1
Tiểu luận
Nghiên cứu về Luật quốc tịch
Việt Nam 1998
2
Mục Lục LỜI NÓI ĐẦU………………………………3
Chương 1 : Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch việt 1998……………… 4
1.1: Mặt tích cực………………………………………………………….4
1.2: Mặt tồn tại…………………………………………………………… 5
1.3: Giải quyết hồ sơ xin thôi, xin nhập,xin trở lại quốc tịch Việt Nam, xin
cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận không có quốc
tịch Việt Nam…………………………………………………………… 7
quốc tịch Việt Nam. Sau hơn chín năm thực hiện,nhiều quy định của Luật năm
1998 đã thực sự đi vào đời sống,phát huy vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng trong
việc xác định người có quốc tịch Việt Nam,quyết định cho nhập, cho thôi , cho trở
lại quốc tịch việt Nam , thực hiện chính sách bảo hộ của Nhà nước ta đối với công
dân Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện
chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 cũng bộc lộ một số điểm hạn
chế và bất cập , hiện nay ban soạn thảo đã khẩn trương tiến hành xây dựng dự án
Luật quốc tịch sửa đổi theo đúng quy định của Luật hiện hành. Đã có rất nhiều ý
kiến xoay quanh vấn đề về Luật sửa đổi quốc tịch ,trong đó có ý kiến đồng ý
L
5
nhưng cũng có quan điểm trái ngược. Trước tình hình đó Chính phủ và Quốc hội
rất cần đến những ý kiến phản hồi từ phía người dân , để đảm bảo Luật quốc tịch
Việt Nam được khách quan và phù hợp hơn với hệ thống pháp luật hiện hành.
Trước thực tế này , nhóm TLP chúng tôi cũng có một vài ý kiến nhằm thể
hiện sự quan tâm của bản thân đối với các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Mặc dù
đã có những tìm hiểu và phân tích cụ thể,nhưng với vốn hiểu biết pháp lý và xã
hội chưa hoàn thiện,chúng tôi khó tránh khỏi những thiếu sót , rất mong nhận
được sự góp ý của giảng viên và các bạn để tiểu luận của TLP được hoàn thiện
hơn.
Chân thành cảm ơn!
Nhóm TLP
6
Kết cấu đề tài :
Chương 1 : Đánh giá kết quả thực hiện Luật Quốc tịch việt 1998.
Hai là, Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 đóng vai trò tích cực trong việc
bước đầu thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, tạo
ra mối liên hệ pháp lý giữa công dân và Nhà nước; là nguồn cổ vũ động viên to
lớn đối với đồng bào ta đang sinh sống, học tập, làm việc ở nước ngoài luôn
hướng về Tổ quốc, góp sức xây dựng quê hương đất nước; tạo cơ sở pháp lý để
người nước ngoài và người không quốc tịch được nhập quốc tịch Việt Nam; tạo
điều kiện để một số người vì nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau được trở lại quốc
tịch Việt Nam, ổn định cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng xã hội Việt Nam.
Ba là, Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 tạo cở sở pháp lý quan trọng cho việc
thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta về bảo hộ các quyền lợi chính đáng
của công dân Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho một bộ phận
công dân Việt Nam đang định cư, làm ăn, sinh sống ở nước ngoài do các hoàn
8
cảnh, điều kiện khác nhau được thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước
ngoài, góp phần ổn định cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng xã hội ở nước sở
tại.
Bốn là, công tác quốc tịch trong những năm qua đã bám tương đối sát các
nhiệm vụ chính trị, kinh tế,xã hội,đối nội,đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, phục
vụ đắc lực cho việc thực hiện nhiệm vụ này, công tác quốc tịch ở trong và ngoài
nước rất được chú trọng và được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng
nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách hội nhập quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta.
Năm là, Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 là các văn bản quy phạm pháp luật
hướng dẫn thi hành Luật đã tạo ra cơ chế quản lý,phối hợp giữa Bộ Tư pháp và các
Bộ, ngành ở trung ương và địa phương trong việc triển khai thực hiện các quy
định pháp luật về quốc tịch,tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình
thực hiện,đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý để các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ
quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban nhân dân và Sở Tư pháp các
tỉnh, thành phố thuộc trung ương thụ lý, xem xét, giải quyết hoặc trình giải quyết
tịch đạt kết quả cụ thể như sau:
Năm
Số
lượng
được
Số
lượng
Số
lượng
Số
lượng
Số lượng
được cấp
GCN có
Số
lượng
được
Số lượng
được
cấp
10
thôi
QTVN
được
nhập
QTVN
được
trở lại
cộng
61.460 231 51 0 2.232 0 44
11
1.4 Sự cần thiết sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 :
Một là, nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 3 của Luật có
phần cứng nhắc, gò bó, thiếu những quy định đồng bộ, nên khó thực hiện trên thực
tế, đồng thời cũng chưa thực sự phản ánh đúng nguyện vọng của một bộ phận
người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng vẫn
mong muốn giữ quốc tịch Việt Nam.Một trong những ý nghĩa to lớn của nguyên
tắc một quốc tịch là nhằm hạn chế sự xung đột về quốc tịch, nhưng ý nghĩa này
cũng không đạt được. Trên thực tế một bộ phận khá lớn người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vừa có quốc tịch nước ngoài vừa có quốc tịch Việt Nam, gây ra tình
trạng tranh chấp giữa ta và nước ngoài trong việc bảo hộ công dân.
Hai là, Luật năm 1998 chưa có cơ chế hữu hiệu, khả thi để giải quyết vấn
đề quốc tịch cho những người không quốc tịch, những người không rõ quốc tịch
đã cư trú ổn định lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam.Do đó, chưa thực hiện được một
số chính sách quan trọng của Luật là ở nước ta mỗi cá nhân đều có quyền có quốc
tịch và hạn chế tình trạng không quốc tịch.
Ba là, cơ chế quản lý nhà nước về quốc tịch có nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu
quả quản lý chưa cao; việc giải quyết các vấn đề quốc tịch Việt Nam nhìn chung
rất chậm, một số thủ tục còn rườm rà, không phù hợp với tinh thần cải cách hành
chính, gây phiền hà cho đương sự.
Bốn là, so với bối cảnh ban hành Luật năm 1998, thì hiện nay đất nước ta
đã có nhiều thay đổi quan trọng torng phát triển kinh tế - xã hội; uy tín và vị thế
quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
12
sinh hoặc các tranh chấp về quốc tịch.Nếu Luật Quốc tịch của nước ta quy định
theo cách như một số nước khác thì có thể sẽ không có lợi cho việc thực hiện
chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài như Nghị quyết số 36 QĐ/TW
của Bộ Chính trị đã xác nhận.Vì vậy, Điều 41 của Dự thảo Luật Quốc tịch Việt
Nam (sửa đổi) vẫn giữ nguyên quy định của Luật năm 1998, theo đó Chính phủ có
nhiệm vụ “căn cứ vào những quy định của Luật này, Chính phủ ký kết với nước
ngoài điều ước Quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh từ tình trạng hai hay
nhiều quốc tịch”.
Dự thảo sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 đã mở ra một hướng mới
cho việc trở về quê hương của những kiều bào này. “Một trong những yêu cầu và
mục tiêu của việc sửa đổi Luật Quốc tịch là nhằm thực hiện chính sách đại đoàn
kết dân tộc của Đảng và Nhà nước, đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc tế. Chúng ta
sửa luật không những tạo điều kiện cho bà con Việt kiều được hưởng quyền lợi
như người ở trong nước, mà còn bảo đảm được cơ sở pháp lý để chúng ta bảo hộ
công dân của mình ở nước ngoài" ( Tiến sĩ Trần Thất – Vụ trưởng Vụ Hành chính
Tư pháp, Bộ Tư pháp , trích Tuổi trẻ cuối tuần, Chủ nhật 24/02/2008).
2.2 Đăng ký quốc tịch cho người không có quốc tịch :
Theo quy định tại Điều 8 Luật Quốc tịch việt Nam 1998 thì: “Nhà nước
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh
thổ Việt Nam đều có quốc tịch Việt Nam”. Như vậy , theo Luật Quốc tịch Việt
Nam 1998 thì những người không quốc tịch thường trú trên lãnh thổ Việt Nam
muốn có quốc tịch Việt Nam chỉ có một cách duy nhất là nhập quốc tịch Việt
14
Nam. Thực tế hiện nay , số người không quốc tịch , không rõ quốc tịch cư trú trên
lãnh thổ nước ta khá nhiều và chủ yếu là ở những khu vực miền núi , biên giới xa
xôi. Việc làm thủ tục nhập quốc tịch của những người này là rất khó khăn ,bên
cạnh đó thủ tục trình tự giải quyết cho nhập quốc tịch còn rườm rà,phức tạp.
Khoản 1 Điều 40 Dự án Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi)quy định: “trong
thời hạn 3 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực ,người không quốc tịch và người
tịch Việt Nam, nếu việc đó không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt
Nam”. Như vậy, quy định này đã loại bỏ các điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam
được quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 21 Luật năm 1998, chỉ giữ lại
điều kiện quan trọng nhất, đó là: việc trở lại quốc tịch không làm phương hại đến
lợi ích quốc gia của Việt Nam.
16
CHƯƠNG 3 : KẾT LUẬN
Sau khi nghiên cứu đề tài,chúng tôi có một số kết luận cụ thể như sau:
_Việc bỏ Điều 3 trong dự thảo luật Quốc tịch Việt Nam 1998 là hoàn toàn phù
hợp với xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế của nhà nước ta,tạo điều kiện để người
Việt đang sinh sống ở nước ngoài chẳng những hoà nhập tốt với luật pháp nước sở
tại mà vẫn thường xuyên nhận được sự bảo hộ của nhà nước như mọi công dân
đang cư trú trên lãnh thổ.
_Đăng ký quốc tịch Việt Nam cho người không có quốc tịch được quy định cụ thể
tại Khoản 1 Điều 40 của dự thảo ,theo đó cho người không quốc tịch và không rõ
quốc tịch đang cư trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam , tuy tiến bộ
nhưng lại gây nhiều mâu thuẫn vì không phù hợp với quy định 103 Hiến Pháp
1992 : chỉ có Chủ tịch nước mới có thẩm quyền cho người nước ngoài nhập quốc
tịch Việt Nam. Theo chúng tôi các nhà soạn thảo Luật Quốc tịch sửa đổi nên cần
cân nhắc lại, đồng thời cần nghiên cứu để quy định rõ một số điều kiện cho việc
đăng ký có quốc tịch đối với những trường hợp này.
_Theo quy định của dự thảo sửa đổi thì các giấy tờ cũng như thủ tục giải quyết các
vấn đề về quốc tịch đã được đơn giản , tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa công dân
Việt Nam ở trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài, qua đó thu hút thêm
được tài năng,trí tuệ và nguồn lực để xây dựng Tổ quốc,góp phần củng cố khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.