TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: “Thách thức về luật pháp khi Việt
Nam gia nhập WTO”
Mục lục
I. Thực trạng - thách thức của pháp luật Việt Nam trước yêu cầu
gia nhập WTO Trang 1
1. Về việc “văn hoá nước ta lấy cảm tình làm bản vị” và
tinh thần "thượng tôn pháp luật" của nhân dân Việt Nam Trang 1
2. Sự cần thiết thay đổi hệ thống pháp luật Trang 2
II. Những việc cần làm để hội nhập Trang 4
1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Trang 4
2. Xóa bỏ cơ chế điều hành bằng công văn Trang 9
3. Một luật sửa nhiều luật Trang 10
4. Luật pháp đối với một số lĩnh vực Trang 11
5. Những việc cần làm của Quốc hội Trang 12
Đề tài “ Thách thức về luật pháp khi Việt Nam
thị trường thế giới, giành giật thị phần từ những đối thủ khác như đã diễn ra đối với
dệt may, da giày, gạo, cà phê v.v.. Bên cạnh thuận lợi, quá trình này không phải lúc
nào cũng “xuôi chèo mát mái”. Chính vì vậy, việc vào WTO là một điều tất yếu để
giải quyết các vấn đề phát sinh trong khuôn khổ pháp lý và luật lệ chung, được thừa
nhận.
I. Thực trạng - thách thức của pháp luật Việt Nam trước yêu cầu gia nhập WTO:
1. Về việc “văn hoá nước ta lấy cảm tình làm bản vị” và tinh thần "thượng
tôn pháp luật" của nhân dân Việt Nam:
Đáp ứng đòi hỏi của quá trình đàm phán gia nhập WTO, Quốc hội ta đã phải
ban hành 65 luật và pháp lệnh. Chỉ riêng năm 2005 đã có 25 luật và pháp lệnh, những
văn bản pháp lý mới nhất có liên quan trực tiếp đến các nghĩa vụ thành viên của Việt
Nam được gửi đến Ban thư ký WTO.
Trong kiến nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư gia
nhập WTO của Chính phủ có các Phụ lục đính kèm đề cập đến các nội dung áp dụng
trực tiếp cam kết của Việt nam liên quan đến 6 văn bản Luật và danh mục các văn bản
quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung theo lội trình mà ta đã đàm phán được, liên
quan đến 6 văn bản luật và 1 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Rõ ràng là một trong những thách thức lớn nhất khi gia nhập WTO là sự thử
thách về chất lượng pháp luật và năng lực thể chế. Giờ đây, thực hiện những cam kết
không những là nghĩa vụ mà còn là danh dự quốc gia. Thực chất những "cam kết" với
quốc tế không là gì khác ngoài những ràng buộc về pháp luật, luật của đất nước và
luật của quốc tế.
Thế mà đúng vào lúc cần phải phát huy chức năng và thế mạnh của pháp luật
thì cơ quan thực thi pháp luật, nơi thể hiện tập trung nhất và nghiêm minh nhất sức
mạnh của pháp luật là Tòa án nhân dân tối cao lại cho thấy sự yếu kém của "cán cân
công lý". Một quy định mà công an hiểu thế này, viện kiểm sát hiểu thế kia, toà án
hiểu thế khác, hội đồng sơ thẩm hiểu một kiểu, cuối cùng phải biểu quyết (theo báo
Pháp luật Tp. Hồ Chí Minh). Quả thật đây là một thực trạng đáng suy nghĩ và kịp thời
có những quyết sách.
nghị định; 8 quyết định của Thủ tướng; 1 chỉ thị của Thủ tướng; 66 thông tư; 71 quyết
định của bộ trưởng; 1 công văn của các bộ, ngành; 2 văn bản của Tòa án Tối cao).
Tổng số các văn bản quy phạm pháp luật ban hành ở cấp Trung ương được
kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các cam kết WTO là 44 (16 luật, 1 pháp
lệnh, 18 nghị định, 1 quyết định của Thủ tướng; 8 văn bản cấp bộ); được kiến nghị
ban hành là 42 (8 luật, 3 pháp lệnh, 14 nghị định, 17 văn bản ở cấp bộ). Đó là chưa kể
các văn bản cần được ban hành để thực thi quyền lợi của thành viên trong quan hệ
thương mại quốc tế với các nước.
Từ năm 2001 đến 2005, chúng ta đã ký kết gần 700 điều ước quốc tế song
phương và 130 điều ước quốc tế đa phương, tăng gần gấp rưỡi so với số điều ước
quốc tế được ký kết trong giai đoạn 10 năm trước đó.
Tuy thừa nhận hiệu lực áp dụng trực tiếp của các cam kết quốc tế, nhưng Luật
Điều ước quốc tế 2005 chưa giải quyết được mối quan hệ của điều ước quốc tế với
các văn bản quy phạm pháp luật trong nước.
Trong khi chờ đợi để có sự giải thích rõ ràng hơn về địa vị pháp lý của điều
ước quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc gia, cần áp dụng cả khả năng mà Luật điều
ước quốc tế đã tính đến là sửa đổi, bổ sung, ban hành mới luật để chuyển hóa các quy
định của Nghị định thư gia nhập WTO vào pháp luật Việt Nam, để đem lại sự rõ ràng
cho các cá nhân, tổ chức có liên quan, cũng như để chứng tỏ sự minh bạch trong việc
thực thi các cam kết của Việt Nam.
Môi trường pháp lý chưa thật đồng bộ và có điểm chưa đầy đủ theo thông lệ
quốc tế. Ðể gia nhập WTO, Việt Nam phải phê chuẩn một Công ước quốc tế và xây
dựng mới, sửa đổi, bổ sung hơn 20 luật, pháp lệnh cho phù hợp 16 Hiệp định chính
của WTO. Hệ thống pháp luật Việt Nam tuy đã được khẩn trương xây dựng để đáp
ứng yêu cầu mới, nhưng trong các thông tư hướng dẫn của các ngành còn một số bất
cập, thiếu đồng bộ. Ðây là thách thức không chỉ ảnh hưởng việc thực hiện đầy đủ các
cam kết khi gia nhập WTO, mà còn là vướng mắc đối với các doanh nghiệp nước ta.
Nhiều rào cản thủ tục hành chính chưa thông thoáng. Ðiều đó các doanh nghiệp
không thể tự tháo gỡ. Việc xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp môi trường pháp lý
WTO không chỉ đơn thuần vì hội nhập kinh tế quốc tế, vì gia nhập WTO, mà thực