Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn tại tòa án nhân dân tỉnh quảng ninh - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

NGUYỄN THANH TÙNG

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

NGUYỄN THANH TÙNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG

HÀ NỘI - 2018



3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................ 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 5
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu .................................................. 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ............................................................. 6
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................................. 6
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI ......................................................................7
1.1 Khái quát giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại ................................... 7
1.1.1. Nhận diện hợp đồng thương mại ....................................................................... 7
1.1.2. Tranh chấp hợp đồng thương mại ...................................................................11
1.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại và vai trò đối với sự phát triển
của doanh nghiệp ..............................................................................................................14
1.2.1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại ..................................................14
1.2.2. Vai trò của giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại...............................15
1.3. Yêu cầu và các hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại .........17
1.3.1. Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại .....................17
1.3.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại .........................18
1.4. Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp
đồng thƣơng mại ...............................................................................................................22
1.4.1. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp
đồng thương mại................................................................................................................22
1.4.2. Khái niệm và nội dung điều chỉnh của pháp luật về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại ........................................................................................................29
Kết luận Chƣơng 1 ...................................................... Error! Bookmark not defined.


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH .............................................................................................33

đặt trên quan điểm hoàn thiện hệ thống hoàn thiện pháp luật nói chung .................64
3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
thƣơng mại tại Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay .......................................66
Kết luận Chƣơng 3 ..................................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................74


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng Dân sự

LTM

: Luật Thương mại

LTCTAND

: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

LTTTM

: Luật Trọng tài thương mại

KDTM

Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sau khi gia nhập
WTO, các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với tiến trình phát
triển đó một nền kinh tế thị trường mới đã được mở ra dựa trên sự thiết lập nền tảng
pháp lý là quyền tự do kinh doanh trong quan hệ thương mại với phương thức hình
thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng. Các quan hệ kinh tế trong nước
cũng như các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phong phú và đa dạng. Điều
đó cũng có nghĩa là các tranh chấp trong hợp đồng thương mại tất yếu nảy sinh và
cần phải có cơ chế giải quyết các tranh chấp đó một cách phù hợp và hiệu quả. Một
trong những phương thức giải quyết đó là giải quyết tranh chấp hợp đồng thương
mại tại Tòa án.
Hệ thống pháp luật của nước ta về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
không ngừng ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật. Sự ra đời của Bộ
luật Dân sự (2015), Bộ luật Tố tụng Dân sự (2015), Luật Trọng tài Thương mại
(2010) và một số văn bản pháp luật khác đã tạo khung pháp lý cơ bản điều chỉnh các
quan hệ về tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, thực
tế cho thấy các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Nhiều văn bản pháp luật đã lạc hậu, như Luật
Thương mại (2005) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, việc giải quyết
tranh chấp hợp đồng thương mại được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật
khác. Điều đó, dẫn đến sự chồng chéo, không thống nhất về thẩm quyền, về xác định
bản chất pháp lý của các loại tranh chấp,… Đồng thời quá trình thụ lý, giải quyết của
Tòa án về hợp đồng thương mại cũng còn nhiều hạn chế, như trình độ, năng lực của
thẩm phán, kéo dài, quan điểm và đường lối giải quyết chưa thống nhất,…
Từ nhận thức trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Pháp luật về giải quyết tranh
chấp hợp đồng thương mại - từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh”
làm đề tài luận văn của mình.

1




- Ngô Huy Cương (2003): “Nghĩa vụ và hợp đồng - Một số vấn đề cơ bản”
trong quyển “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam
hiện nay”, Nguyễn Như Phát & Lê Thu Thủy (Cb), Nxb. CAND, H. 2003, tr. 52-80.
- Nguyễn Thùy Trang, Nguyễn Minh Hằng (2011): “Một số vướng mắc từ
việc áp dụng chế định đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng”, Tạp chí Kiểm
sát, Số 6/2011.
- Dương Đăng Huệ (2002): “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 6 (170)/2002, tr. 13 – 22;
- Bùi Ngọc Cường (2009): “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5 (205) tháng 5/2005, tr. 4753&63.
- Phạm Hoàng Giang (2007): “Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp
đồng đến hiệu lực của hợp đồng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 3, tháng
3/2007, tr 41-51.
- Vũ Quốc Tuấn (2013): “Về đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền theo
Điều 588 Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 7/2013.
- Võ Sỹ Mạnh (2013): “Bàn về khái niệm “Vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợp
đồng theo quy định của Luật Thương mại năm 2005”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, Số 8/2013.
- Nguyễn Thanh Tùng (2015): “Bất cập đến chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong thương - Một số kiến nghị”, Tạp
chí Luật học số 7/2015.
- Đồng Thái Quang (2014): “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật
thương mại 2005 - Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân
dân, Số 20/2014.
Một số nhận xét, đánh giá
Thứ nhất, các công trình khoa học đã phân tích, bình luận một số vấn đề lý
luận về hợp đồng, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, như: Chủ thể, Điều kiện có
hiệu lực, Thẩm quyền, Giao kết và thực hiện hợp đồng,...


hợp đồng thương mại, sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về giải
quyết tranh chấp hợp đồng thương mại.

4


- Phân tích đánh giá một số điểm mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng
Dân sự (2015) cũng như các văn bản pháp luật liên quan về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự
(2015), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2013), Luật Thương mại (2005) về giải
quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án nhằm phát hiện những bất cập,
vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu,
luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại tại Tòa án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định về giải quyết tranh chấp
hợp đồng thương mại, như: Nhận diện hợp đồng thương mại, tranh chấp hợp đồng
thương mại, nguyên tắc giải quyết, thẩm quyền, thủ tục giải quyết các tranh chấp về
hợp đồng thương mại,…và thực tiễn áp dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh để đạt được mục đích đặt ra.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật Việt Nam
về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án, trong đó tập trung nghiên
cứu các quy định trong Luật Thương mại (2005), Bộ luật Dân sự (2015), Bộ luật Tố
tụng Dân sự (2015), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2013). Đồng thời nghiên cứu
thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại qua hoạt
động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Về thời gian, luận văn nghiên cứu
các quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ năm 2005 trở lại đây.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê nin, phép biện chứng và duy vật lịch sử.

1.1. Khái quát giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại
1.1.1. Nhận diện hợp đồng thương mại
1.1.1.1.Khái niệm hợp đồng thương mại
Chế định hợp đồng là một trong những nội dung nền tảng của luật dân sự,
được hình thành từ rất sớm và dần được hoàn thiện theo thời gian. Tuy nhiên, trong
lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác như thuật ngữ
“hợp đồng” đang được sử dụng trong pháp luật hiện hành của hầu hết các nước là
việc không dễ dàng. Các luật gia cho rằng thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) được
hình thành từ động từ “contrahere” trong tiếng La-tinh, có nghĩa là “ràng buộc” và
xuất hiện lần đầu tiên ở La Mã vào khoảng Thế kỉ V - IV TCN [30, tr162, 163]. Tuy
nhiên mãi đến Thế kỉ thứ I SCN, người La Mã mới chính thức sử dụng thuật ngữ
“contractus” trong luật và quan hệ hợp đồng được pháp luật công nhận, được bảo
vệ dưới thời Hoàng đế Justinian [31]. Sau này các nước phương Tây đã kế thừa và
phát triển quan niệm pháp lý từ thời La Mã và đã sử dụng chính thức thuật ngữ
“hợp đồng” - trong tiếng Anh là “contract”.
Hợp đồng có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự trong những quan hệ cụ thể [4, Đ. 388].
Bộ luật Dân sự (2015) đã cụ thể hóa khái niệm “hợp đồng” theo nghĩa chủ
quan bằng quy định tại Điều 385: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Quy định của Điều 385
Bộ luật Dân sự (2015) là sự kế thừa từ Điều 388 Bộ luật Dân sự (2005) nhưng đã
lược bỏ đi từ “dân sự” sau từ “hợp đồng”. Điều 388 Bộ luật Dân sự (2005): “Hợp
đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự”.

7


Về lý luận, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự.



quyền, nghĩa vụ của các bên dựa trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và
không được trái với điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không xâm phạm lợi ích
quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; các
bên tham gia hợp đồng cần có sự thiện chí và trung thực và phải tự chịu trách nhiệm
nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
Nhưng bên cạnh đó, hợp đồng thương mại cũng cần phải có những đặc điểm
riêng biệt để phân biệt nó với các loại hợp đồng khác như:
- Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể của hợp đồng thương mại: Hợp đồng thương
mại là thỏa thuận giữa các bên nhưng điểm đặc biệt ở đây là ít nhất một bên trong
đó là thương nhân. Ít nhất một bên tức là hợp đồng thương mại có thể được kí kết
giữa hai bên chủ thể là thương nhân hoặc có thể được kí kết giữa một bên thương
nhân với một bên chủ thể không phải là thương nhân.
Theo Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại (2005) thì thương nhân bao gồm: (1)
“tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp” và (2) “cá nhân hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh”. Theo đó, quy định của
Luật Thương mại (2005) đã xóa nhòa sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước với
nhà đầu tư nước ngoài. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp, cá nhân với tư cách là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cần
đáp ứng các quy định về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và năng lực
hành vi thương mại đều có thể trở thành một bên chủ thể của hợp đồng thương mại.
Hợp đồng thương mại có thể có cả hai bên là thương nhân như hợp đồng đại
diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại…; tuy nhiên, cũng có thể chỉ
cần một bên có tư cách pháp nhân, bên còn lại không phải là thương nhân, ví dụ hợp
đồng trong lĩnh vực đầu tư như hợp đồng BOT, BTO… thì một bên chủ thể bắt
buộc là cơ quan nhà nước có thẩm quyền (không phải là thương nhân) hoặc các hợp
đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa… thì bên
có nhu cầu sử dụng dịch vụ không nhất thiết phải là thương nhân [33].
- Thứ hai, đặc điểm về mục đích của hợp đồng thương mại: Hợp đồng

hợp đồng thương mại do các bên lựa chọn trong ba hình thức: (1) Văn bản và các
hình thức có giá trị tương đương văn bản như điện báo, telex, fax, thông điệp dữ
liệu và các hình thức khác [7, Đ.3]; (2) Lời nói và (3) Hành vi cụ thể. Quy định này
nhìn chung khá tương tự với quy định về hình thức của hợp đồng trong Bộ luật Dân

10


sự (2015), tức là nhìn chung quy định về hình thức của hợp đồng thương mại không
khác gì với hình thức của hợp đồng nói chung.
Tuy nhiên, để đảm bảo nâng cao tính chặt chẽ của hợp đồng, lợi ích của các
bên và hạn chế những rủi ro có nguy cơ xảy ra, đối với một số loại hợp đồng thương
mại, pháp luật thương mại quy định hình thức của hợp đồng bắt buộc phải được thể
hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương
đương, ví dụ như đối với hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán
hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài [7]…
Thứ tư, đối tượng của hợp đồng: Hợp đồng thương mại có thể được ký kết,
thực hiện ở các phương diện khác nhau, như hợp đồng mua bán hàng hóa, các hợp
đồng dịch vụ thương mại, như hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý
thương mại…hoặc hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư như hợp đồng BOT, BTO… Tùy
thuộc vào hợp đồng thương mại ở từng lĩnh vực khác nhau mà đối tượng của hợp
đồng thương mại có thể là hàng hóa hay công việc mà các bên thực hiện trong dịch
vụ thương mại.
1.1.2. Tranh chấp hợp đồng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng thương mại
Luật Thương mại (2005) không có quy định về tranh chấp kinh doanh
thương mại mà chỉ đưa ra định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại là: “hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [7, Đ.3].
Theo đó, “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công

tranh chấp về hợp đồng thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm
quyền cũng như quy trình tố tụng giải quyết tranh chấp. Khi tranh chấp hợp đồng
thương mại phát sinh, các bên thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong việc giải
quyết tranh chấp, như: Lựa chọn hình thức giải quyết, cơ quan giải quyết,…Mỗi
một hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại có những hậu quả pháp lý
khác nhau nhưng đều hướng tới việc bảo vệ lợi ích tốt nhất cho các bên tranh chấp.
Thứ hai, về chủ thể. Các quan hệ tranh chấp hợp đồng thương mại phát sinh
chủ yếu giữa các thương nhân bởi chủ thể của các quan hệ kinh doanh thương mại
hầu hết là các thương nhân. Chủ thể của tranh chấp phải là một tổ chức kinh tế hoặc
hộ kinh doanh, cá nhân hoặc hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh. Các tranh chấp
không có đặc điểm này là tranh chấp dân sự. Đối với cá nhân không có đăng ký

12


kinh doanh, theo Điều 66 của Nghị định 78/2015/NĐ-CP, sẽ không được coi là hoạt
động thương mại, do vậy tranh chấp giữa họ không phải là tranh chấp kinh doanh
thương mại. Ví dụ: Các tổ chức tín dụng, kể cả Ngân hàng Chính sách là khi tham
gia tố tụng phải là một pháp nhân. Việc đưa chi nhánh tham gia tố tụng với tư cách
là một chủ thể độc lập trong tố tụng như một số bản án viết là không đúng quy định.
Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng là nguyên đơn, bị đơn hoặc người liên quan
trong tố tụng thì phải ghi tên của tổ chức tín dụng có tư cách pháp nhân. Nếu tổ
chức đó ủy quyền cho phòng giao dịch hoặc chi nhánh tham gia tố tụng thì đó là với
tư cách người được ủy quyền, đại diện; tên tham gia tố tụng vẫn là tên của một pháp
nhân. Chi nhánh không thể tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn.
Trong bản án không được viết “Chi nhánh… là nguyên đơn, bị đơn” mà cần phải
phải viết lại thành: “Ngân hàng Chính sách xã hội, do ông/bà… Trưởng Chi nhánh,
được ủy quyền đại diện” [37].
Thứ ba, tranh chấp hợp đồng thương mại do xung đột về quyền và nghĩa vụ
giữa các bên. Những mâu thuẫn hay bất đồng giữa các bên chủ yếu là về lợi ích, có

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Bên cạnh đó, tranh chấp kinh doanh thương mại còn diễn ra một số lĩnh vực
khác, như: tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty, tranh chấp có
yếu tố nước ngoài,…[30, Đ.30].
Thứ hai, theo tính chất quốc tế. Theo tính chất quốc tế, tranh chấp hợp đồng
thương mại gồm tranh chấp hợp đồng có yếu tố nước ngoài và tranh chấp hợp đồng
thương mại không có yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, căn cứ vào chủ thể tranh chấp, tranh chấp hợp đồng thương mại bao
gồm: Tranh chấp hợp đồng thương mại giức các chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp
với nhau và tranh chấp hợp đồng thương mại giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các dự án đầu tư.
1.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thƣơng mại và vai trò đối với sự phát
triển của doanh nghiệp
1.2.1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại

14


Tranh chấp hợp đồng thương mại là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động
kinh doanh và vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tự thân
trong nền kinh tế. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, duy trì trật tự
kinh tế cần phải có một cơ chế giải quyết tốt nhất. Giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại được hiểu là việc lựa chọn các hình thức, các phương pháp thích hợp
nhằm giải tỏa các bất đồng mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể kinh doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có tranh chấp; tạo
lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được. Tranh chấp

là yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ làm ăn? Phần lớn câu trả lời nhận được
là: Tính chặt chẽ và Hình thức của hợp đồng.
Thứ nhất, giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại dựa trên cơ sở của
nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện thỏa thuận hợp đồng thương mại, dù được
soạn thảo bằng văn bản hay chỉ là những thỏa thuận bằng lời, đều đóng vai trò là
“hòn đá tảng” cho các hoạt động đầu tư và phần lớn các hoạt động kinh doanh khác
của công ty. Mỗi hợp đồng sẽ là cơ sở tạo thành các yếu tố liên quan, từ đó thiết lập
các quan hệ kinh doanh giữa các đối tác như nhân lực, khách hàng, nhà thầu, chi
phí, quyền lợi và trách nhiệm. Những bản hợp đồng đảm bảo cho công ty sớm nhận
diện và xử lý là cơ sở pháp lý được ghi nhận và đảm bảo giải quyết các vấn đề đặt
ra, đạt được mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.
Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan trong
quan hệ hợp đồng. Hợp đồng thương mại được xem là “huyết mạch” để đảm bảo
rằng các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty được liên tục và hiệu quả. Các
cam kết hay điều khoản của hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng trong giải quyết
tranh chấp khi phát sinh. Nếu sự thỏa thuận, thống nhất giữa các bên không có sự
minh bạch, cụ thể thì khi đưa ra phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền giải
quyết khó đảm bảo sự thuyết phục. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại kịp
thời và hiệu quả các tranh chấp cho phép hạn chế đến mức tối thiểu sự gián đoạn
của sản xuát kinh doanh cũng như đặt ở mức chi phí thấp nhất. Song quan trọng đó
là phải bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi
tham gia vào kinh tế thương mại.
Thứ ba, việc ký kết các hợp đồng thương mại là cơ sở pháp lý để đảm bảo
rằng hợp đồng được ký kết có hiệu lực hay không? Vì vậy, khi tranh chấp xảy ra thì
một trong vấn đề “cốt lõi” là các nhà thực thi pháp luật xác định rằng bản hợp đồng
đó có hiệu lực hay bị coi là vô hiệu. Thực tế cho thấy đó có nhiều trường hợp các

16




17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status