LỜI MỞ ĐẦU
Viện Khoa học Lao động và Xã hội là đơn vị sự nghiệp khoa học đầu ngành trực
thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, có nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng, cung cấp luận cứ phục vụ xây dựng chính sách, chiến lược
thuộc lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội. Các công trình nghiên cứu của
Viện có những ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý đất nước về lĩnh vực Lao động
Thương binh và xã hội. Chính vì vậy em chọn địa điểm thực tập ở Viện Khoa học
Lao động và Xã hội để nhằm tìm hiểu về Viện và có thể tham khảo các đề tài nghiên
cứu khoa học của Viện để có thể thu thập thêm được những kiến thức về chuyên
ngành Kinh tế lao động.
1
I Quá trình hình thành và phát triển của Viện Khoa học Lao động và Xã
hội.
Viện được thành lập vào ngày 14 tháng 4 năm 1978 tại Quyết định số 79/CP của
Hội đồng Chính phủ với tên gọi đầu tiên là “ Viện Khoa học lao động”.
Đến tháng 3 năm 1987, Viện được đổi tên thành Viện Khoa học Lao động và Các
vấn đề Xã hội theo Quyết định số 782/TTg ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Thủ
tướng Chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai khoa học và
công nghệ.
Đến ngày 18 tháng 11 năm 2002, trên cơ sở quán triệt kết luận của Hội nghị lần
thứ sáu BCHTW khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 khóa VII, phương
hướng phát triển giáo dục - đào tạo khoa học và công nghệ từ nay đến 2005 và đến
2010, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ký Quyết định
1445/2002/QĐ-BLĐTB&XH đổi tên Viện Khoa học Lao động và Các vấn đề xã hội
thành Viện Khoa học Lao động và Xã hội, đồng thời quy định, chức năng nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy của Viện cho phù hợp với thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa.
Từ khi thành lập đến nay, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ cán bộ của
Viện đã không ngừng vươn lên từng bước đưa Viện Khoa học Lao động và Xã hội
trở thành đơn vị nghiên cứu đầu ngành về lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã
hội với những dấu ấn khá đậm nét được đánh dấu qua các thời kỳ:
Tóm lại, trong giai đoạn đầu mới thành lập Viện còn gặp khó khăn về số lượng
cán bộ còn hạn chế, tổ chức bộ máy có nhiều thay đổi, nhưng vượt lên những khó
khăn đó viện đã phát động được những phong trào thi đua trong học tập và nghiên
cứu khoa học từng bước xây dựng và phát triển Viện. Các phong trào trên đã nhận
được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn bộ cán bộ, nghiên cứu viên và đã đạt được
những kết quả tốt.
3
2.Giai đoạn ổn định, phát triển (1987-1998)
Đây là giai đoạn đổi mới đất nước chuyển tử nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung,
bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời
kỳ này nhiều vấn đề trong lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội đòi hỏi phải
được đổi mới tư duy cho phù hợp với tình hình đất nước đã đặt ra cho Viện nhiệm vụ
hết sức nặng nề trong việc nghiên cứu hình thành cơ sở lý luận, phương pháp luận,
đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành trong lĩnh vực lao động, người có công, lĩnh vực
xã hội, đồng thời tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc trong thực tiễn giải quyết
lao động dôi dư trong sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, vấ đề việc làm cho lao
động xã hội, cải cách chính sách BHXH…
Trong giai đoạn này hoạt động nghiên cứu của Viện đã sự thay đổi đặc biệt quan
trọng diễn ra khá mạnh mẽ đó là Viện chuyển hướng sang tập trung nghiên cứu phục
vụ cho việc đề ra các chính sách quản lý Vĩ mô đất nước về lĩnh vực LĐ-TB-XH.
Điều đó được thể hiện rõ nét thông qua Những đề tài nghiên cứu của Viện về vấn đề
tiền lương, bảo hiểm xã hội, chính sách đổi mới người có công với Cách mạng, vấn
đề về nữ và giới, môi trường lao động, xóa đói giảm nghèo, tệ nạn xã hội ở cấp Bộ và
cấp Nhà nước.
Đồng thời, Viện cũng đã tiến hành các cuộc điều tra cơ bản nhằm xây dựng cơ sở
dữ liệu và tổng hợp thông tin từ thực tiễn về tình hình đất nước trên các phương diện
thuộc lĩnh vực LĐ-TB-XH để phục vụ cho xây dựng chính sách nhằm quản lý đất
nước.
Bên cạnh đó, các quan hệ hợp tác quốc tế của Viện đã được mở rộng với các tổ
quan nghiên cứu trong nước và các tổ chức nước ngoài, các cơ sở sản xuất kinh
doanh, giúp cung cấp các luận cứ khoa học quan trọng phục vụ cho việc xây dựng,
hoàn thiện chính sách, luật pháp và triển khai trên nhiều lĩnh vực trọng điểm của
ngành, tham gia và dự thảo báo cáo và nghị quyết TW, dự thảo báo cáo của Chính
phủ, dự báo, quy hoạch một số lĩnh vực của ngành xây dựng các chiến lược và đề án
5
lớn của ngành. Bên cạnh đó Viện còn tiến hành nghiên cứu đón đầu và giải quyết
những vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội
nhập thuộc lĩnh vực LĐ-TB-XH.
Viện tiếp tục mở rộng hợp tác trong nghiên cứu thiết lập mối quan hệ chặt chẽ
và lâu dài với hầu hết các tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam như WB, UNDP,
UNICEF, UNFPA, SIDA Thụy Điển.., với nhiều Viện nghiên cứu của nhiều nước
trên thế giới. Trên cơ sở đó trao đổi thông tin và kinh nghiệm, cử cán bộ đi nghiên
cứu khảo sát, dự hội thảo khoa học ở nước ngoài, thiết lập đội ngũ cộng tác viên
nghiên cứu đông đảo gồm các nhà quản lý, chuyên gia và nhà khoa học đầu ngành
thuộc lĩnh vực có liên quan nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ
nghiên cứu viên của Viện đồng thời tiếp cận với những lý luận mới, các phương pháp
mới trong nghiên cứu từ đó đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học của Viện.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng Viện Khoa học Lao động và Xã hội vẫn
không ngừng đổi mới, khắc phục khó khăn để thực hiện tốt các nhiệm vụ. Với các kết
quả và thành tích đã đạt được, Viện đã được tặng cờ thi đua xuất sắc và Bằng khen
của Bộ liên tục trong nhiều năm; năm 1997 Viện đã được Chủ tịch nước tặng thưởng
Huân chương Lao động hạng Ba và năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 25 năm, Viện đã
vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng Hai.
II. Đặc điểm của Viện Khoa học Lao động và Xã hội.
1. Chức năng, nhiệm vụ của Viện Khoa học Lao động và Xã hội.
1.1 Chức năng của Viện:
Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng các vấn đề về lĩnh vực Lao động -
Thương binh và Xã hội như: dân số, lao động - việc làm, tiền công, tiền lương, điều
kiện làm việc các quan hệ lao động các chính sách bảo trợ ưu đãi xã hội đối với
pháp luật và của Bộ.
TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU
LAO ĐỘNG
NỮ VÀ GIỚI
PHÒNG
NGHIÊN CỨU
CHÍNH SÁCH
ƯU ĐÃI VÀ
XÃ HỘI
KHỐI HÀNH CHÍNH
7
2. Cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Lao động và Xã hội.
TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU
LAO ĐỘNG
NỮ VÀ GIỚI
PHÒNG
NGHIÊN CỨU
CHÍNH SÁCH
ƯU ĐÃI VÀ
XÃ HỘI
KHỐI HÀNH CHÍNH
8
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Lao động và Xã hội
VIỆN TRƯỞNG
PHÒNG
KẾ HOẠCH-
TỔNG HỢP-
ĐỐI NGOẠI
KHỐI HÀNH CHÍNH
Mối quan hệ lãnh đạo Mối quan hệ phối hợp
Tư vấn
PHÓ VIỆN TRƯỞNG 1 PHÓ VIỆN TRƯỞNG 2 PHÓ VIỆN TRƯỞNG 3
9
Hiện nay, tổ chức bộ máy của Viện gồm Lãnh đạo Viện và 7 bộ phận với nhiệm
vụ như sau:
a) Lãnh đạo Viện gồm 4 người:
- Viện trưởng: Là người quản lý chung mọi hoạt động của Viện, và chịu trách
nhiệm trước Bộ trưởng về tình hình hoạt động của Viện.
- 3 Phó Viện trưởng: Giúp việc cho Viện trưởng trong quản lý điều hành hoạt
động của Viện. Mỗi một phó Viện trưởng được phân công phụ trách một sô bộ phận
và quản lý theo từng lĩnh vực riêng. Trong đó có một Phó Viện trưởng được quyền
giải quyết các công việc của Viện khi Viện trưởng đi vắng hoặc ủy quyền.
b) Hội đồng khoa học: Có trách nhiệm tư vấn cho Lãnh đạo Viện trong công tác
nghiên cứu khoa học.
c) Phòng Kế hoạch - Tổng hợp - Đối ngoại:
Mảng kế hoạch:
- Tham mưu hoạt động khoa học của Viện
- Khai thác, đấu thầu các dự án, đề tài
- Lập các kế hoạch để thực hiện đề tài, dự án, các công trình nghiên cứu
- Theo dõi, giám sát chất lượng, tiến độ nghiên cứu
- Viết các báo cáo tổng kết hàng tháng, quý, 6 tháng, năm
- Cân đối các kế hoạch
Mảng Đối ngoại:
- Khai thác đấu thầu dự án hợp tác nghiên cứu với các tổ chức trong và ngoài
nước
- Công tác biên dịch, phiên dịch
- Công tác hành chính đối ngoại: như lo chỗ ăn nghỉ, xe đưa đón cho các đòan
công tác, họp.
- Nghiên cứu về an sinh xã hội.
- Nghiên cứu các chính sách đói nghèo, chuẩn nghèo.
- Nghiên cứu các chính sách đối với người yếu thế, trẻ em lang thang, người
tàn tật, người già cô đơn.
11