Một số định hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động thị trường nhằm tăng hiệu quả tiêu thụ thuốc lá ở Nhà máy thuốc lá Thăng Long - Pdf 64

Một số định hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động thị trường nhằm tăng hiệu quả tiêu thụ thuốc
lá ở Nhà máy thuốc lá Thăng Long
Nội dung chương này bao gồm:
Điểm qua về môi trường ngành thuốc lá Việt Nam
Các định hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động thị trường ở Nhà máy
thuốc lá Thăng Long
I. Điểm qua những nét chính về môi trường ngành thuốc lá Việt Nam
1. Các quy định pháp luật về sản xuất kinh doanh thuốc lá:
1. Chỉ thị số 278/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 7/8/1990 về
việc cần nhập khẩu và lưu thông thuốc lá điếu của nước ngoài trên thị
trường Việt Nam. Nội dung chủ yếu:
Thuốc lá là mặt hàng được khuyến khích sản xuất và tiêu dùng, hiện nay
năng lực sản xuất thuốc lá điếu của chúng ta có thể đáp ứng đủ nhu cầu
tiêu dùng ở tỏng nước, việc nhập khẩu, nhập lậu, lưu thông thuốc lá
ngoại không những ảnh hưởng tới việc sản xuất thuốc lá trong nước mà
còn tiêu tốn một lượng ngoại tệ khá lớn hàng năm (khoảng vài trăm
triệu USD/năm). Kể từ ngày 01/10/1990 cấm hoàn toàn việc lưu thông
và tiêu thụ thuốc lá điếu nhập ngoại trên thị trường nội địa. Những loại
thuốc lá mang nhãn hiệu nước ngoài mà được phép sản xuất tại Việt
Nam đều phải ghi rõ “sản xuất tại Việt Nam”.
2. Quyết định số 392-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày
12/11/1990 về việc chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và lưu thông
thuốc lá điếu. Nội dung chủ yếu:
Kể từ ngày 15/11/1990 tạm thời đình chỉ xây dựng mới các cơ sở sản
xuất thuốc lá điếu, bất kể nguồn vốn nào mà chỉ tập trung đầu tư chiều sâu cho
các cơ sở sản xuất thuốc lá hiện có để cải tiến mặt hàng, nâng cao sản lượng
chất lượng thuốc lá điếu.
3. Thông báo số 47/TB- Thông báo kết luận của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng Võ Văn Kiệt về việc thành lập Đề án đầu tư phát triển ngành
thuốc lá ban hành ngày 28/05/1992. Nêu rõ:
Hiện nay, công suất của các Nhà máy sản xuất thuốc lá đã đủ đáp ứng

11. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 13/2001/CT-TTg ngày
12/05/2001 về việc chấn chỉnh sắp xếp sản xuất kinh doanh thuốc lá.
Thông tư của Bộ trưởng Bộ Thương mại số 30/2001/TT-BTM ngày
09/09/2001 hướng dẫn kinh doanh mặt hàng thuốc lá điếu sản xuất
trong nước.
Nội dung chính yếu:
Từ ngày 19/12/2001 các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá chỉ
được bán thuốc lá cho thương nhân có văn bản chấp thuận cảu Bộ Thương
mại hoặc của Sở thương mại thay cho giấy phép kinh doanh thuốc lá. Chỉ các
thương nhân là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp có văn bản chấp thuận
của Bộ Thương mại hoặc Sở thương mại là được phép kinh doanh thuốc lá, có
hệ thống phân phối, tiêu thụ thuốc lá ổn định trên địa bàn kinh doanh mới
được mua thuốc lá của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá hoặc
làm đại lý bán buôn thuốc lá.
12. Quyết định số 137/2001/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày
10/11/2001 về việc ban hành tem và việc in ấn, phát hành, quản lý, sử
dụng tem thuốc lá sản xuất trong nước.
Công văn số 686/TCT-AC của Tổng cục thuế ngày 22/12/2002 thông báo
phát hành tem thuốc lá sản xuất trong nước.
Với mục đích:
Quản lý và truy thu thuế số lượng thuốc lá sản xuất trong nước. Chống
thuốc lá giả, nhái lại, thuốc lá không đăng ký nhãn hiệu, thuốc lá lậu thuế, lậu
nhập ngoại.
Quy định dán tem thuốc lá có hiệu lực từ ngày 01/04/2002, nhưng kể từ
ngày 01/07/2002 tất cả các thuốc lá lưu hành trên thị trường nội địa không
dán tem đều là lưu hành trái phép.
13. Thuế suất thuế TTĐB hiện hành đối với:
Thuốc lá đầu lọc sử dụng hơn 50% nguyên liệu nhập ngoại :
65% doanh thu
Thuốc lá đầu lọc sử dụng dưới 50% nguyên liệu nhập ngoại :

(tr bao)
% so
với TS
Sản
lượng
(tr bao)
% so
với TS
Năng lực sản
xuất 2 ca/năm
(toàn ngành 97 :
2688 triệu
bao/năm)
368,6 17,2% 295,7 13,8% 1478,7 69,0%
Sản xuất thực tế
năm 97 (toàn
ngành 2160 triệu
bao)
425,5 19,7% 207,4 9,6% 1527,1 70,7%
T thực tế năm 97
(cả hàng lậu và
nhái lại : 2392
triệu bao)
1258,6 52,4% 391,6 16,3% 751,8 31,3%
Bảng 35 : thực trạng sxkd và tiêu thụ thuốc lá trong ngành phân theo miền năm 1999.
Theo thống kê đầu tháng 6 –2001 của cẩm nang thông tin doanh nghiệp Việt Nam
ngành thuốc lá vẫn bao gồm 28 doanh nghiệp trực tiếp sản xuất thuốc lá (không kể chi
nhánh). Hàng năm ngành thuốc lá đạt sản lượng tiêu thụ hơn 2 tỷ bao, thuốc lá nhập lậu
khoảng 200 triệu bao (2), thuốc lá nhái lại , không đăng ký nhãn hiệu.. . do các cơ sở tư nhân
và hộ gia đình sản xuất khoảng 100 triệu bao (3).

Thuốc
lá đầu
lọc của
28
DNsx
990 1181 1324 1606 1545 1563 1654,
5
1736,
2
1873,5
%
Thuốc
lá đầu
lọc so
với
tổng số
50,4
%
52,6% 56,8% 66,1 64,6
%
67,2
%
69,4
%
71,4% 77%
Bảng 36 Thực trạng tiêu thụ của thị trường thuốc lá
Việt Nam qua các năm (có thống kê thuốc lá
lậu và nhái lại) (4)
Giải thích bảng 35 :
- Ước tính năm 2001 dựa trên tốc độ phát triển năm 2001 là 2,4%






%100*
2381
7,2182318
: 2 =
2,94%
Nguồn
(4) Tổng hợp từ :
Niên giám thống kê 1998,1999,2000- Tổng cục thống kê
Đề án và dự án Tổng công ty thuốc lá Việt Nam 2000
Tư liệu 61 tỉnh và thành phố- Tổng cục thống kê 10-2000.
(2) Tổng hợp từ:
Số liệu ước tính của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam trong “Dự án qui
hoạch tổng thể phát triển ngành thuốc lá đến 2010 “
- Ước tính của tạp chí Business Times giá trị thuốc lá nhập lậu vào Việt Nam đến 100 tr. USD/ năm
tương đương 200tr. bao /năm thuốc lá các loại.
(3) Tổng hợp từ :
Tổng điều tra 1,9 triệu cơ sở sản xuất ngày 1-7-1997 có 186 cơ sở tư nhân
và hộ gia đình sản xuất thuốc lá trong đó có 176 cơ sở không đăng ký kinh
doanh và 169 cơ sở không đóng thuế, tổng doanh thu theo điều tra297 triệu
đồng tương đương hơn 100 tr. bao /năm
Nguồn số liệu ước tính của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam .
Hiện trên thị trường tồn tại hơn 300 nhãn hiệu thuốc lá với grour thuốc và
giá cả khác nhau. Các nhãn hiệu có khả năng cạnh tranh mạnh với các loại
thuốc lá của nhà máy thuốc lá Thăng Long.
1) Thuốc lá đầu lọc cấp thấp :

- White Horse – XNLHTL Khánh Hoà
- Craven “A “ – công ty thuốc lá Bến Thành
- Vinataba – nhà máy thuốc lá Sài Gòn
- Jet – nhập ngoại lậu
- 555 – sản xuất trong nước và nhập ngoại lậu
- Hero – nhập ngoại lậu
Cạnh tranh với :
- Vinataba – Thăng Long sản xuất
- Dunhill - Thăng Long sản xuất
- Thăng Long hộp- Thăng Long sản xuất
- Golden Cup -Thăng Long sản xuất
Như vậy các đối thủ chính của Nhà máy chủ yếu là hai DNNNTW thuộc Tổng
công ty thuốc lá Việt Nam : Sài Gòn và Vĩnh Hội.
Một số DNNN địa phương liên doanh như XNLHTL Khánh Hoà , công ty
thuốc lá Hải Phòng, công ty thuốc lá Bến Thành không thuộc Tổng công ty
thuốc lá Việt Nam và một số Doanh nghiệp khác.
Cụ thể các Doanh nghiệp sản xuất thuốc lá trong ngành và tình hình tiêu thụ
một số mác thuốc lá chính ở Việt Nam xem phụ lục 01 và 02.
ii.một số định hướng về sxkd và tiêu thụ thuốc lá ở nhà máy
Trong thời gian thực tập tại nhà máy thuốc lá Thăng Long, qua khảo sát
tình hình thực tế, phân tích, qua trao đồi và đúc rút ý kiến từ các phòng ban,
đặc biệt là phòng thị trường, em mạnh dạn đề xuất một số định hướng đẩy
mạnh hoạt động thị trường của nhà máy. Em không có tham vọng bao quát tất
cả theo hệ thống và logic, chỉ mong đó là những ý kiến bé nhỏ góp phần vào
công củộc phát triển to lớn của nhà máy.
1. Định hướng 1:
Phát huy triệt để việc làm tăng uy tín của Nhà máy trên cơ sở cho ra
đời các sản phẩm mới chất lượng cao và làm tăng danh tiếng các sản phẩm
chiến lược trên các thị trường mục tiêu.
Để tồn tại, Doanh nghiệp phải phát triển, mục tiêu làm tăng uy tín của

Đồng thời tiếp tục nghiên cứu gour cho ra đời sản phẩm cấp cao giá trị từ
10500-12000 đ/ bao trên thị trường Hà Nội và thị trấn các tỉnh phía Bắc (một
phần cạnh tranh với Vinataba của Tổng công ty).
ĐH1b : Phát triển thuốc lá Đầu lọc bao cứng cấp trung bình (Tam Đảo) và
Đầu lọc bao mềm cấp thấp (Điện Biên Đầu lọc, Hoàn Kiếm .. .) trên thị trường
các tỉnh miền trung.
ĐH1c : Thâm nhập và mở rộng thị phần ở thị trường các tỉnh miền Nam cho
các sản phẩm thuốc lá Đầu lọc cấp cao, cấp trung bình và cấp thấp.
Các định hướng trước mắt này được đề cập sâu hơn ở các giải pháp.
2. định hướng 2
Đẩy mạnh nghiên cứu gour thuốc được ưa chuộng hiện nay, trên cơ sở
định hướng 1.
Nhằm đa dạng hoá sản phẩm theo cả bề rộng và chiều sâu danh mục
các sản phẩm cùng nhãn hiệu.
Tiếp tục cho thử nghiệm các hình thức vỏ bao mới, các cỡ chiều dài,
loại bao 10 điếu.
Bởi khi uy tín và danh tiếng của Nhà máy chưa thực sự cao đặc biệt trên thị
trường thuốc lá cấp cao, cho ra đời sản phẩm mới thì rủi ro thất bại là lớn. Do
đó không thể tiêu tốn quá nhiều nguồn lực cho một nhãn hiệu thuốc lá nào. Đa
dạng hoá sản phẩm nhằm hạn chế những rủi ro này và những biến động khó
lường vể thời tiết hiện nay cũng như trong điều kiện Chính phủ đang có những
nố lực hoàn thiện về chính sách để hoà nhập vào khu vự c mậu dịch tự do Đông
Nam á (AFTA).
- Đa dạng hoá theo bề rộng: Là việc cho ra đời sản phẩm mới mang nhãn
hiệu mới với gour thuốc và giá cả có thể chấp nhận được.
- Đa dạng hoá theo chiều sâu : Là việc cho ra đời sản phẩm mới mang nhãn
hiệu cũ đã được thị trường chấp nhận với gour thuốc và giá cả có thể khác.Cho
ra đời sản phẩm mới với loại bao 10 điếu hoặc cỡ điếu dài hơn, trên cơ sở cải
tiến chất lượng thuốc hoặc chuyển hình thức vỏ mềm sang vỏ cứng.
Cả hai phương án đa dạng hoá trên thì phương án đa dạng hoá theo chiều

thích hợp đối với Doanh nghiệp trong việc ứng dụng, áp dụng vào hoạt động
không hoặc ít ra cũng biết hiện nay KHKT –lý thuyết đang phát triển tới đâu.
Nhà máy thuốc lá Thăng Long cũng thường xuyên cập nhật thông tin về vấn
đề này. Xong tôi muốn nhấn mạnh hơn về tầm quan trọng của nó tương xứng
với kinh nghiệm hiện nay của các cán bộ lãnh đạo, chuyên viên, nhân viên đang
có. Điều này ngoài ý nghĩa phát triển nhân lực, khả năng cá nhân trong nỗ lực
tập thể còn có ý nghĩa kinh tế cao, lâu dài mà kết quả thì thật khó chứng minh
rằng có thể đo đạc ích lợi mang lại đến mức độ nào.
Do vậy việc định hướng này nêu ra nhẳm thuyết phục ban lãnh đạo Nhà máy
tạo điều kiện về vật chất, thời gian, phương tiện... song song với những thoả
ước, giao kèo (hợp đồng) phục vụ tại Nhà máy trong một khoảng thời gian
nhất định, cũng như kiểm tra kết quả phát triển từ việc đào tao, nâng cao năng
lực cá nhân (trong trường hợp ngược lại, phải bỏ hợp đồng, người được đào
tạo chịu trách nhiệm bồi hoàn cho Doanh nghiệp những khoản chi phí liên
quan đã bỏ ra).
4. định hướng 4
Song song với việc nghiên cứu các ứng dụng KHKT và đào tạo phát
triển nhân lực (Định hướng 3) cần phải hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ, đặc
biệt là nghiệp vụ Marketing bằng các phương tiện, công cụ (kỹ thuật phân tích,
bảng biểu mẫu, cách thức điều tra, bảng câu hỏi...) nhằm đảm bảo công việc
luôn được hỗ trợ, theo dõi thực thi là có kết quả.
Định hướng là khẳng định cách bao quát và gợi ý thưởng phạt trong công
việc như “ củ cà rốt và cái gậy “(Nếu như làm họ hình dung được củ cà rốt nằm
phìa trước nếu hoàn thành công việc tốt và cái gậy nằm phía sau nếu họ thất
bại).
Thực tế cán bộ, nhân viên đảm nhận một công việc, đặc biệt công việc đơn
độc làm việc ở thị trường, rất cần có sự hỗ trợ từ phía người lãnh đạo. Ngược
lại sự bao quát của lãnh đạo đối với nhân viên lại có tác dụng là động lực thúc
đẩy. Tại sao vây ? Trong trường hợp họ không còn hứng thú làm việc hoặc
công việc gặp khó khăn, trở ngại với nhiều diễn biến xấu và phức tạp. Việc hỗ

khắc phục đầu tư chiều sâu chủ yếu cho sản xuất mà kém đầu tư chiều sâu
thiết bị, công cụ, máy móc hỗ trợ quản lý, bán hàng.
Bởi cũng nhằm nhìn nhận những mặt tích cực và hiệu quả kinh tế và quản lý
hữu hiệu hơn trong việc đầu tư chiều sâu những công cụ hỗ trợ quản lý như hệ
thống máy tính nối mạng nội bộ, các chương trình phần mềm quản lý thông tin
hoặc phục vụ tính toán, phân tích hữu hiệu... Nhà máy cũng đầu tư máy tính,
máy fax... xong chỉ đủ cho phòng Kế toán - Tài vụ, rất nhiều nhân viên phòng
ban khác phải tính toán bằng máy tính bỏ túi...
Một bộ máy tổ chức cạnh tranh năng động là tổ chức tạo ra môi trường làm
việc thực sự khêu gợi cá nhân. Mỗi cá nhân được chủ động trong khuôn khổ
quyền hạn của họ. Môi trường tổ chức này đặt ra các chính sách đãi ngộ nhân
sự và mở những cơ hội thăng tiến cho những người có khả năng, trình độ vượt
trội, buộc mọi người phải cạnh tranh với chính đồng nghiệp của mình, luôn
luôn như vậy. Bởi không thể không thấy một môi trường làm việc của Nhà máy
“có những cái năng động riêng, có nguyên tắc làm việc riêng, có trách nhiệm
và có cả sự quan liêu trì trệ ” .
Không một tổ chức nào là hoàn toàn hoàn thiện, nhưng cần nhìn nhận các
mức độ tốt và năng động, mức độ hạn chế để đạt tới một tổ chức hoàn thiện
hơn.
iii. một số giải pháp đầy mạnh hoạt động thị trường.
Trên cơ sở các phân tích về thực trạng SXKD và TTSF của Nhà máy, một số
định hướng và xem xét tình hình SXKD thuốc lá trong ngành, em đưa ra một số
giải pháp đẩy mạnh hoạt động thị trường ở Nhà máy như sau :
1.giải pháp 1
Tăng cường công tác nghiên cứu và dự báo thị trường nhằm định
hướng và tạo ra sự nhạy bén cho TTSF
Đối với SXKD và tiêu thụ thuốc lá nên thu nhập và sử dụng cả nguồn số liệu
thứ cấp- nguồn số liệu đã được lập nên cho một mục đích trước đó. Vì :
- Khá phổ biến ở nhiều tài liệu khác nhau
- Tính kinh tế (rẻ)

(tính cả người hút thuốc lào)
Nếu phân theo giới tính :
Lứa tuổi Tỷ lệ nam hút thuốc Tỷ lệ nữ hút thuốc
18 ÷ 19
50 0
20 ÷ 24
71 0,01
25 ÷ 29
79 0,009
30 ÷ 34
80 0,02
35 ÷ 39
82 0,02
40 ÷ 44
90 0,009
45 ÷ 49
75 4,4
50 ÷ 54
68 7,3
55 ÷ 59
61 4,3
60 ÷ 64
71 7,2
65 ÷ 69
57 11,6
70 ÷ 74
51 11,11
>74 48 17,1
Bảng 37 : tỳ lệ người hút thuốc theo tuổi và giới tính
Nếu phân theo khu vực :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status