỡ những khó khăn của vấn đề tăng trưởng kinh tế. Nó có thể
giúp các quốc gia vừa khai thác được những ưu thế sẵn có trong nước cũng như tận
dụng được lợi thế từ bên ngoài như: thị trường, vốn, công nghệ và phương pháp quản
lý tiên tiến.Cùng hòa mình với xu thế chung đó của thế giới, sau năm 1986, Việt Nam
không ngừng tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế và hiện nay đã là thành viên
của rất nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như ASEAN, AFTA, ASEM,
APEC, UNIDO...Đặc biệt, gần đây nhất, ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Gia nhập WTO
thực sự là một bước ngoặt lớn với Việt Nam, nó cho phép Việt Nam thực sự tham gia
vào nhịp sống chung của kinh tế thế giới, được tiếp cận với môi trường thương mại
có quy mô toàn cầu. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam có được vị thế bình đẳng trong
việc hoạch định các chính sách thương mại, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất
nước, của doanh nghiệp.
thương mại của Mỹ đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu từ Việt Nam và giải pháp
để vượt qua các rào cản đó ” được chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích: Đề tài được chọn nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn về các rào cản
phi thuế quan trong thương mại của Mỹ đối với hàng xuất khẩu nói chung và thuỷ
sản xuất khẩu nói riêng từ Việt Nam, nhằm giải đáp câu hỏi:làm thế nào để vượt qua
được các rào cản khó tính này. Đồng thời kiến nghị một số giải pháp để khắc phục
vấn đề này.
3. Đối tượng : Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các rào cản phi thuế quan
của thị trường Mỹ: các quy định về kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về
dán nhãn, quy trình nhập khẩu, quy định bảo vệ môi trường, các quy định chống bán
phá giá, áp thuế bán phá giá . . .; tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị
trường Mỹ; những thách thức đối với thuỷ sản tại thị trường này, sự kiện một số
lượng tôm, cá tra basa xuất khẩu bị áp thuế chống bán phá giá
4. Phạm vi: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các rào cản phi thuế quan của Mỹ
đối với mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu từ Việt Nam giai đoạn 1998- 2007.
5. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp được sử dụng chủ yếu đề
nghiên cứu: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh. . .
Nguồn thông tin sử dụng trong chuyên đề được thu thập từ: các tạp chí của
ngành thuỷ sản, trên Internet, các sách báo có liên quan khác. . .
6. Kết cấu bài viết
Ngoài lời mở đầu và kết luận, toàn bộ nội dung của bài viết được chia làm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rào cản phi thuế quan và sự cần thiết phải
vượt qua các rào cản này
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng hàng rào phi thuế quan của Mỹ với các sản phẩm
xuất khẩu thủy sản của nước ta
Chương 3: Phương hướng, giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan
nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ
.
Nghiên cứu của PECC (Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương) năm 1995
mô tả “các hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vào thương
mại bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước”. (theo nghiên cứu của tiến sĩ
Nguyễn Hữu Khải- Hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế)
Các hàng rào phi thuế quan không nên được xem như một sự đồng nghĩa với
các biện pháp phi thuế quan, mà nên coi là tập hợp một số biện pháp phi thuế quan.
Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan, song không
phải tất cả các biện pháp phi thuế quan là các hàng rào phi thuế quan. Các biện pháp
phi thuế quan có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là
rào cản với thương mại. Chính phủ cũng thường dùng thuật ngữ có vẻ trung lập này
để mô tả những biện pháp được sử dụng để quản lý nhập khẩu với mục đích hợp
pháp (ví dụ các thủ tục bảo đảm thực vật được quốc tế công nhận).
Trong thực tế, việc xác định những biện pháp phi thuế quan nào là các hàng rào
phi thuế quan khá khó khăn. Mục đích sử dụng các công cụ, chính sách là quan trọng,
song có những chính sách, biện pháp mà tác dụng của chúng không thể được xác
Chuyên đề tốt nghiệp
định, nếu không có sự điều tra kỹ lưỡng về kết quả, bản chất và hoạt động thực sự
của chúng.
Các hàng rào phi thuế quan là một tập hợp thay thế của các biện pháp phi thuế
quan. Các biện pháp phi thuế quan phải có mục đích bảo vệ sản xuất trong nươc và
không được chấp nhận như một phương sách điều chỉnh chính thống trên phạm vi
quốc tế (như các hạn chế kiểm dịch).
Bên cạnh các định nghĩa đã đề cập đến, theo WTO (tổ chức thương mại quốc
tế): “Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc
ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước” (theo nghiên cứu của tiến sĩ
Nguyễn Hữu Khải- Hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế)
Từ đó, WTO xây dựng về hàng rào phi thuế quan như sau: “Hàng rào phi thuế
quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà
không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, thuật ngữ rào cản hay hàng rào, biện pháp
• Cấm trên cơ sở nguồn gốc (cấm vận)
• Cấm đối với hạng mục sản phẩm nhạy cảm
b. Quản lý bằng hạn ngạch
Chuyên đề tốt nghiệp
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng
nào đó được nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó, trong một thời gian
nhất định.
• Hạn ngạch toàn cầu
- Không xác định
- Xác định đối với các thành phần xuất khẩu
• Hạn ngạch song phương
• Hạn ngạch theo mùa
• Hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu
• Hạn ngạch liên quan đến bán hàng hóa nội địa
• Hạn ngạch của các hạng mục sản phẩm nhạy cảm
c. Cấp phép không tự động
Được xác định như là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ
cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới
mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để
được phép nhập khẩu.
• Giấy phép không có tiêu chuẩn thanh toán cụ thể
• Giấy phép đối với người mua chọn lọc
• Giấy phép đối với việc sử dụng cụ thể:
- Liên quan tới hoạt động xuất khẩu
- Đối với mục đích ngoài xuất khẩu
Chuyên đề tốt nghiệp
• Giấy phép liên quan đến nội địa hóa
- Mua hàng hóa trong nước
- Yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa
- Thương mại hàng đổi hàng hay mua bán đối lưu
thuế theo giá hàng hóa thành một dạng thuế đặc biệt. Biện pháp này được đưa
ra như một phương tiện để tránh gian lận hoặc bảo vệ công nghiệp trong nước.
1.2.1.3. Các biện pháp tài chính
Các biện pháp quy định sự tham gia và chi phí của việc chuyển đổi ngoại tệ đối
với việc nhập khẩu và xác định các điều kiện thanh toán.
• Các yêu cầu thanh toán trước: thanh toán trước các giá trị giao dịch nhập khẩu
trong một thời gian cho phép trước khi nhập khẩu và/hoặc thuế nhập khẩu liên
quan được yêu cầu tại thời điểm giao dịch hoặc cấp giấy phép nhập khẩu:
- Yêu cầu giới hạn tiền mặt: Nghĩa vụ gửi toàn bộ số tiền liên quan đến giá
trị giao dịch hoặc một phần được xác định của số tiền đó trong ngân hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
ngoại thương trước khi mở thư tín dụng. Việc thanh toán có thể được yêu
cầu bằng ngoại tệ
- Tiền gửi có thể trả lại đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm: Việc gửi
lại tiền gửi là chi phí được trả lại khác khi các thùng hàng hoặc các sản
phẩm đã sử dụng được trả lại hệ thống giao nhận
• Tỷ giá hối đoái đa dạng
• Xác định tỷ giá hối đoái chính thức hạn chế, Ủy quyền ngân hàng
• Yêu cầu giao lại chuyển đổi ngoại tệ
• Các quy định liên quan đến điều kiện chi trả đối với nhập khẩu: Các quy định
cụ thể liên quan đến các điều kiện thanh toán của quá trình nhập khẩu và việc
đạt được và sử dụng tín dụng (nước ngoài và trong nước) đối với vấn đề nhập
khẩu tài chính.
• Trì hoãn chuyển giao xếp hàng
1.2.1.4. Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp
• Các hạn chế đối với công ty cụ thể (đầu mối xuất nhập khẩu)
- Hạn ngạch đối với công ty cụ thể
- Phê chuẩn chọn lọc các nhà nhập khẩu
• Các biện pháp độc quyền: các biện pháp tạo nên một tình huống độc quyền,
bằng cách đưa ra các quyền riêng biệt cho một hoặc một nhóm hạn chế các nhà
dấu và các yêu cầu dán nhãn.
• Các quy định kỹ thuật: các quy định đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, trực tiếp hoặc
bằng việc đề cập đến hoặc kết hợp nội dung của việc định rõ kỹ thuật, tiêu
chuẩn hoặc mã số thực hiện để bảo vệ sức khỏe con người (quy định vệ sinh);
bảo vệ sức khỏe thực vật (quy định vệ sinh thực vật); bảo vệ môi trường hoang
dã; bảo đảm an toàn con người; bảo đảm an ninh quốc gia, ngăn ngừa các hoạt
động gian lận. Bao gồm như sau:
- Các yêu cầu đặc trưng của sản phẩm
- Yêu cầu về ghi ký mã hiệu: các biện pháp xác định thông tin quy định việc
đóng gói hang hóa phải được thực hiện cho việc vận chuyển; hải quan( nước
xuất xứ, cân nặng, ký mã hiệu…)
- Yêu cầu về nhãn mác: các biện pháp quy định loại hình kích cỡ của việc in
gói hàng hoặc và xác định thông tin nên được cung cấp cho khách hàng
- Yêu cầu đóng gói: Các biện pháp quy định về cách thức hàng hóa phù hợp
với nước nhập khẩu về việc điều khiển thiết bị hoặc các lý do khác và xác
định nguyên liệu đóng gói được sử sụng.
- Thử nghiệm, kiểm tra và yêu cầu kiểm dịch: Thử nghiệm bắt buộc các mẫu
sản phẩm bởi một phòng thí nghiệm được ủy quyền trong nước nhập khẩu,
kiểm tra hàng hóa bởi các cơ quan thẩm quyền về sức khỏe trước khi ra khỏi
hải quan hoặc các yêu cầu kiểm dịch đối với động thực vật sống.
• Kiểm tra trước khi xếp hàng lên tàu: Quản lý chất lượng, số lượng và giá cả
bắt buộc của hàng hóa trước khi di chuyển hàng từ nước xuất khẩu, có hiệu lực
bởi một cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ủy thác. Quản lý giá nhằm
Chuyên đề tốt nghiệp
mục đích tránh dưới mức và trên mức hóa đơn do đó thuế hải quan không bị
trốn tránh hoặc chuyển đổi ngoại tệ không bị thất thoát
1.2.3. Những biện pháp phù hợp với quy định của WTO nhưng mang tính bảo
hộ
Đây là các biện pháp có tính bảo hộ sản xuất trong nước nhưng được các tổ
chức thương mại quốc tế thừa nhận. Các biện pháp thuộc nhóm này được gọi là các
mại yêu cầu loại bỏ
- Các thủ tục đặc biệt: Các thủ tục không rõ ràng liên quan đến việc quản lý
hành chính của bất cứ biện pháp nào được nhập khẩu áp dụng như nghĩa vụ
nộp thông tin sản phẩm chi tiết hơn yêu cầu thông thường trên cơ sở yêu
cầu khai hải quan, yêu cầu sử dụng các địa điểm nhập cảnh cụ thể…
- Năng lực yếu kém của hải quan: Thể hiện qua khả năng về chuyên môn
trong quá trình kiểm tra hàng hóa, làm thủ tục thông quan.
- Các vấn đề liên quan đến tham nhũng: Là một trong những yếu tố phát sinh
ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách, ảnh hưởng rất lớn
đến họat động thương mại cần phải loại bỏ.
Ngoài ra các văn bản liên quan đến thương mại không được công bố kịp thời,
công khai cũng được coi lai một biện pháp, hàng rào phi thuế quan.
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.Thực tiễn áp dụng hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ
1..3.1.Các biện pháp hạn chế định lượng
Các biện pháp hạn chế về số lượng vì mục đích thương mại chỉ áp dụng ở một
số ngành hàng, đáng chú ý nhất là ngành dệt may. Tuy nhiên nhìn chung hầu hết các
hạn chế về số lượng và các biện pháp quản lý thương mại của Hoa Kỳ đều được đặt
ra nhằm mục đích đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng,
giữ gìn đạo đức xã hội hoặc vì mục đích bảo vệ môi trường. Một số mặt hàng cũng bị
cấm vì mục đích chính trị.
Các biện pháp quản lý nhập khẩu của Hoa Kỳ được thực hiện thông qua một hệ
thống giấy phép. Phải tuân theo các quá trình được quy đã được quy định để có thể
được nhập khẩu các sản phẩm sau: thực vật, động vật, và các sản phẩm của chúng,
hơi đốt, tự nhiên, cá và sinh vật hoang dại, các lọai thuốc mê, chất gây nghiện… nhập
khẩu khí đốt tự nhiên hay khí đốt hóa lỏng chỉ được phép nếu việc nhập khẩu đó gắn
liền với lợi ích dân chúng, ngoại trừ việc nhập khẩu từ các nước mà Hoa Kỳ ký hiệp
định thương mại tự do.
Việc kinh doanh các sản phẩm dệt may tiếp tục bị tác động bởi hạn ngạch nhập
khẩu áp dụng đối với một số sản phẩm dệt may nhất định nhập khẩu từ hơn 40 nước.
Một số hạn ngạch tuyệt đối thường hết ngay sau khi bắt đầu thời hạn áp dụng
hạn ngạch. Do đó, mỗi hạn ngạch thường được tuyên bố chính thức vào 12h trưa,
hoặc các khoảng thời gian tương ứng ở các múi giờ khác nhau vào một ngày ấn định.
Khi tổng số lượng hàng nhập vào lúc bắt đầu tính hạn ngạch mà vượt quá hạn ngạch
thì hàng hóa sẽ được giải phóng theo cách tính thuế trên cơ sơ theo tỉ lệ giữa tổng số
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng được nhập theo hạn ngạch và số lượng thực sự nhập khẩu. Điều này đảm bảo
việc phân bổ hạn ngạch công bằng.
Hàng hóa không được coi là nhập khẩu với mục đích xin ưu tiên theo hạn
ngạch cho đến tận khi hồ sơ tóm tắt việc nhập khẩu hàng hoặc đơn xin rút lui hàng ra
khỏi kho ngoại quan để tiêu thụ được trình bày theo đúng thủ tục và hang hóa đã nằm
trong phạm vi cảng khẩu.
1.3.2.Các qui định về tiêu chuẩn kĩ thuật và vệ sinh dịch tễ
1.3.2.1.Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Như ở hầu hết các nước, các quy định về kỹ thuật ở Hoa Kỳ được áp dụng vì
các mục đích an toàn hoặc sức khỏe đối với những sản phẩm nhập khẩu với số lượng
số lượng lớn. Những sản phẩm này bao gồm: thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, mỹ
phẩm, thuốc… Nói chung các hàng hóa được bán ở thị trường Hoa Kì dù là sản phẩm
nội địa hay nhập khẩu đều phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nhà nước về nhãn
hiệu, độ an toàn và đảm bảo sức khỏe. Nhà sản xuất nhất thiết phải chịu trách nhiệm
đối với việc đáp ứng được các yêu cầu khi đưa sản phẩm ra thị trường. Các cơ quan
chức năng sẽ tiến hành những biện pháp cưỡng bức nếu những qui định trên bị vi
phạm.
Hệ thống các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật có thể do ủy ban cố vấn khu vực tư
nhân cấp liên bang, tiểu bang hay quận huyện đưa ra. Các tiêu chuẩn về sản phẩm có
thể trở thành các tiêu chuẩn kỹ thuật khi các cơ quan đề ra quy định lựa chọn áp dụng
chúnh một cách bắt buộc. Một số tiêu chuẩn có thể do các công ty bảo hiểm đưa ra,
hàng hóa muốn được các công ty này bảo hiểm thì phải thỏa mãn được các yêu cầu
đó.
Cục Hải Quan Hoa Kỳ chịu trách nhiệm thi hành các quy định kỹ thuật tại cửa
Chuyên đề tốt nghiệp
cua WTO; không giới hạn khối lượng hàng nhập và chỉ có hiệu lực ở một số giai
đoạn nhất định khi các sản phẩm nông nghiệp đó đang được sản xuất trong nước.
Như đã nói ở trên, các quy định về kỹ thuật ( bao gồm các quy định về nhãn
mác) có thể được ban hành bởi cấp tiểu bang. Chẳng hạn như, ở bang Idaho, các thực
phẩm sử dụng trứng nhập khẩu phải in lên bao bì dòng chữ “ Trứng ngoại được sử
dụng trong sản phẩm này”. Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật thậm chí cũng phổ
biến ở một số ngành dịch vụ kể cả ngành kế toán, bảo hiểm.
Việc đánh giá sự phù hợp của hàng hóa hay các dịch vụ với các quy định về
tiêu chuẩn và kỹ thuật có thể do chính quyền liên bang hay chính quyền địa phương,
hoặc một số cơ quan kiểm tra độc lập hoặc do người cung cấp (người sản xuất hay
người nhập khẩu) thực hiện. Hệ thống đánh giá sự phù hợp với các tiêu chuẩn của
Hoa Kỳ đặc biệt ở chỗ chủ yếu phụ thuộc vào sự tự khai báo của người cung cấp và
nói rộng ra là được thực hiện thông qua Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm
Product-Liability Laws. Đối với đánh giá kỹ thuật thì mỗi cơ quan có các cách tiếp
cận khác nhau. Năm 1999, Hoa Kỳ đệ trình lên Ủy ban TBT của WTO một quy tắc
về tập quán hàng hóa đối với các thủ tục đánh giá sự phù hợp, coi những thủ tục này
là một trong những thách thức nhất để ngăn ngừa và xóa bỏ các hàng rào kỹ thuật. Đề
xuất này một phần xuất phát từ việc các cơ quan chức năng của nước nhập khẩu
không chấp nhận kết quả kiểm tra do các cơ quan thẩm đinh nước ngoài tiến hành
điều tra. Hoa Kỳ tán thành việc căn cứ vào sự khai báo của người cung cấp về sự phù
hợp và coi đó là đối xử quốc gia có thể đạt được thông qua những sự giàn xếp mang
tính hợp tác giữa các cơ quan thẩm định quốc gia thay vì tập trung vào các hiệp định
công nhận lẫn nhau.
1.3.2.2. Các quy định về vệ sinh dịch tễ
Hoa Kỳ đã gửi lên WTO nhiều thong báo nhất, với hơn 500 thông báo và phụ
lục tính đến ngày 4/5/2001, phản ánh một quá trình thông báo có hệ thống lên WTO
tất cả những thay đổi đặt ra đối với các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ trong nước. Số
Chuyên đề tốt nghiệp
lượng các bản báo cáo thường niên đã tăng khá nhiều trong những năm gần đây, từ
phẩm có nguồn gốc từ các loài này. Thêm vào đó, kể từ tháng 3 năm 2001, mọi
phương tiện nông nghiệp đã sử dụng từ các nước bị ảnh hưởng của bệnh lở mồm
long móng đều bị từ chối đưa vào Hoa Kỳ. Thịt và các sản phẩm từ thịt đóng hộp có
thể được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ theo một số điều kiện nhất định.
Vào tháng 12 năm 2000, tất cả các sản phẩm đạm động vật đã tinh chế nhập
khẩu từ hầu hết các nước ở châu Âu đều bị cấm, không tính tới đó là loài nào. Lệnh
cấm được đưa ra sau khi đã có các lệnh cấm nhập khẩu động vật nhai lại và các sản
phẩm có nguồn gốc từ động vật nhai lại cũng như các lệnh cấm đối với thức ăn gia
súc có chứa các sản phẩm có nguồn gốc động vật nhai lại từ hầu hết các nước bị ảnh
hưởng của bệnh bò điên. Tháng 2/2001, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đã thông
báo là sẽ tạm ngừng nhập khẩu thịt bò và các sản phẩm từ thịt bò từ Brazil vì mối
quan ngại về bệnh bò điên, sau đó một lệnh tương tự đã được áp dụng với Canada,
các lệnh này đã được dỡ bỏ một vài tháng sau đó.
b.Thực phẩm có nguồn gốc từ công nghệ sinh học
Rất nhiều cơ quan của liên bang điều chỉnh việc áp dụng công nghệ sinh học
trong nông nghiệp. Cục kiểm định y tế động thực vật (APHIS) điều chỉnh lĩnh vực
thử nghiệm các loài thực vật biến đổi gen và một số vi sinh vật. APHIS cũng thong
qua và cấp giấy phép cho những vật chất sinh học thú y mà có thể là sản phẩm của
công nghệ sinh học bao gồm cả vacxin động vật. Ngoài ra, Cơ quan quản lý thuốc và
thực phẩm gần đây cũng đã đề nghị thành lập một tiểu ban về các dữ liệu và thông tin
về thực phẩm biến đổi gen có nguồn gốc từ động vật. Cơ quan bảo vệ môi trường
(EPA) điều chỉnh hầu hết các vi sinh vật biến đổi gen theo Đạo luật quản lý các chất
độc.
Chuyên đề tốt nghiệp
Việc trồng thử nghiệm thực vật có nguồn gốc biến đổi gen phải được sự chấp
thuận trước của Cục giám định y tế động thực vật (APHIS). Nhìn chung, trước khi
một loại cây biến đổi gen được trồng trên quy mô lớn hơn và bán ra thị trường, người
tạo ra nó phải thỉnh cầu APHIS cấp phép. Kể từ năm 1997 tới nay APHIS đã cấp
phép cho hơn 5000 đơn thỉnh cầu. Khoảng 40 loại nông sản mới đã được hoàn thành
mọi qui định của liên bang từ tất cả các cơ quan có liên quan và có thể được đem bán
được là có một hệ thống các quy định hoặc một hệ thống tương đương với những quy
định của Hoa Kỳ hoặc môi trường đánh bắt riêng biệt đó của nước xuất khẩu không
đe dọa làm hại đến cuộc sông rùa biển. Mọi chuyến hàng chở tôm hoặc các sản phẩm
tôm vào Hoa Kỳ đều phải kèm theo một giấy chứng nhận là tôm đã được đánh bắt ở
các điều kiện mà không gây ra tác động tiêu cực tới rùa biển.
Tất cả các nước đánh bắt tôm đều chịu lệnh cấm nhập khẩu tôm trên, tuy nhiên
Hoa Kỳ đã cấp chứng nhận cho 16 nước là có chương trình bảo vệ rùa biển tương
đương Hoa Kỳ và 25 nước có môi trường đánh bắt không đe dọa đến loài rùa biển.
Vào năm 1996, Malaysia, Ân Độ, Pakistan và Thái Lan đã cùng trình một bản
kiến nghị chung lên WTO phản đối việc cấm nhập khẩu theo phần 609 của luật nói
trên. Theo Malaysia thì biện pháp đó không được công nhận theo điều 20 của GATT/
1994. Tháng 11/2000, Malaysia lại kiện Hoa Kỳ về việc sử dụng biện pháp này. Lần
này, một ban bồi thẩm đã được tái triệu tập và đã xét xử thiên vị cho Hoa Kỳ.
1.3.3.Quy định về xuất xứ và ký mã hiệu hàng hóa
Khi nhập hàng hóa vào nước Hoa Kỳ, cần lưu ý những quy định sau đây của
hải quan Hoa Kỳ:
Mác, mã phải ghi rõ nước xuất xứ: Luật pháp của Hoa Kỳ quy định rõ mọi
hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ ngoại quốc phải ghi rõ ràng, không tẩy xóa được, ở
Chuyên đề tốt nghiệp
chỗ dễ nhìn thấy trên bao bì xuất khẩu, tên nước xuất xứ hàng hóa đó phải ghi bằng
tiếng Anh.
Hàng tới người tiêu dùng cuối cùng, thì trên các bao bì, vật dùng chứa đựng
bao bì tiêu dùng của hàng hóa đó cũng phải ghi rõ xuất xứ của hàng hóa bên trong.
Hàng nhập vào Hoa Kỳ không tuân theo các quy định trên sẽ bị phạt theo mức
phần trăm giá trị lô hàng.
Hàng nhập không đáp ứng các yêu cầu về ghi mác sẽ bị giữ lại ở khu vực hải
quan Hoa Kỳ cho tới khi người nhập khẩu thu xếp tái xuất trở lại, phá hủy đi hoặc tới
khi hàng được xem là bỏ để Chính phủ định đoạt toàn bộ hoặc từng phần.
Phần 304 (h) Luật Thuế của Hoa Kỳ quy định ai cố tình vi phạm, cố tình che
dấu sẽ bị phạt tiền 5000USD, hoặc bỏ tù dưới một năm.