1
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa và mở cửa hội nhập
kinh tế, thâm hụt cán cân thương mại là một hiện tượng khá phổ biến vì yêu cầu nhập
khẩu rất lớn trong khi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế, do đó mức tăng
trưởng xuất khẩu trong ngắn hạn không thể bù đắp thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, nếu
tình trạ
ng này diễn ra thường xuyên và dai dẳng cho thấy, sự yếu kém trong điều tiết kinh
tế vĩ mô và hậu quả đối với nền kinh tế rất trầm trọng.
Ở Việt Nam, nhập siêu đã kéo dài liên tục từ những năm 1990 trở lại đây.Trong suốt
quá trình phát triển kinh tế kéo dài hơn 20 năm, Việt Nam chỉ xuất siêu duy nhất một lần
năm 1992.Việc nhập siêu liên tục trong một khoảng thờ
i gian dài như vậy đã để lại nhiều
hệ lụy cho nền kinh tế, cũng như mang đến nhũng rủi ro có thể gặp phải trong tương lai.
Có thể nói nhập siêu đã trở thành nút thắt của nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô hiện nay và đã
thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu kinh tế và
giới doanh nhân cả nước. Tuy vậy, tình hình vẫn chưa được cải thiện đáng k
ể.
Thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu hy vọng đưa ra một bức tranh bao quát về tình
hình nhập siêu của nước ta, các nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu, phân tích đánh giá
các giải pháp kiềm chế nhập siêu của chính phủ và các chuyên gia, từ đó đưa ra kết luận
và các giải pháp của nhóm.
Phương pháp chủ yếu nhóm sử dụng là phương pháp phân tích, thống kê.Nghiên cứu
sử dụng rất nhiều thông tin và số liệu từ các nguồn khác nhau kể cả trong nước và ngoài
n
ước. Các số liệu dùng để phân tích tình hình nhập siêu được tổng hợp chủ yếu từ nguồn
đã được Tổng cục thống kê, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao công bố.
Bài nghiên cứu được chia làm 3 chương. Chương đầu tiên tập hợp những lý luận cơ
bản về nhập siêu. Trong chương này, nhóm đưa ra định nghĩa nhập siêu, các yếu tố tác
động đến nhập siêu, những hiệu quả tích cực cũ
2.1. Tác động của tỷ giá hối đoái ................................................................................ 5
2.2. Tác động của việc thay đổi thu nhập ở nước xuất khẩu và nước nhập khẩu 7
2.3. Cơ cấu và chu kỳ kinh tế ..................................................................................... 7
2.4. Sự mất cân đối giữa tổng đầu tư và tiết kiệm .................................................... 8
2.5. Các biện pháp bảo hộ mậu dịch .......................................................................... 9
3. Tác động của nhập siêu đến nề
n kinh tế ................................................................... 9
3.1. Các tác động tích cực ........................................................................................... 9
3.2. Những rủi ro do nhập siêu ................................................................................ 10
4. Bài học giải quyết tình trạng nhập siêu từ các nước ASEAN ............................... 11
CHƯƠNG 2: TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM QUA
CÁC NĂM
1. TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU .................................................................................... 13
1.1. Thực trạng nhập siêu Việt Nam giai đoạn 1990- nay ............................................ 13
1.2. Mặt hàng nhập siêu .................................................................................................. 14
1.3. Thị trường nhập siêu ................................................................................................ 17
1.4. Các nhận định về nhập siêu ..................................................................................... 19
1.4.1. Tình hình nhập siêu ........................................................................................ 19
1.4.2. Mặt hàng nhập siêu ........................................................................................ 20
1.4.3. Vấn nạn nhập siêu từ Trung Quốc................................................................ 21
1.5. Nguyên nhân nhập siêu ............................................................................................ 24
1.5.1. Nhà nước .......................................................................................................... 24
1.5.2. Doanh nghiệp .................................................................................................. 26
4
1.5.3. Người dân ........................................................................................................ 28
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIẢM NHẬP SIÊU VIỆT NAM
1. Giải pháp Nhà nước, Bộ, Ngành năm 2011 ............................................................ 30
2. Giải pháp, nhận định của các chuyên gia ............................................................... 35
mua từ các nước khác được định nghĩa là nhập
khẩu. Cán cân thương mại là sự chênh lệch giữa giá trị thể hiện bằng tiền của xuất
khẩu (kim ngạch xuất khẩu) và giá trị thể hiện bằng tiền của nhập khẩu (kim ngạch
nhập khẩu). Sự hiểu biết về cán cân thương mại đã bắt đầu manh nha từ giữa thế kỷ
16 ở châu Âu trong s
ố những người theo trường phái trọng thương. Ví dụ như, trong
cuốn “A Discourse of the Common Weal of this Realm of England”, tác giả
Elizabeth Lamon và William Cunningham đã trích dẫn một câu nói của giới trọng
thương như sau “Chúng ta phải luôn luôn lưu ý rằng ta không bao giờ mua hàng của
những kẻ lạ mặt nhiều hơn ta bán cho họ, bởi vì nếu thế thì ta đã tự làm nghèo mình
đi và làm cho họ giàu lên”.
2. Các yếu tố tác động đến nhập siêu
2.1. Tác động của tỷ giá h
ối đoái
Theo các quan niệm truyền thống, tỷ giá ảnh hưởng rất nhiều đến nhập siêu vì nó
ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên
thị trường quốc tế. Khi giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của
hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ
hơn đố
i với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá giảm sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu
và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm.Ngược lại, khi
6
tỷ giá tăng lên, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu
ròng tăng lên.
Có thể nói theo quan điểm truyền thống, tỷ giá là nguyên nhân chính của tình
trạng nhập siêu. Tuy nhiên, gần đây, rất nhiều các bài nghiên cứu của các học giả
trên thế giới đã chứng minh, thực chất, tỷ giá không có hoặc có rất ít mối liên hệ với
thâm hụt thương mại hay nhậ
p siêu trong thực tế.
Những thay đổi trong tổng thu nhập quốc dân ở nước khác cũng như trong nước
có ảnh hưởng quan trọng đến cán cân thương mại và nhập siêu của nước đó. Nếu
tổngthu nhập quốc dân ở một nước tăng, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa vào nước đó
sẽ cao hơn. Một số những nhu cầu đó có thể được đáp ứng bởi một nước khác và
làm tăng kim ngạch xuất khẩu ở nước xuất khẩu, từ đó làm giảm nhập siêu của nước
xuất khẩu (trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi). Ngượ
c lại, nếu thu
nhập quốc dân ở nước ngoài giảm, xuất khẩu sang các nước này cũng sẽ giảm, từ đó
làm tăng nhập siêu ở nước xuất khẩu.
Tương tự, tổng thu nhập quốc dân trong nước tăng sẽ khiến nhu cầu hàng hóa và
dịch vụ tăng, từ đó làm tăng nhập khẩuvà tăng nhập siêu.Mặt khác, nếu thu nhập
quốc dân giảm, nhập khẩ
u sẽ giảm và làm giảm nhập siêu.
2.3. Cơ cấu và chu kỳ kinh tế
Trong bài viết “Nhập siêu kéo dài: Tỷ giá hay cơ cấu kinh tế?” đăng trên Thời
báo Kinh tế Sài gòn, tác giả có đưa ra một nguyên nhân chính nữa của nhập siêu là
do cơ cấu kinh tế không hợp lý.Theo đó ông cho rằng thông thường khi chọn ngành
trọng điểm thường phải xem xét đến hai yếu tố là chỉ số lan tỏa nội địa và chỉ số
kích thích nh
ập khẩu. Tuy nhiên thực tế cho thấy một số ngành có tỷ trọng vốn đầu
tư khá lớn nhưng chỉ số lan tỏa nội địa thấp và chỉ số kích thích nhập khẩu cao bất
thường. Những nhóm ngành này hầu hết nằm ở khu vực công nghiệp và xây dựng.
Khi một quốc gia lựa chọn các nhóm ngành này làm ngành trọng điểm thì sẽ góp
phần làm tăng nhập siêu.
8
Chu kỳ kinh tế cũng có ảnh hưởng đến nhập siêu. Ở những quốc gia phát triển
thiên về xuất khẩu, cán cân thương mại sẽ tăng trong quá trình mở rộng kinh tế. Lý
do là do quốc gia này xuất khẩu nhiều sản phẩm hơn là nhập khẩu hàng hóa.Ngược
lại, với những quốc gia phát triển dựa vào nhu cầu nội địa, cán cân thương mại sẽ có
thì chúng được đăng ký là nhập khẩu, vì thế làm gia tăng tình trạng nhập siêu.
2.5. Các biện pháp bảo hộ mậu dịch
Một nghiên cứu của IMF đã chứng minh các biện pháp bảo hộ mậu dịch của một
quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến nhập khẩu của quốc gia đó, mà khi nhập khẩu
thay đổi thì nhập siêu cũng thay đổi theo. Tác giả của nghiên cứu đã sử dụng mô
hình ước đoán kinh tế lượng để đo lường ảnh hưởng của các rào cản mậu dịch lên
nh
ập khẩu của các nước trên thế giới. Kết quả cho thấy sự hiện diện của thuế quan
đã làm giảm đáng kể lượng nhập khẩu. Cụ thể hơn, thuật toán ước lượng của họ cho
thấy khi nhu cầu nội địa không thay đổi, nếu thuế quan tăng 1% thìnhập khẩu của
một quốc gia sẽ giảm 2%. Ngoài thuế quan, các rào cản phi thuế quan phổ biến nhấ
t
cũng được nghiên cứu.Các tác giả chứng minh rằng ảnh hưởng của rào cản phi thuế
quan như các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, các biện pháp bảo hộ độc
quyền cũng như các biện pháp bảo hộ về kỹ thuật đềulàm giảm sút sản lượng nhập
khẩu.
3. Tác động của nhập siêu đến nền kinh tế
3.1. Các tác động tích c
ực
Khi nói về nhập siêu, thông thường người ta chỉ cho rằng đây là hiện tượng
không tốt cho nền kinh tế.Tuy nhiên, một số nhà kinh tế nhận định rằng nhập siêu
cũng mang lại một số lợi ích.
Các nhà kinh tế này khẳng định nhập siêu dịch chuyển sản xuất của thế giới đến
những nơi có năng suất cao nhất, và nó cho phép quốc gia giữ mức tiêu dùng như cũ
trong khi vẫ
n gia tăng đầu tư trong suốt chu kỳ kinh tế. Theo quan điểm này, cán
cân thương mại bị thâm hụt dẫn đến nhập siêu khi những doanh nghiệp hay chính
10
phủ của một nước đầu tư nhiều vào nguồn vốn vật chất. Việc đầu tư này sẽ mở rộng
đó ngừng việc kinh doanh thì quốc gia nhập siêu dễ rơi vào khủng hoảng. Ở nhiều
nền kinh tế, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi, việc vay nợ và thanh toán không sử
dụng đồng nội tệ dễ dẫn đế
n khoản tiền thanh toán tăng lên khi đồng nội tệ yếu đi.
Tình hình còn có thể tệ hơn khi tăng trưởng kinh tế gặp vấn đề hay khi lượng dự trữ
ngoại hối quốc gia cạn kiệt.
Ở các nước đang phát triển, có những nghiên cứu cho thấy nhập siêu cao dẫn đến
lạm phát cao.Do nhập khẩu máy móc và thiết bị nguyên nhiên liệu là chủ yếu, nên
có thể lạm phát tăng cao là do hiệu quả s
ản xuất thấp, chi phí sản xuất và giá thành
không giảm nhiều nhờ những máy móc thiết bị đã nhập khẩu.
Bên cạnh đó, nhập siêu kéo dài khiến cho các khoản nợ của một quốc gia trở nên
trầm trọng vì ngoài tiền vốn, quốc gia đó còn phải chịu thêm phần lãi suất.
4. Bài học giải quyết tình trạng nhập siêu từ các nước ASEAN
Ba quốc gia ASEAN gồm Malaysia, Thái Lan và Philippines đã nỗ lực vươn lên
để thay thế các quốc gia ngoài châu Á trong nhóm 10 thị trường xuất khẩu hàng hóa
lớn nhất vào Trung Quốc những năm gần đây.
Trong đó, Malaysia sớm thâm nhập thị trường Trung Quốc từ đầu thập kỷ 1990
với kim ngạch xuất khẩu 852 triệu Đô la Mỹ và liên tục đẩy mạnh xuất khẩu sang
thị trường này (thập kỷ 1990 tăng bình quân 20,46%/năm, trong khi xuất khẩu ra thị
trường thế giới nói chung ch
ỉ tăng 12,80%/năm), cho nên quy mô xuất khẩu sang thị
trường Trung Quốc năm 2008 đã đạt 34,644 tỉ Đô la Mỹ, chiếm 17,36% tổng kim
ngạch xuất khẩu ra thị trường thế giới của Malaysia.
Tương tự, Thái Lan tuy cũng thâm nhập thị trường Trung Quốc sớm và liên tục
đẩy mạnh xuất khẩu nhưng với xuất phát điểm chỉ là 386 triệu Đô la Mỹ, cho nên
12
quy mô xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc của Thái Lan chỉ đứng thứ ba với
23,245 tỉ Đô la Mỹ, chiếm 13,07% trong tổng kim ngạch xuất khẩu ra thị trường thế
CH
1.
na
y
triệ
gia
nhậ
200
la M
HƯƠN
CỦA
TÌNH TR
1.1. Thực
BIỂU Đ
Việt Nam l
y, hầu hết V
ệu đô la Mĩ
ai đoạn 199
ập siêu tăn
06. Từ năm
Mĩ.
NG 2:
A VIỆT
ẠNG NHẬ
c trạng nhậ
ĐỒ: Tình h
là một nước
Việt Nam đ
ĩ, một con s
90- 2006, lư
trừ duy nhấ
ới lượng nh
ộng dưới 50
với lượng
t Nam luô
n
NHẬP
ÁC NĂ
0- nay
n 1990 đến
ng giai đoạ
ất năm 1992
hập siêu lúc
000 triệu đ
g nhập siêu
ng vượt mốc
P SIÊU
ĂM
nay
ạn 1990 cho
2 xuất siêu
c bấy giờ. T
đô la Mĩ. Lư
gần gấp ba
c 10000 triệ
U
o đến
39,9
Trong
14
của Việt Na
thương
ng trong xuấ
và nhập siê
xuất siêu v
am theo dan
ất nhập khẩ
êu hàng chế
và nhập siê
nh mục tiêu
ẩu.Việt Na
ế biến hoặc
êu của Việt
u chuẩn ngo
am có xu hư
c đã qua tinh
Nam ta xé
oại
ướng
h chế.
ét các
N
ta s
luô
đoạ
200
Nếu năm 2
êu thì đến n
Hàng thô ha
ng mại, như
ống. Các lo
hướng tăng
BẢNG: H
ng kê
guyên nhân
ớn Lương th
ợng xuất siê
đóng góp củ
loại hàng n
a còn xuất
óng góp của
2000, lượng
năm 2008 đã
ay mới sơ c
ưng đó là do
oại hàng còn
g qua các nă
15
Hàng thô ha
xuất siêu củ
hực, thực ph
êu của mục
ủa loại hàng
này vào lượn
siêu nhiên
a loại hàng
u , góp phầ
ớn Lương t
ô hay mới s
đến lượng N
sơ chế. Đó
g. Loại hàng
ơ chế trong
c năm, như
0%, năm 20
và vật liêu
kể và giảm
ếm khoảng
ần làm cân
thực, thực p
sơ chế đều
Nguyên liệu
là do
g này
g giai
năm
08 là
u liên
m dần
38%
bằng
phẩm
nhập
u thô
siêu để tiến
t tiếp bảng
u hóa chất
hất nhập siê
chế.Máy m
iêu. Nguyê
, lên đến 75
Ngoài ra, c
hập siêu.
ẢNG: Hàn
ng kê
n, Hàng chế
sơ chế có x
n hành Côn
g : Hàng ch
t, nguyên liệ
êu chiếm kh
móc, phương
ên liệu nhập
5- 85%.
16
còn có đồ uố
g chế biến h
ế biến hoặc
xu hướng xu
ng nghiêp hó
hế biến hoặc
ệu và máy m
hoảng 40%
g tiện vận
ộ cho
Việt
tùng.
hoặc
60%
năm
nhậ
phẩ
ngh
N
200
Việ
năm
trư
siê
Lượng máy
ập siêu của
ẩm và động
hiệp hóa cò
1.3. Thị t
Nguồn: Tổn
Bảng trên
00 đến 200
ệt Nam nhậ
m như 200
ường nhập s
êu qua EU tr
vận tải nhập
đã tinh ch
hanh đáng k
xuất nhập si
nước xuất
dàng rằng
siêu của Việ
ến 2008 cho
ng lai. Ngoà
2009.
p siêu khá
hế.Tuy nhiê
kể.Điều này
iêu giai đoạ
hay nhập s
ASEAN v
ệt Nam từ t
o thấy dấu
ài ra, có thể
ổn định, c
ên, lượng lư
y chứng tỏ
ạn 2000-200
siêu của Vi
và APEC là
thị trường O
u hiệu OPE
ể thấy Việt
hiếm 2/3 lư
ương thực,
h
uốc, Đài Lo
ung Quốc.
yanma và Ấ
ệt Nam nhậ
Lượng nhậ
ung Quốc x
ệt Nam nhậ
uốc là máy
uyên liệu d
ẩu chủ lực
c, Canada.
ĐỒ: 6 quốc g
Tổng cục t
ho ta thấy 6
oan, Hàn Q
Ngoài cá
c
Ấn Độ. Các
ập siêu chủ
ập siêu của V
xuất siêu sa
ập siêu nhiề
móc, thiết
dệt may, da
của Việt Na
Điều này
gia Việt Na
thống kê
6 quốc gia V
khu vực Ch
.
uốc tăng vọ
ôi lượng nh
ng Việt Nam
ầu, thuốc tr
n là các đầ
xuất siêu san
không nhập
ất giai đoạn
nhiều nhất.
ổi bật trong
Malaysia, I
hâu Á. Ta c
ọt từ năm 20
hập siêu từ
m chủ yếu
rừ sâu, phâ
ầu vào cho
ng cácc thị
siêu
từ các
n 2000-2009
Gồm có: T
g 6 nước n
Indonesia,
có thể thấy
007. Năm 2
Đài Loan, n
nhập từ T
đượ
trư
TP
kh
o
kim
hệ tiên tiến
n chưa phát
1.4. Các n
1.4.1. Tìn
Việt Nam l
ớng hiện đạ
nguyên liệ
a các năm t
ập siêu sẽ c
am, nguyên
ành căn bện
B
Nguồn : Tín
Các số liệu
Trong năm
ất trong khu
ợc coi là ở
ờng xuất, n
.HCM). Th
oảng 9% kh
m ngạch xuấ
n.Điều này m
t triển.
nhận định
số liệu Tổng
ình hình nh
ệt Nam là q
g Nam Á. C
động đỏ”,
(theo GS.T
Võ Thanh
nhập siêu củ
17,5%, thấp
19
ữa chứng mi
êu
yền thống.
ta chấp nhậ
ùng. Tuy nh
hính phủ và
nh đến nền
kinh tế Thư
Nam (phỏng
u trên xuất
g cục thống
ập siêu tại V
quốc gia nh
Cho đến na
, cần nhanh
S Đoàn Th
Thu (ĐH K
ủa cả thế gi
p hơn tỉ lệ 2
inh nền côn
ân, trường Đ
HCM), ước
010, tuy tỉ l
ự kiến nhưn
hóa của nư
ông nghiệp
hoảng nhập
ngày càng
y càng lo ng
TS Nguyễn
hập siêu đ
t, 2010).
2010
rầm trọng.
thế giới v
à
a Việt Nam
mặt hàng v
Đại học Kin
c tính VN ch
ệ nhập siêu
ng nếu tình
ớc ta
theo
p siêu
tăng
gại vì
Văn
ã t
rở
nước ta nh
ập số vải trị giá gần 4,3 tỷ USD, chưa kể đến những nguyên phụ liệu khác.
Rõ ràng, trong các ngành xuất khẩu thế mạnh, ta lại phụ thuộc quá nhiều vào máy
móc, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, các doanh nghiệp
trong nước không đủ khả năng cung cấp cho các ngành hàng xuất khẩu.Điều này đã
thể hiện xuất khẩu Việt Nam chưa bền vững, chịu nhiều tác độ
ng khách quan từ giá
cả thị trường thế giới.
Một điều đáng nói là một bộ phận hàng nhập khẩu của Việt Nam là những mặt
hàng đơn giản, chất lượng thấp hay trung bình từ các nước láng giềng, đặc biệt là từ
21
Trung Quốc. Câu chuyện về nhập khẩu tăm tre khiến chúng ta phải suy nghĩ. Chỉ
trong 6 tháng đầu năm 2010, lượng tăm tre nhập khẩu từ Trung Quốc vào thành
phố Hồ Chí Minh là khoảng 286 tấn, trị giá 40000 USD. Trong khi đó, tăm tre là
mặt hàng mà các doanh nghiệp có thể sản xuất được.Ngoài ra, cây tre lại rất quen
thuộc trong văn hóa và đời sống người Việt Nam.Không chỉ riêng câu chuyện tăm
tre, mà tình trạng này còn xảy ra ở các lĩnh vực khác như
nông sản.Mỗi năm, ta chi
300 USD để nhập khẩu rau quả, trong đó có những loại chứa chất độc hại. Do công
tác quản lí lỏng lẻo, nhiều mặt hàng trong nước đã sản xuất nhiều hay dư thừa
nhưng vẫn nhập. Ví dụ như trong khi clinker ở phía bắc giá 650-730 nghìn
đồng/tấn thì các DN phía nam vẫn nhập với giá 880 nghìn đồng/tấn; trong nước tồn
kho 300 nghìn tấn phân bón, trong đó có 160 nghìn tấn NPK, nhưng DN vẫn nhập
hàng trăm nghìn tấn NPK khiến cho các nhà máy sản xuất trong nước gặp khó
khăn…
1.4.3. Vấn nạn nhập siêu từ Trung Quốc
Trong các năm gần đây, Trung Quốc nổi lên như một thị trường nhập khẩu số 1 ở
Việt Nam với giá trị nhập khẩu vượt trội, gấp đôi giá trị nhập khẩu từ thị trường
nhập khẩu thứ 2 là Đài Loan. Trong năm 2010, các mặ
giềng đang ngày càng chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng nhập siêu c
ủa Việt Nam,
mà giá trị lan tỏa về công nghệ cũng như về xã hội không cao như kỳ vọng”.
Hiện nay, có nhiều ý kiến về vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc.
Theo GS-TS Võ Thanh Thu, nếu giải được nhập siêu từ Trung Quốc, VN có thể
giải quyết được bài toán nhập siêu, cũng là giải quyết được nhiệm vụ quan trọng
trong công tác điều hành XNK hàng hoá. Theo TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng
Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh t
ế Trung ương (CIEM) nếu giảm được lượng thiết
bị máy móc và hàng trung gian nhập về để sản xuất hàng tiêu dùng trong nước thì
có thể giảm được nhập siêu.
Vậy việc nhập siêu từ Trung Quốc có thật sự là vấn nạn? Trong Hội thảo khoa
học “Thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát và hạn chế nhập siêu” do trường Đại học Kinh
tế TPHCM tổ chức, có một số ý kiến cho rằng việc nh
ập siêu từ Trung Quốc chưa
23
hẳn là “vấn nạn”, và đối phó với vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc chưa chắc là lời
giải cho bài toán nhập siêu. Theo đó, nhập khẩu nhiều là bản chất của nền kinh tế
Việt Nam, bởi chúng ta đang trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nếu
không nhập siêu từ Trung Quốc, liệu Việt Nam có thể đảm bảo sẽ không nhập siêu
từ các quốc gia khác?. Hàng hóa nhập khẩu vào theo luồng vốn FDI, ODA, và v
ới
các cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam không thể can thiệp để hạn chế nhập siêu
bằng các biện pháp phi thị trường. Có ý kiến cho rằng, bài giải cho bài toán nhập
siêu từ Trung Quốc là nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Ngoài ra,
theo GS. TS Đào Thị Hồng Vân, việc đối đầu với một quốc gia như Trung Quốc là
điều không tưởng, do đó, để xoay chuyển tình thế, Việt Nam nên hợp tác với Trung
Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trên thực tế chúng ta không nên hoàn toàn cự tuyệt sự hỗ trợ từ phía Trung
hành xuất nhập khẫu của ta còn kém nên dẫn đến nhập siêu. Ta chưa xây dựng được
các rào c
ản thương mại hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều này dẫn đến
thế bị động trong công tác quản lí nhập khẩu khiến việc nhập khẩu tràn lan tại nước
ta. Hệ quả là sản phẩm nhập khẩu chất lượng thấp xuất hiện, nhiều sản phẩm sản
xuất được trong nước nhưng vẫn nhập, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong n
ước.
Đơn cử như hàng năm doanh nghiệp nước ta nhập khẩu hàng tỷ USD nông sản
nhưng ta chưa xác định được tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
cho những mặt hàng này. Ngoài ra, công tác dự báo và thông tin còn hạn chế dẫn
đến tình trạng như thừa vẫn cứ nhập (phân bón), hàng hóa bán với giá rẻ (gạo)…
Chính sách tỷ giá
Theo ông Đinh Tuấn Minh (VERP, đại học Quốc gia Hà Nội), một trong những
nguyên nhân d
ẫn đến nhập siêu đó chính là chính sách tỉ giá. Trong cơ chế tỉ giá thả
nổi, tỉ giá phụ thuộc vào cán cân thương mại và các dòng tiền khác. Mặt khác, tỉ giá
25
là yếu tố điều chỉnh cán cân thương mại về trạng thái cân bằng trong mối tương
quan với các dòng vốn khác.
Ông dẫn chứng Thái Lan làm ví dụ. Đầu năm 2005, nền kinh tế Thái Lan nhập
siêu lớn. Nhờ cơ chế tỷ giá thả nổi nên đồng baht tự động bị mất giá, giúp cho nhập
siêu giảm. Xét trong một giai đoạn dài, chẳng hạn năm 2006 – 2007, khi Thái Lan
có xu hướng xuất siêu lớn, giá trị đồng baht đ
ã tăng rất nhanh. Ngược lại năm 2008,
khi nền kinh tế Thái Lan có xu hướng nhập siêu, đồng baht mất giá trở lại. Chính
nhờ cơ chế tỷ giá thả nổi như vậy nên cán cân thương mại hàng tháng của Thái Lan
luôn dao động trong trạng thái khá cân bằng trong biên độ +/– 2 tỉ USD.
Tuy nhiên, cơ chế tỉ giá của Việt Nam lại không làm được điều này. Do tỷ giá
chính thức về cơ bản là cố định nên trong hầu hết quãng thờ