Bất bình đẳng giới
LỜI CẢM ƠN
“Kinh tế và Chính sách phát triển vùng” thực sự là môn học đầy thú vị và hàm
chứa nhiều mảng kiến thức thực tế. Chúng em vô cùng hạnh phúc và hứng thú khi
được học, được nghe thầy Đào Duy Minh giảng về môn học này. Thông qua môn học,
chúng em có thể hiểu được sự phát triển của một vùng phụ thuộc vào rất nhiều các yếu
tố khách quan và chủ quan, đồng thời sự phát triển của vùng (quốc gia hay lãnh thổ)
nào đó không chỉ dựa vào sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế mà chính là sự
phối hợp hài hòa giữa kinh tế - xã hội – môi trường. Đây cũng là vấn đề nan giải mà
đòi hỏi lãnh đạo ở các cấp địa phương,các ngành chú trọng khi đưa ra một chính sách
phát triển vùng. Ngoài ra các doanh nghiệp, cộng đồng người dân nên quan tâm đến
điều này khi thực hiện việc kinh doanh, các hoạt động trong cuộc sống. Trong quá
trình phát triển của một vùng sẽ có rất nhiều các yếu tố, các vấn đề nảy sinh đòi hỏi
lãnh đạo các cấp các ngành đề ra các hướng giải pháp xử lí thích hợp. Một trong các
vấn đề nổi trội hiện nay là vấn đề về “Bình đẳng giới”.
Bất bình đẳng giới là chủ đề rất được quan tâm trên thế giới hiện nay. Nhóm
chúng em rất vui khi được thầy tin tưởng giao cho nhiệm vụ thực hiện nghiên cứu và
báo cáo về đề tài này. Trên cơ sở đề tài mang tính mở cao cùng với sự góp ý giúp đỡ
của thầy, nhóm đã giới hạn phạm vi nghiên cứu và chọn tên đề tài : “Thực trạng bất
bình đẳng giới ở Việt Nam trong những năm gần đây. Một số định hướng và giải
pháp”. Trong quá trình thực hiện, nhóm chúng em đã gặp không ít khó khăn về việc
thu thập số liệu, các thông tin liên quan đến bất bình đẳng giới hiện nay. Tuy nhiên
được sự động viên kịp thời cũng như sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của thầy đã giúp
chúng em hoàn thiện bài báo cáo tốt hơn. Chúng em vô cùng biết ơn sự ân cần, nhiệt
tình giúp đỡ của thầy và cho nhóm em gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy.
Tuy nhiên, bài báo cáo sẽ không tránh khỏi một số sai sót, nhóm mong thầy
cùng với tất cả các bạn thông cảm và góp ý chân thành để nhóm có thể hoàn thiện bài
một cách tốt nhất. Nhóm xin cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm chia sẻ của các bạn về đề
tài.
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
của nhiều nước trên thế giới.
Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân làm tăng đói nghèo, cản trở việc chăm
sóc sức khỏe dân cư, hạn chế các cơ hội làm tăng thu nhập và gây nên hàng loạt tổn
thất cho xã hội. Theo số liệu thống kê của Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFP), dân số
thế giới đã tăng lên rất nhiều. Trong đó, phụ nữ chiếm 51.8% dân số và 52% lực lượng
lao động. Tuy nhiên, sự mất bình đẳng giữa nam và nữ trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng trong nhiều lĩnh vực vẫn đang là vấn đề nóng gây xôn xao dư luận. Ở
nước ta hiện nay, tuy bước vào thời đại mới nhưng những định kiến cũ như “Trọng
nam khinh nữ”, “Đàn bà chỉ cần ở nhà sinh con trai và lo việc bếp núc là đủ”… vẫn
còn rất phổ biến. Cứ như thế người phụ nữ dần dần không còn khả năng thể hiện năng
lực của bản thân trong các hoạt động xã hội.
Do vậy, nhóm quyết định chọn đề tài về bất bình đẳng giới ở Việt Nam. Đây
không phải là đề tài “mới mẻ” cũng không phải “ cũ kĩ” nhưng cũng không bao giờ là
vấn đề “lỗi thời” bởi đây là vấn đề đang có nhiều tranh cãi và là vấn đề “nóng” của dư
luận hiện nay. Chọn đề tài này, nhóm muốn một phần nào đó đi sâu vào đánh giá thực
trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ ở Việt Nam trong các lĩnh vực, đồng thời cũng đề
ra được những định hướng, giải pháp cần thiết để hạn chế hiện tượng này. Vì vậy, đề
tài nhóm quyết định nghiên cứu là:“Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong
những năm gần đây. Một số định hướng và giải pháp”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam. Đề ra định
hướng và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam
góp phần thúc đẩy tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, gia tăng việc làm,
tạo cơ hội để bình đẳng trong các lĩnh vưc cho cả nam và nữ.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống lại cơ sở lý luận và thực tiễn về bình đẳng giới nhằm giải thích cho tình trạng
bất bình đẳng giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các nguyên nhân gây ra hiện tượng bất bình
đẳng giới để kịp thời có biện pháp khắc phục, hiểu rõ tình trạng bất bình đẳng giới
1.4.1 Đối tượng nhiên cứu đề tài
Hiện nay với sự phát triển và hòa nhập kinh tế thế giới, kinh tế Việt nam đã
có những bước tiến mới đời sống an sinh dần đi vào ổn định và được nâng cao nhưng
tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong xã hội Việt nam.
Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này và phương tiện thông tin
đại chúng cũng vậy nhưng bất bình đẳng vấn là một vấn đề mang tính bức xúc cao. Do
đó, nhóm quyết định đi sâu vào nghiên cứu thực trạng bất bình đẳng ở Việt Nam và đề
xuất giải pháp hạn chế hiện tượng này.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
-Về không gian: Ở Việt Nam.
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
-Về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn gần đây đặc biệt giai đoạn 2009-2011.
1.5 Kết cấu đề tài
Chương I: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Chương II: Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam trong những năm gần đây
đặc biệt giai đoạn 2009-2011.
Chương III: Định hướng và giải pháp.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm về giới, bình đẳng giới và bất bình đẳng giới
1.1.1.1 Giới
Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng
liên quan đến nam và nữ. Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trò quyết định đến cơ
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế.
Giới chỉ khác biệt về xã hội và quan hệ về quyền lực giữa trẻ em trai và trẻ em gái,
giữa phụ nữ và nam giới được hình thành và khác nhau trong một nền văn hóa, giữa
- Chỉ số bình đẳng giới (GII- Gender Inequality Index). Giá trị đo lường được
tính trong khoảng từ 0-1. GII càng tiệm cận điểm 0 thì mức độ bất bình đẳng càng
thấp, tức càng bình đẳng và càng tiệm cận điểm 1 thì mức độ bất bình đẳng càng cao.
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
- Chỉ số phát triển giới (GDI). Chỉ số này phản ánh những thành tựu trong các
khía cạnh tương tự như HDI (Tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập) nhưng lại điều
chỉnh các kết quả đó theo bất bình đẳng giới. Trong mỗi nước, nếu giá trị của GDI
càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giới tính càng ít.
- Thước đo vị thế giới (GEM). Thước đo này tập trung xem xét cơ hội của phụ nữ chứ không
phải là khả năng (năng lực) của họ. Nó chỉ ra sự bất bình đẳng giới ở 3 khía cạnh.
+ Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định- được đo bằng tỷ lệ có
ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới.
+ Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định- được đo bằng tỷ lệ các vị
trí lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các vị trí trong ngành
kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm.
Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:
- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mức thu
nhập hay giai đoạn phát triển.
- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụ nữ.
- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bậc về sự bất bình đẳng giới
nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt cuộc sống ở nước ta và các nước
trên thế giới.
1.1.3 Các đặc điểm của bình đẳng giới
- Tính ngang quyền: Để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và cơ
hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Tính ưu đãi: Do đặc điểm sinh học và khả năng sinh sản của phụ nữ có sự khác biệt, để
đạt được bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối
với phụ nữ.
- Tính linh hoạt: Sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn
được hưởng quyền đó một cách trọn vẹn. Ở một số vùng như Đông Á và Thái Bình
Dương, châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, châu Âu và Trung Á, tỷ lệ tiểu học của các bé
gái đạt 100% hoặc gần 100%, tỷ lệ nữ sinh trung học bình quân hiện nay đã cao hơn
nam giới và xét trung bình, số năm đi học của phụ nữ đã bằng khoảng 90% của nam
giới. Về tài sản, ở Bangladesh, tài sản của người đàn ông khi lấy vợ trung bình trị giá
khoảng 82.000 taka, còn phụ nữ chỉ có 6.500 taka. Ở Etiopia, tổng tài sản kể cả đất đai
và vật nuôi mà người đàn ông mang theo khi lấy vợ trung bình giá trị 4.200 birr và
người phụ nữ thì chưa đến 1.000 birr. Điều này làm người phụ nữ trên thế giới dần
không có địa vị kinh tế trong gia đình và kèm theo đó là chịu sự tác động của người
đàn ông. Ở các nước đang phát triển, việc đứng tên và làm chủ đất đai phần lớn thuộc
về nam giới. Tại nhiều nơi ở han Sahara, phụ nữ chỉ có quyền đất đai thông qua hôn
nhân và chỉ được đảm bảo khi hôn nhân còn tồn tại và khi ly hôn thì quyền sở hữu
chấm dứt. Ở Nigeria, các nông trại mà người phụ nữ được làm chủ chỉ bằng 1/3 diện
tích mà nam giới làm chủ (0,8 ha và 2,4 ha). Ở các nông trại và doanh nghiệp nếu
người phụ nữ điều hành và làm chủ vốn được đầu tư thường rất ít. Ở Kenya, các hộ gia
đình do phụ nữ làm chủ hộ sở hữu chưa bằng một nữa số nông cụ mà các hộ gia đình
do nam giới làm chủ hộ sở hữu, 92% phụ nữ sử dụng phương pháp canh tác thủ công,
32% nam giới sử dụng kỹ thuật cơ giới và gia súc kéo. Ở Malauy, phân bón mà nữ sở
hữu chỉ bằng một nữa của nam. Về việc làm, ở các nước phát triển hay đang phát triển,
phụ nữ thường hiện diện trong các ngành nghề lĩnh vực dịch vụ, văn phòng, bán hàng
còn nam giới xuất hiện trong các lĩnh vực sản xuất, các vị trí hành chính và quản lý
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
được trả lương cao. Mức thù lao phụ nữ nhận được thường thấp hơn nam giới. Chênh
lệch thu nhập theo thống kê mới nhất năm 2011 thu nhập hai giới phổ biến trong
khoảng 0.6-0.75. Trong số các nước phát triển, tỷ lệ thu nhập của nữ so với nam biến
thiên từ 43% ở Nhật Bản (1993-1994) đến 87% ở Đan Mạch (1995). Ở các nước đang
phát triển, tỷ lệ đó thay đổi từ 43% ở Nicagagoa (1991) đến 90% ở Thái Lan (1989) và
101% ở Chi Lê (1996). Với những đặc điểm điều kiện khác nhau thì ở Hàn Quốc mức
lương phụ nữ bằng 51% mức lương nam giới. Về mặt chính trị, do địa vị kinh tế-xã
quan hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính
trị xã hội nghề nghiệp…
Ở Việt Nam phụ nữ cũng có một tổ chức chính trị riêng của mình đó là Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (thành lập ngày 20/10/1930) hoạt động vì sự bình đẳng,
phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.
Bình đẳng giới trong các lĩnh vực xã hội:
Theo “Báo cáo phát triển con người, 2011” của UNDP, trình độ học vấn của
phụ nữ Việt Nam (từ 25 tuổi trở lên) đã hoàn thành chương trình giáo dục cấp 2 trở lên
là 24,7% so với 28% là của nam giới. Mức độ chênh lệch giữa nam và nữ còn khá
nhiều nhưng vẫn có thể giải quyết được.
Theo Kết quả chủ yếu của Điều tra Dân số-KHHGĐ 1/4/2011 của Tổng cục
Thống kê (TCTK) thì tỷ lệ biết chữ của nam giới là 96,2% và của nữ giới là 92,2% (từ
15 tuổi trở lên). Trang Wikipedia dẫn nguồn từ website Quốc hội thì tại Việt Nam, cứ
100 cử nhân có 36 nữ, 100 thạc sĩ có 34 nữ, 100 tiến sĩ có 24 nữ. Như vậy trong các
lĩnh vực xã hội tình trạng bất bình đẳng diễn ra đã thấp hơn rất nhiều so với các năm
trước đó.
Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 của TCTK thì tỷ lệ nữ tham gia
lao động là 46,6% trong tổng số lao động. Như vậy, tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia lao
động vẫn thấp hơn so với nam giới nhưng không đáng kể.
Ở Việt Nam có trên 20% tổng số doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, chủ yếu
thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông sản, thủy sản. Nhiều
tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không những chỉ làm giàu cho bản thân mà còn
đóng góp được nhiều cho xã hội.
Theo UNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm được 1$ thì nữ giới sẽ kiếm
được 0,69$ (số liệu năm 2007). Khi phụ nữ có việc làm, họ sẽ có thu nhập và mang
đến sự tự chủ về kinh tế, sự chia sẻ các quyết định trong gia đình và các cơ hội bình
đẳng hơn đối với phụ nữ.
Có thể thấy ở Việt Nam tình trạng bất bình đẳng đang dần được cải thiện khá
nhiều nhưng trong một số lĩnh vực thì tình trạng bất bình đẳng vẫn còn như trong cân
bằng cuộc sống gia đình,… vì vậy nhà nước, các cơ quan ban ngành có chức năng cần
TSGTKS tăng ở những nước có nền văn hóa tương đồng (ưa thích sinh con trai hơn
con gái) như Việt Nam nhưng chưa có nước nào lại có tốc độ gia tăng nhanh như ở
nước ta. Nếu không có giải pháp tích cực sự mất cân bằng giới tính này sẽ để lại
những hệ lụy nặng nề, gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương
lai và tác động xấu đến trật tự an ninh xã hội.Đây là vấn đề xã hội được đặc biệt quan
tâm.
2.2 Những quy định của pháp luật liên quan đến bất bình đẳng ở nước ta
hiện nay
Bình đẳng giới và quyền phụ nữ là quyền hiến định.Nguyên tắc bình đẳng đã được
khẳng định ngay trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946 “tất cả các công dân Việt Nam đều
ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá” và “đàn bà ngang quyền với
đàn ông về mọi phương diện” và được tái khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 “công dân
nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá và gia đình. Nghiêm
cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm người phụ nữ”.
Nội dung bình đẳng giới cũng được quy định trong các Luật và Bộ luật điều chỉnh
cáclĩnh vực của đời sống xã hội. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 quy định “công
dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành
phần xã hội, tín ngưỡng, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời gian cư trú, đủ mười tám tuổi
trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đề có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 còn
quy định rõ “số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ
Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng”.
Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Bảo vệ sức khỏe khỏe nhân dân năm 1989,
“công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể;
được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và
được phục vụ về chuyên môn y tế” và một trong những nguyên tắc trong hành nghề
khám bệnh, chữa bệnh theo Luật Khám, chữa bệnh là “bình đẳng, công bằng và không
bình đẳng giới, nội dung và cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới và các hành vi
bị nghiêm cấm.
Chương II gồm 8 Điều (từ Điều 11 đến Điều 18) về bình đảng giới trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, gồm: chính trị; kinh tế; lao động ; giáo dục và
đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và gia đình.
Chương III gồm 6 Điều (từ Điều 19 đến Điều 24) vềcác biện pháp bảo đảm
bình đẳng giới, gồm các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, lồng ghép vấn đề bình
đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thông tin, giáo dục, truyền
thông về giới và bình đẳng giới và nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới.
Chương IV gồm 10 Điều (từ Điều 25 đến Điều 34) về trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức,gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và đảm bảo bình đẳng giới.
Chương V gồm 8 Điều (từ Điều 35 đến Điều 42) về thanh tra, giám sát và xử
lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Chương VI gồm 2 Điều (Điều 43 và Điều 44) về điều khoản thi hành, gồm:
hiệu lực và hướng dẫn thi hành.
Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng
giới bao gồm:
- Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
- Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
- Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
- Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
- Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.
Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng xác định những điểm cốt yếu trong chính
sách của Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới, bao gồm:
- Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như
nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.
- Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều
kiện đểnam, nữ chia sẻ công việc gia đình.
vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một
trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực.
Chiến lược quốc qia về bình đẳng giớigiai đoạn 2011-2020 (được phê duyệt tại
Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ)
với Mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa
nam và nữvề cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước và các mục
tiêu cụ thể, gồm:
Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh
đạo,nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị;
Mục tiêu 2: Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm;
tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số
đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động;
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
Mục tiêu 3: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự
tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo;
Mục tiêu 4: Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe;
Mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin;
Mục tiêu 6: Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ
bạo lực trên cơ sở giới
Mục tiêu 7: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng
(1) Điều 6 Hiến pháp 1946
(2) Điều 9 Hiến pháp 1946
(3) Điều 63 Hiến pháp 1992
(4) Điều 2
(5) Điều 10
(6) Điều 1
(7) Điều 3
cao hơn đáng kể so với chuẩn sinh học bình thường dao động trong khoảng 104-106
trẻ em trai cho 100 trẻ em gái.
Từ năm 2011, dấu hiệu gia tăng tỷ lệ sinh con trai từ số liệu các cuộc điều tra
dân số hàng năm của Tổng cục Thống kê (TCTK)vẫn không hề giảm. Tỷ số khi sinh
có thể coi là một trong các chỉ số để đo vị thế của phụ nữ ở khía cạnh bất bình đẳng
giới, tỷ số này càng cao càng rõ ràng nhận thấy đây là hậu quả của tư tưởng thích con
trai hơn con gái và phá thai có sự lựa chọn giới tính. Bất kể một sự thay đổi đáng kể
nào của tỷ suất này chênh lệch khỏi mức sinh học bình thường điều này phản ánh
những can thiệp có chủ đích ở các mức độ khác nhau đến sự mất cân bằng tự nhiên. Ở
Việt Nam tỷ số giới tính khi sinh tăng rất nhanh trong giai đoạn 2009-2011.
Theo đánh giá của các chuyên gia vào năm 2009 thì Việt Nam cũng có rất nhiều
khả năng đạt được mục tiêu xóa bỏ khoảng cách về giới ở bậc giáo dục tiểu học và
trung học. Tuy nhiên, sân chơi vẫn chưa bằng phẳng, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phải
đối mặt với những thách thức và trở ngại.Tỷ lệ tham gia của phụ nữ ở một số ngành,
nghề quá cao, nhưng ở một số ngành nghề khác lại quá thấp.Nam giới được hưởng lợi
nhiều hơn từ những công việc đi kèm với quyền lực và quyền gia quyết định.Ngoài ra,
vấn đề bạo lực gia đình và tình dục vẫn phổ biến.Theo Liên Hiệp Quốc năm 2011 ít
nhất cứ ba phụ nữ thì có một người có thể bị đánh, bị ép quan hệ tình dục hoặc làm
nhục trong đời. Tỉ lệ phá thai thuộc hàng cao nhất thế giới- trung bình một phụ nữ Việt
Nam có 3,32 lần phá thai trong đời. Người ta thấy có vết nứt kinh tế và xã hội phân rẽ
người phụ nữ nông thôn với người thành thị, trong khi nạn mại dâm và buôn người
vẫn là “tệ nạn xã hội” chưa giải quyết.
Những bất cập này dường như cho thấy rằng các quan niệm phương Tây về
bình đẳng giới- được định nghĩa bởi những mô hình phát triển và được thực hiện bởi
một chính phủ quyết tâm gia nhập thế giới công nghiệp hóa - thật xa lạ trước hiện thực
xã hội của người phụ nữ Việt Nam.
2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới
2.4.1 Tư tưởng định kiến
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
đình ở Việt Nam là quan niệm xã hội: “Công việc nội trợ là thiên chức của Phụ nữ”.
Không những thế,xã hội còn đánh giá thấp ý nghĩa của các công việc gia đình làm cho
nam giới thiếu động lực trong việc chia sẽ công việc gia đình với phụ nữ.Vấn đề giải
phóng phụ nữ trong gia đình chưa được đặt một cách tương xứng với yêu cầu đổi mới
kinh tế, xã hội, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Phụ nữ phải phụ thuộc, yếu đuối,
thụ động, nam giới là độc lập, mạnh mẽ có năng lực và là người ra quyết định. Chồng
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng. Nam là trụ cột trong gia đình, có quyền
quyết định những việc lớn quan trọng trong gia đình, nữ có trách nhiệm nuôi dạy con
cái, nội trợ trong nhà. Nam giỏi việc xã hội,nữ phải giỏi việc nhà.
Do đặc tính của công việc một số ngành nghề đòi hỏi phải có sức khỏe như việc
đánh bắt cá ngoài khơi,các nghành công nghiệp nặng,khai thác khoáng sản,xây dựng…
ngược lại có những ngành lao động nữ cao hơn nam giới. Trên bình diện toàn bộ nền kinh
tế, lao động nữ gần như cân bằng với nam giới (chiếm 48,6% tổng số lao động). Nhiều
ngành đã có tỷ lệ nam - nữ khá cân bằng. Những ngành có tỷ lệ phụ nữ làm việc cao là:
Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và
dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình (87,8%), Giáo dục và đào tạo (68,8%), Dịch vụ lưu
trú và ăn uống (68,2%). Một số ngành có tỷ lệ lao động nữ thấp là: Vận tải kho bãi
(9,2%), Xây dựng (11,0%), Sản xuất và phân phối điện, khí đốt (17,6%).
(Nguồn biểu 2.5 tỷ trọng lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên theo giới tính
và ngành nghề kinh tế, 1/9/2009.)
2.4.3 Nhận thức xã hội
Nguyên nhân căn bản dẫn tới hiện tượng bất bình đẳng giới là nhận thức xã hội
về vấn đề này chưa thấu đáo, đặc biệt là nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức,
lãnh đạo, quản lý và nhân dân. Mặt nhận thức của nhân dân còn hạn chế, công tác
tuyên truyền bình đẳng giới còn nhiều hạn chế, chưa thiết thực, chưa phù hợp và chưa
đi sát vào dân, nên hiệu quả nâng cao nhận thức của nhân dân còn hạn chế. Mặt khác,
trong Báo cáo về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam qua các bằng chứng từ
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, trình độ học vấn của người mẹ quan hệ tương
nhiên, đe dọa sự ổn định dân số toàn cầu. Sự gia tăng bất thường về tỷ số giới tính khi
sinh của Việt nam trong những năm gần đây đang là mối quan tâm hàng đầu của các
nhà lập chính sách, các cơ quan thông tin đại chúng cũng như các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước. Sau đây là tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam trong những năm
gần đây:
Bảng 1 : Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
ĐVT: %
Năm điều
tra
Nguồn Thời gian điều tra SRB
2005 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2005 106,0
2006 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2006 109,8
2007 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2007 111,6
2008 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2008 112,1
Nhóm 2 – Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Bất bình đẳng giới
2009 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2009 110,5
2010 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2010 111,2
2011 Điều tra dân số hằng năm 1/4/2011 111,9
(Nguồn: Báo cáo Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình, 1/4/2011)
ĐVT: %
Biểu đồ 1 : Biểu đồ thể hiện tỷ số giới khi sinh (SRB) của Việt Nam giai đoạn
2005 - 2011
(Nguồn: Điều tra dân số hàng năm)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam trong giai đoạn
2005-2008 không ngừng tăng lên. Năm 2005 tỷ số giới tính khi sinh là 106 bé trai trên
100 bé gái được sinh ra thì tỷ số này năm 2008 là 112,1 tăng 6,1. Nhưng đến năm 2009
tỷ số giới tính khi sinh giảm xuống còn 110,5 bé trai trên 100 bé gái. Đây là một dấu
hiệu đang mừng nhưng sự giảm xuống này chưa được bao lâu thì lại tăng lên vào năm
2010 và tăng hơn nữa vào năm 2011(năm 2011 tỷ số này tăng đến 111,9). Từ năm
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
(+/-)
Tỷ lệ
(%)
Toàn quốc 2,3 2,09 -0,2 -0,19
Thành thị 5,2 4,77 0 0
Nông thôn 1,4 1,27 -0,3 -0,27
ĐVT:%
Biểu đồ 2 : Tỷ số giới tính khi sinh phân chia theo thành thị/nông thôn giai đoạn
2006 - 2011
(Nguồn: Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình)
Tỉ số giới tính khi sinh ở thành thị và nông thôn nhìn chung đều có xu hướng tăng
lên rõ rệt. Cụ thể là năm 2006 SRB ở là 109,0 thì đến năm 2011 tỉ số này tăng lên đến
114,2, còn ở nông thôn năm 2006 SRB là 110,1 đã tăng lên 111,1 vào năm 2011. Tỷ số
giới tính khi sinh vượt quá mức tự nhiên là hệ quả của quan niệm thích con trai dẫn đến
hành vi lựa chọn giới tính thai nhi ở các cặp vợ chồng khi mang thai. Việc sử dụng siêu
âm để biết giới tính thai nhi hiện rất phổ biến. Tỷ lệ phụ nữ mang thai biết giới tính thai
nhi trước khi sinh tăng đều qua các năm, đặc biệt là ở nông thôn. Chẳng hạn, năm 2006 tỷ
lệ này ở nông thôn là 56,6% thì năm 2011 là 74,8%, các tỷ lệ tương ứng ở thành thị là
83,1% và 82,5%. Khi mang thai, hầu hết phụ nữ có tâm lý muốn biết sớm giới tính thai
nhi. Trên phạm vi cả nuớc, có một tỷ lệ rất ít phụ nữ mong muốn mình sẽ sinh con gái
(11%), tỷ lệ phụ nữ muốn sinh con trai cao gần gấp ba lần số phụ nữ muốn sinh con gái
(31%).Lựa chọn giới tính thai nhi sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về xã hội do
thiếu phụ nữ và mất cân bằng giới tính của dân số trong tương lai. Chiến lược quốc gia về
Bình đẳng giới đề ra chỉ tiêu là tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh
trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020. Đây là một trong những
lĩnh vực cần đặc biệt quan tâm với các biện pháp giáo dục và y tế kiên quyết nhằm phấn
đấu đạt chỉ tiêu nói trên trong thời gian tới.