Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng tòa án ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ TRANG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƢƠNG MẠI THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG
TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2013
2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ĐINH THỊ TRANG
4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8
MỞ ĐẦU 9
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI BẰNG CON ĐƢỜNG
TÒA ÁN 14
1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thƣơng mại và giải quyết tranh
chấp kinh doanh thƣơng mại 14
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại 14
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 17
1.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
ngoài tòa án hiện nay 19
1.2.1. Một số phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
ngoài tòa án ở Việt Nam hiện nay 20
1.2.2. Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thông
qua các thiết chế quốc tế và khu vực 222
1.2.3. So sánh giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án
với một số phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
khác 236

thống tòa án Việt Nam 74
2.2.2. Các khó khăn nổi lên khi áp dụng giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại tòa án. 76
2.3. Đánh giá về mối quan hệ giữa các khiếm khuyết trong quy định
của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
và các vƣớng mắc khi thực thi pháp luật 81
2.3.1. Sự chồng chéo về thẩm quyền trong xét xử tranh chấp kinh doanh
thương mại 81
2.3.2. Sự phân loại chưa hợp lý giữa thẩm quyền xét xử tranh chấp kinh
doanh thương mại và tranh chấp dân sự ở tòa án các cấp 83
6

Kết luận chƣơng 2 84
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 85
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp
kinh doanh thƣơng mại tại tòa án nhân dân 85
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân 85
3.1.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân 87
3.2. Một số giải pháp cụ thể: 93
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng để nâng cao hiệu quả
việc áp dụng trên thực tế 89
3.2.2. Các biện pháp hỗ trợ công tác xét xử và nâng cao hiệu quả của
việc xét xử 97
3.2.3. Một số giải pháp hỗ trợ 99
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TRÍCH NGUỒN 106

8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1: Cơ cấu thẩm quyền xét xử theo cấp tranh chấp KDTM 40
Sơ đồ 2: Quy trình giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND 50
Biểu đồ 1: Biểu đồ số liệu thụ lý giải quyết sơ thẩm các vụ án tranh chấp
KDTM của ngành TA qua các năm 90
9

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đầu năm 2011 vừa qua, Đại hội lần thứ XI đã họp, thảo luận và thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) và chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 2010 – 2020. Để phục vụ cho chiến lược này cần có những nghiên cứu
và phát triển sâu rộng các quy định của hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp
luật trong lĩnh vực kinh tế và giải quyết các vụ án trong tranh chấp kinh doanh
thương mại (KDTM). Đây là yêu cầu hết sức cần cấp thiết bởi lẽ trong những
năm gần đây có nhiều diễn biến phức tạp của đời sống xã hội nên các tranh
chấp KDTM cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Theo số liệu đánh giá
của ngành tòa án, hàng năm mỗi đơn vị tòa án cấp quận huyện thụ lý hàng
trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp KDTM. Hầu hết là các tranh
chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh
chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán…Sự gia tăng
của các tranh chấp như trên cũng như những loại án đặc thù trong lĩnh vực
KDTM ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không ngừng nghiên cứu
và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong lĩnh vực giải
quyết tranh chấp loại này để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi cho các
bên là việc làm không phải đơn giản. Để đáp ứng nhu cầu này, tác giả mạnh
dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại theo thủ tục tố tụng tòa án ở Việt Nam hiện nay”.
Trên thực tế, các tranh chấp KDTM ở Việt Nam hầu hết đều được lựa
chọn giải quyết bằng con đường tòa án, các bên tham gia hoạt động KDTM

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề lý luận
cơ bản của nội dung tố tụng tại tòa án (chủ yếu dựa trên văn bản pháp luật
hiện hành là BLTTDS 2004 và các văn bản pháp lý có liên quan cùng với
thực tiễn hoạt động xét xử các loại án KDTM tại TAND hiện nay). Từ đó, có
11

phương hướng đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết
các vụ án tranh chấp KDTM hiện nay. Mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng của pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM bằng
thủ tục tố tụng tại tòa án ở Việt Nam hiện nay.
- So sánh thủ tục tố tụng tòa án với một số thủ tục tố tụng khác. Tìm
hiểu nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng giải quyết án
KDTM tại tòa án.
Qua đó tìm hiểu, phát hiện ưu và nhược điểm của thủ tục này để các cơ
sở KDTM có được sự lựa chọn tốt nhất trong việc giải quyết các tranh chấp
của mình, nhanh chóng khắc phục những hạn chế bất cập làm ảnh hưởng đến
quá trình sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng
hoàn thiện pháp luật tố tụng hiện nay ở Việt Nam để phục vụ tốt hơn trong
quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chọn khuôn khổ trình tự,
thủ tục tố tụng trong công tác giải quyết án KDTM tại tòa án nhân dân (trên
cơ sở các quy định của phần thủ tục của phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm trong
BLTTDS 2004 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện
BLTTDS 2004 và có liên quan làm đối tượng nghiên cứu và khoanh vùng
phạm vi nghiên cứu.
Do thời gian thực hiện còn hạn chế, luận văn chỉ tập trung vào nghiên
cứu thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM đến giai đoạn phúc thẩm.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:

Luận văn có một số sáng kiến đóng góp mới điển hình sau đây:
+ Sáng kiến trong việc sửa đổi, bổ sung về cách phân loại vụ án dân sự
nói chung và án KDTM nói riêng về các loại án đơn giải, phức tạp hay đặc
13

biệt phức tạp phụ thuộc vào nội dung vụ án để có định hướng giải quyết ngay
từ giai đoạn thụ lý để xá định được thời gian giải quyết vụ án, tránh trường
hợp kéo dài đối với những vụ án đơn giản, đòi hỏi giải quyết nhanh chóng.
+ Sáng kiến sửa đổi trực tiếp Điều 174 BLTTDS 2004 về các quy định
về nội dung cụ thể của thông báo thụ lý, theo đó, yêu cầu Điều 174 BLTTDS
2004 quy định chi tiết hơn về nội dung vụ án trong thông báo thụ lý vụ án để
các bên đương sự và VKS đều nắm được nội dung cụ thể của tranh chấp để có
ý kiến chính xác, phù hợp.
+ Sáng kiến trong việc cải cách cả hệ thống TAND xây dựng mô hình
tòa án các cấp theo tinh thần cải cách tư pháp.
+ Một số sáng kiến khác giúp cho việc cải cách công tác giải quyết án
sao cho phù hợp hơn, tránh rườm rà nhưng vẫn đảm bảo được tính công bằng,
khách quan.
Bố cục của luận văn:
Mở đầu
Nội dung, gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại bằng con đường tòa án.
Chương 2: Thực trạng pháp luật thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại tòa án nhân dân và tình hình thực thi ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay.
Kết luận
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
15

Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng
nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh,
cung ứng các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã
được BLTTDS 2004 gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại và đưa
vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh chấp là hoàn toàn phù hợp.
BLTTDS 2004 không dùng khái niệm “tranh chấp về hợp đồng kinh tế” như
Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế mà dùng khái niệm “tranh chấp trong
hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã liệt kê đầy đủ hơn các hành vi kinh
doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân.
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những
mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức
trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ gọi
chung là trong hoạt động KDTM.
Cách định nghĩa này mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra
được bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích
phát sinh khi tham gia các hoạt động KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu
thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung
đột lớn, đến mức không thể điều hòa thì tranh chấp mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh thương mại thì
giáo trình Luật Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa
ra quan điểm về tranh chấp thương mại: Tranh chấp thương mại là những mâu
thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá
trình thực hiện các họat động thương mại.[11, Tr 432].
Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa ra được
cách hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể
khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề

tòa án, theo đó, có các loại tranh chấp KDTM bao gồm bốn nhóm việc như sau:
17

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
bao gồm: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký
gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng
hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyển
hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ
phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo
hiểm; thăm dò, khai thác;
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
1.1.2. Khái niệm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
a. Khái niệm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính
xung đột vừa hợp tác. Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách
nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt
động kinh doanh, sản xuất của mình trở lại bình thường ổn định. Do đó, việc
giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan
giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm
bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM.
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn,
bất đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ…(được gọi
chung là các hoạt động KDTM). Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực

nội dung khác đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp KDTM theo quy trình,
đảm bảo tính pháp lý.
19

- Đối với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM như hòa giải,
thương lượng chỉ cần các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật chưa có quy
định về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng phương thức này nhưng
trong các phương thức giải quyết khác mà pháp luật có quy định về trình tự
thủ tục đều khuyến khích các bên tiến hành hòa giải hoặc thương lượng trước
khi buộc phải tiến hành các thủ tục khác.
- Trong trường hợp lựa chọn tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp
KDTM thì các bên phải tuân thủ triệt để nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại
BLTTDS 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này.
Mặc dù tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng nhiều phương
thức khác nhau như thương lượng, hòa giải hoặc bằng con đường tòa án hoặc
bằng các cơ quan khác ngoài tòa án nhưng tác giả chỉ tập trung đi sâu phân
tích các vấn đề có liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp KDTM thông
qua thủ tục tố tụng tại tòa án như đã trình bày ở phần đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, trong luận văn. Tuy nhiên, để tìm hiểu nội dung phương thức giải
quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án được đầy đủ và hoàn thiện thì vẫn cần
tìm hiểu về các phương thức giải quyết khác, so sánh với phương thức giải
quyết tranh chấp bằng tòa án để rút ra những ưu nhược điểm của phương thức
này. Từ đó, có phương hướng hoàn thiện cả trên lý thuyết và thực tiễn áp
dụng đối với phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án ở Việt
Nam hiện nay.
1.2. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
ngoài tòa án hiện nay.
Khi các quan hệ kinh doanh càng phát triển, những tranh chấp xảy ra là
điều không tránh khỏi nhưng lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào để

(1)Thương lượng
Thương lượng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là
phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng
21

nhau bàn bạc, tự dàn xếp, thỏa thuận tìm ra cách giải quyết các vấn đề tranh
chấp trên cơ sở lợi ích và trách nhiệm của các bên với nhau để loại bỏ tranh
chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào.
Thương lượng là phương thức thường được các bên tranh chấp lựa chọn trước
tiên khi có tranh chấp xảy ra, và trên thực tế phần lớn các bên tranh chấp
trong kinh doanh thương mại vẫn thường lựa chọn phương thức này để giải
quyết tranh chấp trước khi lựa chọn các phương thức khác. Đây là phương
thức được lựa chọn nhiều bởi lẽ phương thức này mang đến cho các bên tranh
chấp nhiều lợi thế như nhanh chóng, đơn giản, ít tốn kém và cũng giữ được
hòa khí kinh doanh để sau này các bên tiếp tục mối quan hệ kinh doanh với
nhau. Các quy định của pháp luật Việt Nam cũng khuyến khích áp dụng
phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn
toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên khi có tranh chấp xảy ra. Pháp
luật hiện hành không có quy định loại tranh chấp thương mại nào mới được
thương lượng. Chỉ quy định khi có tranh chấp các bên có thể lựa chọn thương
lượng để giải quyết. Không giống với giải quyết tranh chấp thương mại bằng
hòa giải, trọng tài hay tòa án là các bên phải có thỏa thuận giải quyết tranh
chấp KDTM bằng phương thức hòa giải, trọng tài, tòa án trước trong hợp
đồng hay được thỏa thuận sau khi xảy ra tranh chấp mới có thể áp dụng các
phương thức này vào giải quyết tranh chấp KDTM. Thì đối với việc sử dụng
phương thức thương lượng để giải quyết tranh chấp KDTM chỉ đòi hỏi các
bên có thiện chí và sự nhượng bộ cần thiết.
Khi tiến hành thương lượng, thông qua những cuộc đàm phán, tiếp xúc
trực tiếp, các bên nhanh chóng hiểu biết được quan điểm, thái độ hợp tác và
thiện chí của mỗi bên và có sự điều chỉnh thích hợp để ý chí của các bên sớm

Tóm lại, thương lượng và hòa giải là hai phương thức giải quyết tranh
chấp KDTM có nhiều ưu điểm là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng tính
linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém. Ngoài ra, giải quyết tranh chấp KDTM bằng
thương lượng và hòa giải còn bảo vệ được uy tín cho các bên tranh chấp, cũng
như bí mật trong kinh doanh của các nhà kinh doanh. Các nhà kinh doanh hơn
23

ai hết đều biết tự bảo vệ quyền lợi của bản thân mình, hiểu rõ những bất đồng
và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán thương lượng dễ
hiểu và thông cảm với nhau hơn, để có thể thỏa thuận được các giải pháp tối
ưu theo đúng nguyện vọng của mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào
cũng có thể làm được. Cho nên, nếu thương lượng thành công không những
các bên đã loại bỏ đựợc những bất đồng đã phát sinh, mà mức độ phương hại
đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết
duy trì mối quan hệ và hợp tác lẫn nhau trong tương lai.
(3)Trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một phương thức giải quyết
tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các
nhà kinh doanh ưa chuộng. Phương thức giải quyết tranh chấp này được Pháp
luật quy định theo khuôn mẫu, trình tự (Luật TTTM 2010). Theo đó, thông
qua hoạt động của trọng tài viên, tranh chấp được giải quyết bằng một phán
quyết trọng tài mà hai bên tranh chấp phải thực hiện. Theo phương thức này,
các bên được bảo đảm quyền tự do định đoạt như: lựa chọn tổ chức trọng tài,
lựa chọn trọng tài viên…Đây là phương thức có tính ràng buộc cao, thủ tục
cũng đơn giản, nhanh chóng đảm bảo được bí mật kinh doanh và uy tín. Tuy
nhiên, để áp dụng phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp trong
KDTM, đòi hỏi các bên phải có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài phải
được các bên tranh chấp lập ra trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp và thỏa
thuận trọng tài chưa bị tuyên vô hiệu. Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai
hình thức là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực. Trọng tài vụ việc là

1.2.2. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại thông
qua các thiết chế quốc tế và khu vực đặc biệt
(1)Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
25

WTO là một thiết chế pháp lý của hệ thống thương mại đa bên, là nền
tảng của quá trình phát triển các quan hệ thương mại giữa các nước thông qua
các cuộc thảo luận, thương lượng và đàm phán có tính chất tập thể. WTO có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO. Cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO đã có những thay đổi tích cực góp phần nâng cao
hiệu lực và tác dụng của cơ chế này với mục đích giải quyết ổn thỏa các tranh
chấp thương mại quốc tế, duy trì ổn định và phát triển hệ thống thương mại đa
phương theo Hiệp định WTO. Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO còn là thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết
tranh chấp và thường được gọi là Thỏa thuận giải quyết tranh chấp.(Gọi tắt là
DSU-Dispute Settlement Understanding).
Chủ thể của cơ chế giải quyết tranh chấp là các quốc gia thành viên của
WTO. Tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của DSU là các tranh chấp phát
sinh trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia thành viên WTO với nhau
chứ không phải là tranh chấp giữa các chủ thể là cá nhân công dân hoặc tổ
chức mang quốc tịch của các nước thành viên WTO mặc dù họ chính là đối
tượng trực tiếp thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế. Vì thế, đối tượng
này muốn tiếp cận được cơ chế giải quyết WTO, thì thường pháp luật quốc
gia họ có quy định, họ có thể đệ đơn lên chính phủ của mình đề nghị đưa
tranh chấp ra WTO nếu thấy có hành vi cho là vi phạm Hiệp định WTO.
Tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO xuất hiện khi một nước thành viên WTO cho rằng một nước thành
viên khác đã vi phạm các quy định khác của WTO, làm ảnh hưởng đến lợi ích
của họ hoặc ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của các cam kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status