Thách thức về luật pháp khi Việt Nam gia nhập WTO - Pdf 23

Thách thức về luật pháp khi Việt Nam gia nhập WTO
I. Thực trạng - thách thức của pháp luật Việt Nam trước yêu cầu gia nhập WTO:
1. Về việc “văn hoá nước ta lấy cảm tình làm bản vị” và tinh thần "thượng tôn
pháp luật" của nhân dân Việt Nam:
Đáp ứng đòi hỏi của quá trình đàm phán gia nhập WTO, Quốc hội ta đã phải ban
hành 65 luật và pháp lệnh. Chỉ riêng năm 2005 đã có 25 luật và pháp lệnh, những văn bản
pháp lý mới nhất có liên quan trực tiếp đến các nghĩa vụ thành viên của Việt Nam được
gửi đến Ban thư ký WTO.
Trong kiến nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư gia nhập
WTO của Chính phủ có các Phụ lục đính kèm đề cập đến các nội dung áp dụng trực tiếp
cam kết của Việt nam liên quan đến 6 văn bản Luật và danh mục các văn bản quy phạm
pháp luật cần sửa đổi, bổ sung theo lội trình mà ta đã đàm phán được, liên quan đến 6 văn
bản luật và 1 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Rõ ràng là một trong những thách thức lớn nhất khi gia nhập WTO là sự thử thách
về chất lượng pháp luật và năng lực thể chế. Giờ đây, thực hiện những cam kết không
những là nghĩa vụ mà còn là danh dự quốc gia. Thực chất những "cam kết" với quốc tế
không là gì khác ngoài những ràng buộc về pháp luật, luật của đất nước và luật của quốc
tế.
Thế mà đúng vào lúc cần phải phát huy chức năng và thế mạnh của pháp luật thì cơ
quan thực thi pháp luật, nơi thể hiện tập trung nhất và nghiêm minh nhất sức mạnh của
pháp luật là Tòa án nhân dân tối cao lại cho thấy sự yếu kém của "cán cân công lý". Một
quy định mà công an hiểu thế này, viện kiểm sát hiểu thế kia, toà án hiểu thế khác, hội
đồng sơ thẩm hiểu một kiểu, cuối cùng phải biểu quyết (theo báo Pháp luật Tp. Hồ Chí
Minh). Quả thật đây là một thực trạng đáng suy nghĩ và kịp thời có những quyết sách.
Điều này có nguyên nhân xã hội của nó. Dễ thấy nhất là cái quán tính trọng tình
hơn lý vốn có sức trì kéo triền miên trong suốt chiều dài lịch sử. Thậm chí ngay tại công
đường mà quan tòa còn quen lối ứng xử "đã đưa đến trước cửa công, ngoài thì là lý nhưng
trong là tình". Lối ứng xử ấy đối lập hoàn toàn với tinh thần "thượng tôn pháp luật", một
thuộc tính của xã hội hiện đại.
Nhưng ngay khi đất nước bước vào thời kỳ thực hành công nghiệp hoá và hiện đại
hoá thì biến tướng của lối ứng xử ấy lại vẫn in đậm trong thói quen vận hành guồng máy

(8 luật, 3 pháp lệnh, 14 nghị định, 17 văn bản ở cấp bộ). Đó là chưa kể các văn bản cần
được ban hành để thực thi quyền lợi của thành viên trong quan hệ thương mại quốc tế với
các nước.
GV: TS. Phạm Văn Chắt HV: Trần Thị Trúc Giang
2
Thách thức về luật pháp khi Việt Nam gia nhập WTO
Từ năm 2001 đến 2005, chúng ta đã ký kết gần 700 điều ước quốc tế song phương
và 130 điều ước quốc tế đa phương, tăng gần gấp rưỡi so với số điều ước quốc tế được ký
kết trong giai đoạn 10 năm trước đó.
Tuy thừa nhận hiệu lực áp dụng trực tiếp của các cam kết quốc tế, nhưng Luật Điều
ước quốc tế 2005 chưa giải quyết được mối quan hệ của điều ước quốc tế với các văn bản
quy phạm pháp luật trong nước.
Trong khi chờ đợi để có sự giải thích rõ ràng hơn về địa vị pháp lý của điều ước
quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc gia, cần áp dụng cả khả năng mà Luật điều ước quốc
tế đã tính đến là sửa đổi, bổ sung, ban hành mới luật để chuyển hóa các quy định của Nghị
định thư gia nhập WTO vào pháp luật Việt Nam, để đem lại sự rõ ràng cho các cá nhân, tổ
chức có liên quan, cũng như để chứng tỏ sự minh bạch trong việc thực thi các cam kết của
Việt Nam.
Môi trường pháp lý chưa thật đồng bộ và có điểm chưa đầy đủ theo thông lệ quốc
tế. Ðể gia nhập WTO, Việt Nam phải phê chuẩn một Công ước quốc tế và xây dựng mới,
sửa đổi, bổ sung hơn 20 luật, pháp lệnh cho phù hợp 16 Hiệp định chính của WTO. Hệ
thống pháp luật Việt Nam tuy đã được khẩn trương xây dựng để đáp ứng yêu cầu mới,
nhưng trong các thông tư hướng dẫn của các ngành còn một số bất cập, thiếu đồng bộ. Ðây
là thách thức không chỉ ảnh hưởng việc thực hiện đầy đủ các cam kết khi gia nhập WTO,
mà còn là vướng mắc đối với các doanh nghiệp nước ta. Nhiều rào cản thủ tục hành chính
chưa thông thoáng. Ðiều đó các doanh nghiệp không thể tự tháo gỡ. Việc xây dựng hệ
thống pháp luật phù hợp môi trường pháp lý WTO không chỉ đơn thuần vì hội nhập kinh tế
quốc tế, vì gia nhập WTO, mà thực chất là vì sự phát triển của chính nền kinh tế Việt Nam
nói chung, của các doanh nghiệp trong nước nói riêng.
Chúng ta đã chủ động đổi mới thể chế kinh tế quốc tế và quá trình này diễn ra theo

trợ giúp pháp lý đòi hỏi Nhà nước phải tự thay đổi mình. Phải hoàn thiện hệ thống luật
pháp, phải đưa ra được chủ trương, chính sách tốt và kịp thời, đồng thời, phải nâng cao
năng lực thể chế, xây dựng bộ máy đủ sức mạnh thực thi các chủ trương, chính sách ấy có
hiệu quả. Cải cách hành chính, xóa bỏ tiêu cực, trước hết là tập quán xin - cho, làm trong
sạch bộ máy các cấp... đó là sự trợ giúp "đúng luật" để hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao
năng lực cạnh tranh.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, nhằm hình thành nhanh và đồng
bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết.
Trước hết tập trung vào soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực thi các luật mới ban hành,
bảo đảm cụ thể, công khai, minh bạch phù hợp với nội dung của luật; Xoá bỏ mọi hình
thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hoá
GV: TS. Phạm Văn Chắt HV: Trần Thị Trúc Giang
4
Thách thức về luật pháp khi Việt Nam gia nhập WTO
và dịch vụ. Đối với những mặt hàng hiện còn áp dụng cơ chế nhà nước định giá, phải xác
định lộ trình thực hiện nhanh giá thị trường để các doanh nghiệp tính toán lại phương án
sản xuất kinh doanh;
Công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc, người chịu
trách nhiệm ở tất cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ
công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện. Công
khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý là một trong những tiêu chí của xã hội
"công bằng, dân chủ, văn minh" và là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Gia nhập WTO chúng ta có hệ thống luật pháp minh bạch, rõ ràng, dễ dự đoán thu
hút các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài. Vì trong đàm phán WTO chúng ta có hai loại:
đa phương và song phương. Với đa phương yêu cầu đầu tiên là phải minh bạch hóa chính
sách. Chúng ta đã trả lời hơn 3.000 câu hỏi liên quan chính sách kinh tế, đầu tư, tài chính,
ngân hàng. Chính vì vậy mà trong đoàn đàm phán chính phủ của chúng ta đã phải bao gồm
tất cả các bộ, ngành tham gia để đảm đương được khối lượng công việc lớn, trả lời nhiều
vấn đề liên quan kinh tế, thương mại. Chúng ta phải có chương trình xây dựng pháp
luật. Gia nhập WTO chúng ta phải có các văn bản pháp luật liên quan các hiệp định, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status