TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2011 - 2015
Đề Tài
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƢƠNG MẠI
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Trƣơng Thanh Hùng
Bộ môn Luật Tƣ pháp
Cần Thơ, 11/2014
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Vũ Linh
MSSV: 5117401
Lớp: HG1165A1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp và tham gia buổi báo cáo hôm nay, em đã nhận
được sự giúp đỡ rất nhiều từ thầy cô, gia đình và bạn bè. Chính vì vậy, em xin được
cám ơn chân thành đến thầy cô trường Đại học Cần Thơ, thầy cô thuộc khoa Phát Triển
……………………………………………………………………..……..………………
………………………………………………………..…………………..………………
………………………………………………………..…………………..………………
……………………………………………………..……………………..………………
…………………………………………………..………………………..………………
…………………………………………………..………………………..………………
………………………………………………..…………………………..………………
……………………………………………..……………………………..………………
…………………………………………..……………………………………..…………
……………………………………………..…………………………………..…………
…………………………..……………………………………………………..…………
…………………..……………………………………………………………..…………
………………..………………………………………………………………..…………
……………………..…………………………………………………………..…………
………………..………………………………………………………………..…………
………………..………………………………………………………………..…………
………………..………………………………………………………………..…………
…………..……………………………………………………………………..…………
…………..……………………………………………………………………..…………
……………………..…………………………………………………………..…………
……………………………………………………………………………………………
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
………………………………………………………………….……………………..…
………………………………………………………………….…………..……………
………………………………………………………………….……..…………………
………………………………………………………………….………….……………
………………………………………………………………….……….………………
………………………………………………………………….…….…………………
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................2
3. Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu ....................................................................2
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................2
5. Bố cục luận văn...................................................................................................3
CHƢƠNG 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI
1.1. Một số khái niệm có liên quan thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh thƣơng mại .......................................................................4
1.1.1 Khái niệm về Tranh chấp kinh doanh thương mại ...................................4
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại .....................................4
1.1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại ................................5
1.1.2. Khái niệm về thẩm quyền và thẩm quyền của Tòa án .............................6
1.1.2.1. Khái niệm về thẩm quyền ....................................................................6
1.1.2.2. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án .......................................................7
1.2. Khái niệm và phân loại thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh
chấp kinh doanh thƣơng mại .................................................................................8
1.2.1. Khái niệm về thẩm quyền và thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại ........................................................................8
1.2.2. Phân loại về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại ...........................................................................................9
1.2.2.1. Thẩm quyền theo vụ việc ......................................................................9
1.2.2.2. Thẩm quyền của Tòa án các cấp ........................................................ 10
1.2.2.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ .................................................................. 10
1.2.2.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn ................................... 11
1.3. vai trò và ý nghĩa của thẩm quyền Tòa án trong giải quyết các vụ án kinh
2.2.1. Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện..................................................... 27
2.2.2. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh ........................................................ 28
2.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ ............................................................................ 29
2.3.1. Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc, nơi có trụ sở của bị
đơn ......................................................................................................................... 29
2.3.2. Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc, nơi có trụ sở của
nguyên đơn nếu có thỏa thuận .............................................................................. 30
2.3.3. Thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản khi giải quyết những
tranh chấp về bất động sản.......................................................................................... 32
2.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn và một số trƣờng hợp đặc
biệt.................................................................................................................................. 34
2.4.1. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn………………………….34
2.4.2. Thẩm quyền của Tòa án trong những trƣờng hợp đặc biệt .................. 35
2.4.2.1. Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam đối với những tranh chấp
kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài .......................................................... 35
2.4.2.2. Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp
kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài .......................................................... 37
2.4.2.3. Trường hợp không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án....... 38
CHƢƠNG 3
NHỮNG VƢỚNG MẮC VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
3.1. Bất cập về quy định thẩm quyền chung của tòa án trong hoạt động kinh
doanh thƣơng mại ................................................................................................ 41
doanh thương mại, thẩm quyền của Tòa án là một chế định quan trọng. Thẩm quyền
càng được xác định rõ ràng, chính xác, sát với thực tế bao nhiêu thì càng đảm bảo
cho việc giải quyết chính xác và nhanh chóng bấy nhiêu. Xuất phát từ nền kinh tế
Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ đáng lạc quan theo cơ chế thị trường. Sau
hơn 25 năm đổi mới và mở cửa đã có những biến chuyển tích cực, hợp tác và giao
lưu ngày càng phát triển. Nhưng trong bối cảnh đó thì các quan hệ kinh doanh
thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Chính vì vậy tranh chấp kinh
doanh thương mại là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải quyết kịp
thời. Và một trong những phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
hiện nay chính là giải quyết bằng Tòa án.
Xét về lý luận, nếu các quy định về thẩm quyền giữa các Tòa án được xây
dựng một cách chính xác, khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo khi Tòa án thực
hiện nhiệm vụ, giảm bớt phiền hà cho các chủ thể kinh doanh khi thực hiện quyền
khởi kiện của mình. Xét về thực tế, việc quy định thẩm quyền sơ thẩm đối với các
tranh chấp kinh doanh thương mại giữa các Tòa án có ý nghĩa xác định một Tòa án
cụ thể nào đó sẽ có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc phát sinh tại Tòa án. Đây là
hai vấn đề cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết một tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án.
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các Tòa án cũng gặp không ít khó khăn,
vướng mắc khi xác định một tranh chấp kinh doanh thương mại cụ thể có thuộc
thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án mình hay không. Hoặc sau khi đã xác định được vụ
việc thuộc thẩm quyền sơ thẩm về kinh doanh thương mại của Tòa án theo loại việc
thì bước quan trọng tiếp theo là phải xác định được vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ
thẩm của Tòa án cấp nào và Tòa án nơi nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên,
quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề thẩm quyền sơ thẩm giữa các Tòa án
cũng còn nhiều khiếm khuyết. Sự thiếu cụ thể, rõ ràng của pháp luật làm cho đương
sự lúng túng trong việc xác định Tòa án mà họ có thể nộp đơn khởi kiện giải quyết
quyết vụ việc.
Từ thực trạng pháp luật về quy định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án,
vướng mắc trong thực tiễn vận dụng, người viết thấy rằng cần thiết phải có những
quyền sơ thẩm của Tòa án đối với tranh chấp kinh doanh thương mại. Luận văn
cũng nghiên cứu những bất cập trong việc xác định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án
để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn, người viết đã dựa trên cơ sở luận là hệ thống quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối
và chính sách của Đảng và nhà nước qua các giai đoạn lịch sử, quan điểm chỉ đạo
về cải cách tư pháp ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, phương pháp luận chủ yếu mà người viết sử dụng là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và trong luận văn người viết còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải.
GVHD : Ths.Trương Thanh Hùng
2
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
5. Bố cục luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn của
người viết gồm 3 chương:
- Chương 1: nhận thức chung về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại.
- Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
- Chương 3: Những vướng mắc về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại và giải pháp hoàn thiện.
giải quyết những tranh chấp kinh doanh thương mại này.
1.1.1. Khái niệm về Tranh chấp kinh doanh thương mại
Để hiểu rõ hơn nửa bản chất của hoạt động kinh doanh thương mại. Chúng ta
cần tìm hiểu thật kĩ khái niệm của tranh chấp kinh doanh thương mại, cũng như
những đặc điểm cơ bản của tranh chấp kinh doanh thương mại, để chúng ta có một
cái nhìn khái quát hơn, toàn diện hơn về tranh chấp kinh doanh thương mại, để xem
một tranh chấp như thế nào mới được xem là tranh chấp kinh doanh thương mại và
nó có những đặc điểm nổi bật gì.
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại
Hệ thống pháp luật Việt Nam đã tồn tại những khái niệm khác nhau để biểu
đạt cho loại tranh chấp này. Lần đầu tiên khái niệm tranh chấp kinh doanh thương
mại được đề cập trong luât thương mại 1997, theo Điều 238 của Luật này, “tranh
GVHD : Ths.Trương Thanh Hùng
4
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”1. Hiện tại, Luật Thương mại
1997 được thay thế bằng Luật Thương mại 2005 và đã bỏ đi khái niệm này nên cho
đến thời điểm hiện nay, không có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm tranh
chấp kinh doanh thương mại là gì. Tuy nhiên, ta có thể thấy Luật Thương mại 2005
có quy định “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác 2.” Đồng thời, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đưa
ra khái niệm “kinh doanh” : “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
2
GVHD : Ths.Trương Thanh Hùng
5
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Do vậy, trong quá trình thực hiện, xung đột về lợi ích kinh tế là nội dung cơ bản của
mọi tranh chấp kinh doanh thương mại, lợi ích về kinh tế có thể là số tiền mà doanh
nghiệp đó thu được hoặc làm ra số lượng sản phẩm đem lợi thế mạnh nhất định cho
doanh nghiệp đó về sự cạnh tranh hoặc vị trí của công ty đó trong hoạt đông kinh
doanh của mình.
- Thứ hai, thường thì chủ thể của các quan hệ tranh chấp phát sinh là giữa các
thương nhân. Thông thường, một tranh chấp được coi là tranh chấp kinh doanh
thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân. Hoạt động kinh doanh thương
mại chịu sự điều chỉnh của luật thương mại 2005 và đối tượng của luật thương mại
2005 là “Thương nhân hoạt động thương mại tại Việt Nam và nước ngoài“ cho nên
có thể nói những tranh chấp kinh doanh thương mại thường phát sinh ở các thương
nhân. Những chủ thể này có tâm lý mong muốn xác định quan hệ ổn định, lâu dài
trên cơ sở hợp tác, tin cậy lẫn nhau khi tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại.
Trong quan hệ kinh doanh thương mại quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn
tương xứng với nhau trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng với mục đích tối đa là lợi ích
kinh tế. Vì vậy, các tranh chấp phát sinh sẽ có nguy cơ đe dọa và ảnh hưởng xấu
đến quyền, lợi ích của các bên trong điều kiện lợi ích kinh tế của các bên phụ thuộc
và ảnh hưởng lẫn nhau.
- Thứ ba, tranh chấp kinh doanh, thương mại phát sinh, phát triển gắn liền với
các hoạt động kinh doanh, thương mại. Hoạt động kinh doanh thương mại vốn rất
hoạt động của Nhà nước…Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan
hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền quản
lý và điều hành xã hội trên mọi lĩnh vực, hay Viện kiểm sát thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định, Tòa án
nhân dân thực hiện chức năng xét xử…Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật
của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng “Cơ quan nhà nước hoạt động trong
phạm vi của mình, thẩm quyền của cơ quan nhà nước là toàn bộ những quyền và
nghĩa vụ mà Nhà nước quy định cho cơ quan đó, phụ thuộc vào vị trí của mình
trong bộ máy nhà nước. Các cơ quan khác nhau thì có thẩm quyền khác nhau” 5.
Như vậy, với thẩm quyền của mình, các cơ quan nhà nước không thể làm thay chức
năng cho nhau, không thể thay thế cơ quan nhà nước này bằng cơ quan nhà nước
khác để thực hiện chức năng đã được xác định.
Là thuộc tính của quyền lực nhà nước, khái niệm thẩm quyền không chỉ gắn
với hoạt động của một cơ quan, mà trong nhiều trường hợp, thẩm quyền còn là
quyền hạn của một cá nhân được thực hiện nhân danh quyền lực nhà nước theo quy
định của pháp luật. Ví dụ, Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội, đối ngoại. Thủ tướng chính
phủ là thành viên của Chính phủ, là người chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo
cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật…
Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu “thẩm quyền là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một cơ quan,tổ chức hoặc một cá thực hiện
được những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm hướng đến
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước”.
1.1.2.2. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án
Tòa án là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Trong hệ thống cơ quan tư
5
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 1994, tr. 204.
được tiến hành xem xét, giải quyết vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và
quyền hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết các vụ việc đó”.
1.2. Khái niệm và phân loại thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại
Để xác định chính xác và đãm bảo đúng thẩm quyền trong việc giải quyết
những tranh chấp về kinh doanh thương mại của Tòa án, một trong những vấn đề cơ
bản là phải xác định được bản chất của thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại và xác định xem thẩm quyền của Tòa án trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại gồm những thẩm quyền gì và được
quy định như thế nào là vấn đề mà tác giả hướng tới.
1.2.1. Khái niệm về thẩm quyền và thẩm quyền của Tòa án trong việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án là quyền
hạn và nghĩa vụ của Tòa án trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp kinh doanh
GVHD : Ths.Trương Thanh Hùng
8
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
thương mại. Khi xảy ra một tranh chấp, cần xác định rõ nó thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan nào. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể định nghĩa
“thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương
mại là toàn bộ các quyền của Tòa án trong hệ thống Tòa án được tiến hành giải
quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại”. Có nghĩa là khi một tranh chấp kinh
doanh thương mại phát sinh và được xác định là thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án thì Tòa án cấp nào, cụ thể là Tòa án cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp này, sau khi tranh chấp được xác định là thuộc thẩm
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định 6.
1.2.2.2. Thẩm quyền của Tòa án các cấp
Khi có tranh chấp kinh doanh thương mại xảy ra, và được xác định là thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì cần xác định tranh chấp đó thuộc quyền giải
quyết sơ thẩm của Tòa án cấp nào trong hệ thống Tòa án. Như vậy thẩm quyền giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án các cấp là quyền của từng cấp
Tòa án trong hệ thống Tòa án thực hiện các thủ tục giải quyết một tranh chấp kinh
doanh thương mại theo thủ tục sơ thẩm. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì
chỉ có Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh mới có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm.
- Tòa án nhân dân cấp huyện: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua
bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê,
thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng
đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa.
Tuy nhiên, những tranh chấp nói trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước
ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước
ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân
dân cấp huyện7.
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh :
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả
những vụ án kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và 30 của Bộ luật tố tụng
dân sự 2004, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện. Trong
trường hợp cần thiết Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ
Trong một số trường hợp việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ gặp khó
khăn.Ví dụ như trong vụ án có nhiều bị đơn mà bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ
sở ở nhiều nơi khác nhau, hoặc trong một vụ tranh chấp bất động sản, các bất động
sản ở nhiều nơi khác nhau hoặc nếu để Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ giải
quyết sẽ không thuận lợi cho nguyên đơn. Vì thế, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự
2004 đã quy định trong một số trường hợp nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án
giải quyết tranh chấp10.
Như vậy, “thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo sự
lựa chọn của nguyên đơn là quyền của một Tòa án cụ thể trong hệ thống Tòa án
được thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại đó theo thủ tục
sơ thẩm trên cơ sở sự lựa chọn của nguyên đơn”.
1.3. Vai trò và ý nghĩa của thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh doanh thƣơng
mại
1.3.1. Vai trò của Tòa án trong giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại
Các hoạt động kinh doanh thương mại luôn có vai trò hết sức quan trọng, nó
quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Khi những hoạt động này diễn ra sẽ
không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh do nhiều nguyên nhân.
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, số lượng các
tranh chấp trong kinh doanh ngày càng tăng với mức độ ngày càng phức tạp. Vì
vậy, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh là điều cần thiết để đảm bảo một môi
trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh. Để thực hiện chức năng
kinh tế của mình, nhà nước ta đã ban hành Hệ thống quy phạm pháp luật nhằm điều
8
Trương Thanh Hùng, Giáo trình luật tố tụng dân sự 1, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2009, tr. 53.
Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Điều 35.
10
Trương Thanh Hùng, Giáo trình luật tố tụng dân sự 1, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2009, tr. 55.
9
cưỡng chế cao. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra tòa án thì
quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản
để thi hành án.
VD : Trong trường hợp doanh nghiệp A kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
doanh nghiệp B phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại mà không thỏa thuận
được hướng giải quyết (không thỏa thuận, thương lượng được).
Từ ví dụ trên cho thấy nếu phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại mà hai
bên không thỏa thuận được hướng giải quyết và nếu pháp luật không quy định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa án thì tranh chấp đó sẽ
mãi mãi không giải quyết triệt để được vì không có một chế tài nào bắt buộc họ phải
thực hiện dù họ đúng hay sai. Từ đó chúng ta thấy được tầm quan trọng của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
GVHD : Ths.Trương Thanh Hùng
12
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.3.2. ý nghĩa của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương
mại
Ngành Tòa án không thể hoạt động có hiệu quả nếu không xác định rõ thẩm
quyền theo loại việc, theo lãnh thổ và thẩm quyền của các cấp Tòa án, hoạt động
của bộ máy Tòa án sẽ rối loạn, dẫm đạp lên nhau nếu không xác định thẩm quyền
của các Tòa án một cách hợp lý, tại sao lại có sự rối loạn, dẫm đạp lên nhau vì nếu
chúng ta không xác định rõ thẩm quyền thì sẽ có hiện tượng một tòa xét xử quá
nhiều, bởi lẽ nguyên đơn họ chỉ chọn những tòa nào theo họ là có lợi cho họ và giải
quyết công bằng nhất, không ai muốn xét xử tại một tòa mà xét xử sai hoài làm họ
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1994
Thời kỳ này đầu tiên phải kể đến Sắc lệnh số 13 ngày 24/ 01/1945 về tổ chức
các Tòa án và ngạch thẩm phán và Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946. Đây là những
văn bản pháp luật đầu tiên về tố tụng dân sự của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa. Hai văn bản trên đã đề cập đến vấn đề thẩm quyền giữa các cấp Tòa án đó là:
Tòa án sơ cấp (ở các quận) và Tòa án đệ nhị cấp (ở các tỉnh). Mặc dù, vào những
năm đầu giải phóng nhưng thông qua hai sắc lệnh phần nào cũng cho thấy nhà nước
ta luôn quan tâm đến vấn đề xét xử, ở thời điểm đó hoạt động kinh doanh thương
mại nhìn chung không phát triển vì do vết thương chiến tranh tàn phá, hoạt động
buôn bán chỉ diễn ra nhỏ lẻ ( hợp chợ, hợp phố). Lúc bấy giờ chúng ta chưa có một
văn bản cụ thể nào quy định về việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương
mại. Mặc khác chúng ta chưa có một cơ quan chuyên trách nào có thẩm quyền nào
giải quyết những tranh chấp về kinh doanh thương mại.
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến 2004
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường đang
chứng kiến sự phát triển đa dạng của các loại hình kinh tế và sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế thuộc các hình thức sở hữu khác nhau trong các hoạt động kinh
doanh và điều này đã dẫn đến sự thay đổi về hình thức, nội dung của các tranh chấp
trong kinh doanh. Sự thay đổi đó đòi hỏi phải đổi mới phương thức giải quyết tranh
chấp kinh tế. Do đó, ngày 28-12-1993 tại kì hợp thứ tư, Quốc hội khóa X đã thông
qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992.
Theo đó,Tòa kinh tế với tư cách là một tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân
dân được thành lập có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế và bắt đầu đi vào
hoạt động từ ngày 1-7-1994 11. Đồng thời, hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước được
giải thể. Cũng trong thời gian này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế có hiệu lực từ ngày 1-7-1994.
năm 1999 có đưa ra nhiều định nghĩa về kinh doanh thương mại và có nhiều quy
định mới bổ sung vào những thiếu sót của luật cũ, mặc khác Tòa án trong giai đoạn
này cũng đạt được nhiều kết quả khả quan trong việc xét xử những tranh chấp kinh
doanh thương mại.
1.4.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Ngày 15-6-2004, Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 5 đã thông qua Bộ Luật tố tụng
dân sự, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2005. Bộ Luật ra đời thay thế Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994, Bộ luật này quy định khá đầy đủ và
toàn diện các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện các
vụ án dân sự; trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, thi hành án
dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành tố
tụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng. Trong đó Bộ
Luật cũng đã quy định lại thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại.
Sau hơn 5 năm đưa vào thực hiện, Bộ Luật đã phát huy một cách tích cực, đáp
ứng yêu cầu giải quyết một cách chính xác, nhanh chóng và kịp thời các vụ việc dân
sự nói chung và các vụ kinh doanh thương mại nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 cũng đã bộc lộ hạn chế liên quan đến một số
quy định về giải quyết loại tranh chấp kinh doanh thương mại.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 và thực
hiện Nghị quyết Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố
tụng dân sự…tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý”, ngày
29/3/2011, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố
tụng dân sự 2004, trong đó có những quy định về thẩm quyền dân sự của Tòa án.
GVHD : Ths.Trương Thanh Hùng
15
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
SVTH : Nguyễn Vũ Linh
Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI
Tranh chấp kinh doanh thương mại là một trong những tranh chấp hết sức
phức tạp, khó khăn đối với nền kinh tế thị trường định hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo xu thế tiến bộ của thế giới ngày
nay. Vì vậy, để đáp ứng được những đòi hỏi đó cũng như tạo nền tảng cho việc giải
quyết tốt nhất các tranh chấp về kinh doanh thương mại thì nhà nước ta cần có
những quy định cụ thể làm cơ sở quan trọng để giải quyết tranh chấp. Do đó, sau
khi đã tìm hiểu xong phần nhận thức chung về thẩm quyền của tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, tác giả bắt tay vào tìm hiểu những
quy định của pháp luật qua phần: “Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại”.
Nội dung chính của phần này tập chung vào những quy định của pháp luật về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, thẩm quyền theo vụ việc,
thẩm quyền của tòa các cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn
của nguyên đơn và thẩm quyền của tòa án trong những trường hợp đặc biệt, để thấy
được nhà nước ta quan tâm và quy định cụ thể như thế nào về thẩm quyền xét xử
của tòa án trong các tranh chấp kinh doanh thương mại. Qua đó rút ra được tầm
quan trọng của việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án, tránh tình trạng không
xác định được tòa nào có thẩm quyền giải quyết cũng như một tranh chấp mà có
nhiều tòa xét xử.
2.1. Thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của Tòa án theo vụ việc được
quy định tại điều 29, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)