BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
KIỂM SÁT VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
MAI THỊ BÍCH HUYÊN
HÀ NỘI – 2019
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KIỂM SÁT VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
MAI THỊ BÍCH HUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS TRẦN ANH TUẤN
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin được gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc nhất đến PGS.TS
Trần Anh Tuấn đã luôn tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
nghiên cứu.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy, cô - Khoa Sau đại
học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả được học
tập và hoàn thành được bài luận văn của mình.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên bài
Luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khuyết điểm, rất mong nhận được sự
thông cảm và những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các anh chị học viên ./.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Thị Bích Huyên
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………1
Chương 1 .....................................................................................................................9
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong giải
tòa phúc thẩm vụ án kinh doanh, thương mại ...........................................................39
2.3. Quy định về sự tham gia của VKSND trong thủ tục xét lại bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật.............................................................................................40
2.3.1. Kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật ...............................40
2.3.2. Kiểm sát thụ lý vụ án ở trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm ..............................44
2.3.3. Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm ..........................44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..........................................................................................46
Chương 2 ...................................................................................................................48
THỰC TIỄN KIỂM SÁT VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
VÀ GIẢI PHÁP ........................................................................................................48
2.1 Thực tiễn kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định........................................................48
2.1.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình công tác kiểm sát giải quyết án kinh doanh,
thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định ...................................................................48
2.1.2. Thực trạng kiểm sát việc thụ lý án kinh doanh, thương mại của các Tòa án
trên địa bàn tỉnh Nam Định ......................................................................................52
2.1.3. Thực tiễn thực hiện việc kiểm sát các bản án, quyết định về kinh doanh,
thương mại ................................................................................................................56
2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm sát việc thực
hiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh
Nam Định ..................................................................................................................74
2.3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ................................................................74
2.3.2. Về kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại .........................................................81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..........................................................................................84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………..……87
vi
KSV
Kiểm sát viên
PLTTGQCVADS Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án về
kinh doanh, thương mại
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TTDS
Tố tụng kinh doanh, thương mại
TTLT
Thông tư liên tịch
TT
Tái thẩm
VKS
Viện kiểm sát
giám sát, hỗ trợ của Viện kiểm sát.
Sau một thời gian áp dụng, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã bộc lộ những
hạn chế, bất cập, chưa có cơ chế thích hợp để VKS thực hiện được đầy đủ, hiệu quả
chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân. Trong khi các tranh chấp tranh chấp kinh doanh, thương mại phát
sinh ngày càng nhiều với tính chất ngày càng phức tạp thì vấn đề bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên đương sự, bảo đảm việc giải quyết các tranh chấp kinh
1
doanh, thương mại được khách quan, kịp thời và đúng pháp luật trở thành yêu cầu
quan trọng cần được giải quyết trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp.
Trong công cuộc đẩy mạnh xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế, để khắc phục những hạn chế, bất cập của Bộ luật tố tụng dân sự trước đây Bộ
luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011, đặc biệt là BLTTDS 2015 vừa được
quốc hội thông qua có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 đã mở rộng phạm vi hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Tạo cơ chế
thuận lợi để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ
được phân công.
Trong những năm gần đây, nhất là năm 2018 vừa qua, tình hình thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định tiếp tục ổn định và phát
triển. Các lĩnh vực xây dựng, thủy sản, công nghiệp, xuất khẩu, thu hút đầu tư...
đều có mức tăng trưởng cao hơn so với bình quân chung của cả nước. Thu hút đầu
tư của tỉnh Nam Định năm 2018 đạt kết quả khá, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư mới và điều chỉnh tăng vốn cho 98 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn
đăng ký là 2.121,2 tỷ đồng và 25 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký là 192,8 triệu
USD (Trong đó dự án Nhà máy nhiệt điện BOT Nam Định 1 là 2.072,2 triệu
USD). Tổng thu ngân sách trên địa bản đạt 4.171 tỷ đồng, đạt 106,9% dự toán,
tăng 15,8% so với năm 2017. Đảm bảo đầy đủ các khoản chi lương, chi cho các
chức năng cũng như kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại đã thu hút sự quan tâm bàn luận của các học giả, chuyên
gia pháp lý, những người hoạt động thực tiễn. Cụ thể như sau:
Nhóm các bài viết liên quan đến sự tham gia của Viện kiểm sát về giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại:
- Về việc tham gia phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát nhân dân, của tác giả
Trần Văn Trung đăng trên tạp chí Luật học số 8 năm 2005.
- Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu
cải cách tư pháp, của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đăng trên Tạp chí Kiểm sát số
14,16 năm 2008,
3
- Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng dân sự và thực tiễn, của tác
giả Trần Xuân Hách đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 19 năm 2012;
- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ,
việc dân sự, của Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hòa Bình đăng trên tạp chí Kiểm sát
số 7 năm 2016.
Nhóm các Luận văn nghiên cứu về đề tài này: “Vai trò của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Phương Thúy, Luận văn Thạc
sỹ Luật học, trường Đại học Đại học Luật Hà Nội, năm 1996;
- Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt
Nam, của tác giả Võ Thị Phượng (Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại Học Luật
Hà Nội, năm 2011);
- Sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự và thực tiễn
thực hiện tại thành phố Hải Phòng, tác giả Bùi Thị Phượng, Luận văn thạc sĩ Luật
học, trường Đại Học Luật Hà Nội, năm 2015;
- Hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại của Tòa án, tác giả Nguyễn Duy Phương, tạp chí nghiên cứu lập pháp,
Viện kiểm sát mà chỉ tập trung tập trung phân tích những quy định về kiểm sát việc
thực hiện pháp luật của Viện kiểm sát trong các hoạt động tố tụng dân sự nói chung
và việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại nói riêng bắt đầu từ khi
nhận đơn khởi kiện giải quyết vụ án, cho đến khi bản án, quyết định được đưa ra thi
hành. Vấn đề kiểm sát thi hành án kinh doanh, thương mại sẽ được tác giả nghiên
cứu trong các công trình khác khi có điều kiện để thực hiện. Bên cạnh đó, tác giả
cũng nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm sát việc thực hiện pháp luật
trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nhằm tạo cơ sở cho việc đánh
giá luật thực định và đề ra một số đề xuất, kiến nghị.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:
5
- Nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa kiểm sát việc thực hiện pháp
luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
- Nghiên cứu các quy định của các Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam về kiểm sát
việc thực hiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
- Nghiên cứu thực tiễn tham gia của Viện kiểm sát nhân dân về giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định.
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
*Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm sát
việc thực hiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, các
quy định trong các Bộ luật tố tụng dân sự về vấn đề này, thực tiễn thực hiện pháp
luật tại các Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Nam Định và đề xuất giải pháp
hoàn thiện các quy định của pháp luật nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ cơ
kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng, trong phạm vi cả nước nói
chung.
Về mặt thực tiễn: Những đề xuất, kiến nghị nêu trong Luận văn sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về kiểm sát
việc thực hiện pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa
bàn tỉnh Nam Định nói riêng và cả nước nói chung. Kết quả nghiên cứu luận văn
còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và nghiên
cứu.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu bởi 2 chương:
7
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Chương 2: Một số vấn đề chung về kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1. Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc thực hiện pháp luật trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại
chi tiết tại khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì “Viện
kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư
pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, ở nước ta VKS có
hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Xuất phát từ chức năng chung của ngành, VKSND tham gia vào quá trình
giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân (TAND), nhằm
kiểm sát việc tuân theo pháp luật (KSVTTPL) trong toàn bộ quá trình tố tụng, bảo
đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Tòa án, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Sự tham gia của VKSND vào quan hệ pháp luật tố
tụng kinh doanh, thương mại là tất yếu và khách quan, nhằm đáp ứng hai yêu cầu cơ
bản đó là: “Bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ quá trình tố tụng
và thể hiện sự can thiệp của nhà nước vào quá trình tố tụng kinh doanh, thương
mại”1
Dựa trên nguyên tắc và tổ chức hoạt động của nhà nước ta, TAND và VKSND
được tổ chức thành hai hệ thống cơ quan có chức năng riêng biệt, độc lập với nhau và
đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc Hội. Tòa án
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm
pháp luật được thực thi trên thực tế. Tuy nhiên, để Tòa án có thể đảm đương tốt chức
năng nhiệm vụ của mình, giải quyết các vụ án một cách khách quan, công tâm, đảm
bảo sự tuân thủ pháp luật thì cần phải có sự giám sát nhất định từ phía VKS. Với
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKSND tham gia vào quá trình giải
1
Nguyễn Phương Thúy (1996), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng kinh doanh, thương mại,
Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại Học Luật Hà Nội, Hà Nội.
10
quyết các vụ án kinh doanh, thương mại nhằm tạo ra sự kiềm chế, giám sát đối với cơ
11
Nét đặc trưng trong tổ chức và hoạt động của VKSND so với các cơ quan khác
trong bộ máy nhà nước là nguyên tắc tập trung thống nhất theo ngành dọc, nguyên
tắc này trao cho VKSND quyền hoạt động độc lập, không phải chịu sự chi phối của
chính quyền địa phương cũng như các cơ quan hành chính Nhà nước khác khi thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, Viện kiểm sát là cơ quan
tiến hành tố tụng, thực hiện KSVTTPL trong TTDS. Ngoài những đặc điểm chung
về chức năng của VKSND trong bộ máy nhà nước, trong lĩnh vực tố tụng kinh
doanh, thương mại VKSND có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau:
- Thứ nhất, VKSND là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát việc tuân thủ
pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Theo Hiến pháp và pháp luật, VKSND là cơ quan có chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực hiện quyền lực nhà nước,
trực tiếp tham gia giám sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế XHCN,
bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm trật tự xã hội. Là cơ
quan duy nhất được nhà nước trao quyền kiểm sát hoạt động của Tòa án trong quá
trình giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại. Quyền năng này của VKSND
được ghi nhận trong các Hiến pháp, BLTTDS, Luật Tổ chức VKSND. Khi thực
hiện chức năng KSVTTPL trong hoạt động giải quyết vụ án kinh doanh, thương
mại của Tòa án nhân dân, VKSND có được trao cho các nhiệm vụ, quyền hạn cần
thiết để có thể kiểm sát toàn bộ các hoạt động tố tụng của Tòa án, trong đó có kiểm
sát việc ban hành các văn bản tố tụng, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố
tụng của đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Hoạt động tố tụng của VKS
vừa thể hiện sự kiểm sát vừa là hỗ trợ Tòa án trong việc tuân thủ pháp luật. Quan hệ
giữa VKS và Tòa án mang tính chất kiềm chế, đối trọng chứ không mang tính
quyền uy, phục tùng như trong quan hệ giữa Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng
khác.
kiểm sát việc tuân theo pháp luật và tham gia phiên tòa xét xử vụ án về kinh doanh,
13
thương mại, phiên họp giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại…Nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện trưởng VKSND được quy định tại các Điều 44, 51, 285, 307,
395, khoản 2 Điều 44 BLTTDS năm 2004 và BLTTDS sửa đổi năm 2011, nay được
quy định tại các điều 57, 62, 278, 331, 354, khoản 2 Điều 504 và một số điều luật
khác trong BLTTDS 2015. Ngoài ra, để bảo đảm thực hiện được nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện trưởng VKS, khoản 2 Điều 57 BLTTDS năm 2015 quy định khi Viện
trưởng vắng mặt thì một Phó viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện
nhiệm vụ quyền hạn của Viện trưởng.
Là người tiến hành tố tụng, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KSVTPL đối với
hoạt động tố tụng, khi tham gia vào các hoạt động TTDS Kiểm sát viên có những
nhiệm vụ, quyền hạn sau: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc
giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại như kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ án,
các quyết định tố tụng, bản án, quyết định giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại,
tham gia phiên tòa xét xử vụ án về kinh doanh, thương mại, phiên họp giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại, phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ
án kinh doanh, thương mại…Hoạt động của KSV góp phần bảo đảm việc giải quyết
đúng đắn, khách quan các vụ án kinh doanh, thương mại. Để phát huy được vai trò
của KSV về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, các nhiệm vụ, quyền hạn
của KSV đã được quy định khá đầy đủ tại các Điều 45, 207, 234, 271 BLTTDS năm
2004 và BLTTDS sửa đổi năm 2011, nay được quy định tại các điều 58, 232, 262
và một số điều luật khác trong BLTTDS năm 2015.
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về chức danh Kiểm tra viên và ghi
nhận cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể này tại điểm b, khoản 1 Điều 46
BLTTDS năm 2015. Khi được phân công, Kiểm tra viên có nhiệm vụ nghiên cứu
hồ sơ vụ án, báo cáo kết quả với KSV, lập hồ sơ kiểm sát vụ án kinh doanh, thương
toàn diện, đảm bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật của các bản án, quyết định, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
1.2. Cơ sở của việc xây dựng các quy định về kiểm sát việc thực hiện pháp luật
trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
15
1.2.1.Về cơ sở lý luận
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu hoạt động kiểm tra, giám sát đối với các cơ
quan Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta“Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”3. Sự phân công quyền lực nhà
nước là để phân định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà
nước, tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước thực hiện có hiệu quả chức năng,
nhiệm vụ được giao, tránh sự lạm quyền, lộng quyền hay sự tha hóa. Việc phân định
rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan nhà nước nói trên chính là tạo cơ sở
cho kiểm sát quyền lực nhà nước.
Ở nước ta, bất kỳ cơ quan nhà nước nào cũng tồn tại bộ phận thực hiện chức
năng kiểm tra giám sát mà chúng ta thường gọi là cơ chế tự kiểm tra, giám sát từ
bên trong hệ thống. Tuy nhiên, cơ chế tự kiểm tra, giám sát thường luôn tồn tại sự
chủ quan, bao che, dung túng nên thường dẫn đến sự lạm dụng quyền. Vì vậy, rất
cần có một cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài, do một cơ quan chuyên trách
thực hiện để đảm bảo sự khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Quá trình giải quyết các vụ, tranh chấp kinh doanh, thương mại của TAND là
một trong những hoạt động tư pháp thực hiện quyền lực nhà nước, hoạt động này
tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Những sai
lầm, vi phạm trong lĩnh vực này sẽ ảnh gây tổn hại đến lợi ích của nhà nước và nhân
dân, giảm niềm tin của nhân dân vào công lý. Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động
quyền lực tư pháp, bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa quyền tự định đoạt của đương sự
và sự can thiệp của Nhà nước để bảo vệ công lý, tránh sự lạm quyền, tiêu cực của Tòa
án trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại. Quyền và nghĩa vụ tố
tụng của đương sự được tôn trọng.
Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm chế độ chính trị và nguyên tắc tổ chức thực
hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta.
Bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, dưới sự lãnh
đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, nhân dân thông qua quyền lập hiến trao quyền lực nhà nước của mình cho
Quốc hội. Song, do tính chất của Quốc Hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
17