1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ VÂN ANH Gi¶i quyÕt ly h«n cã yÕu tè n-íc ngoµi
qua thùc tiÔn xÐt xö t¹i Tßa ¸n nh©n d©n
thµnh phè Hµ Néi
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chƣa
từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Vân Anh 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 11
1.1. Khái niệm và đặc điểm giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài 11
1.1.1. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài và giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài 11
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ly hôn có yếu tố nước ngoài 11
1.1.1.2. Khái niệm, nội dung trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố
nước ngoài 14
1.1.2. Đặc điểm của việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 17
1.2. Căn cứ pháp luật và các yếu tố ảnh hƣởng đến áp dụng luật trong
có yếu tố nước ngoài 62
2.2.4.1.Về thời gian mở phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa 62
2.2.4.2. Về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự 64
2.2.4.3. Về thủ tục tranh luận tại phiên tòa. 65
2.2.4.4. Nghị án và tuyên án 67
2.2.4.5. Về việc Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án 68
2.2.4.6. Về thủ tục cấp trích lục bản án, bản án của Tòa án 69
2.2.5. Một số vấn đề trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cần rút kinh nghiệm 70
2.3. Một số vấn đề về ủy thác tƣ pháp trong giải quyết các vụ án ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài 73
2.3.1. Việc ủy thác thu thập chứng cứ 73
3
2.3.2. Thời gian thực hiện ủy thác tư pháp 81
2.3.3. Kinh phí thực hiện ủy thác tư pháp 82
2.3.4. Địa chỉ của đương sự ở nước ngoài 83
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 85
3.1. Thực trạng một số vấn đề của pháp luật về giải quyết ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài tại Việt Nam 85
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài 88
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế, đi đôi với sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong
nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội giữa nước ta với các nước khác
trên thế giới ngày càng mở rộng; phát triển thì cũng kéo theo nó là vấn đề về
hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói riêng ngày một gia tăng.
Mục tiêu của hôn nhân là cuộc sống gia đình hạnh phúc, hòa thuận. Tuy
nhiên, không phải lúc nào cuộc sống hôn nhân cũng đạt được mong muốn của
đôi bên nam nữ; xuất phát từ lý do này hay lý do khác mà cuộc hôn nhân đã đi
đến tan vỡ dẫn đến việc họ phải lựa chọn giải pháp ly hôn.
Do vậy, ly hôn là một hiện tượng xã hội, bất kỳ ở xã hội nào dù muốn
hay không vấn đề ly hôn cũng không thể loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Mục
đích của việc kết hôn là để xây dựng gia đình trên cơ sở sự tự nguyện của vợ
chồng, nhưng khi cuộc sống hôn nhân đó không thể tồn tại trên thực tế thì vấn
đề ly hôn là điều cần thiết, nó giúp cho chủ thể của quan hệ hôn nhân thoát
khỏi sự ràng buộc về mặt pháp lý; bởi ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ
chồng trên cơ sở pháp luật bằng bản án hoặc quyết định của Toà án.
Hà Nội là thủ đô của cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá
của cả nước thì vấn đề hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày càng phát triển,
đặc biệt là từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội trở thành
thành phố lớn nhất của cả nước. Cùng với sự phát triển các quan hệ hợp tác,
giao lưu quốc tế thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia
kịp thời dẫn đến trong công tác xét xử của ngành Tòa án trong thời gian qua còn
gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
7
Bên cạnh đó trong bối cảnh hội nhập quốc tế, với thực trạng nền kinh tế
thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vấn đề ly
hôn có yếu tố nước ngoài của ta ngày càng phong phú và cũng nảy sinh nhiều
dạng tranh chấp phức tạp. Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn xét xử các vụ
án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TANDTP Hà Nội trong thời gian qua cho
thấy, hàng năm TANDTP Hà Nội đã thụ lý và giải quyết hàng trăm vụ việc ly
hôn có yếu tố nước ngoài. Nhiều vụ án phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết
phục chưa cao, có những bản án, quyết định của Toà án vẫn bị coi là chưa
"thấu tình, đạt lý", có nhiều vụ án còn để kéo dài. Sở dĩ còn tồn tại những bất
cập trên là do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan, có nguyên
nhân chủ quan.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Giải quyết ly
hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân
thành phố Hà Nội" để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học của mình. Đây
là một đề tài có ý nghĩa quan trọng, cấp bách cả về phương diện lý luận và
thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề rộng và phức tạp, có lịch sử hình
thành và phát triển khá phong phú, quan hệ này không chỉ được điều chỉnh
bởi hệ thống luật pháp trong nước mà còn được điều chỉnh bởi hệ thống luật
pháp quốc tế có liên quan. Do vậy, liên quan đến vấn đề này nhiều nhà khoa
học pháp lý đã quan tâm nghiên cứu, nhưng đề tài: Giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
chưa được đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, luận văn này là
một công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá thực tiễn
công tác xét xử và hoàn thiện pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật. Đặc biệt là
về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội
nhập quốc tế.
LuËn v¨n được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp khoa học
chuyên ngành như: phương pháp lịch sử; phương pháp logíc; phương pháp
phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp để làm sáng tỏ các
nội dung cần nghiên cứu.
5. Những đóng góp về khoa học của luận văn.
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật
về ly hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố
nước ngoài tại TANDTP Hà Nội.
- Tìm ra những điểm bất cập còn tồn tại trong thực tiễn giải quyết ly
hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nói chung và TANDTP Hà Nội nói
riêng.
- Từ nhận xét, đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài, tác giả đưa ra một số quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện
pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận văn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho việc
sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về quan hệ hôn nhân gia đình có
yếu tố nước ngoài. Đồng thời luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ
công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên
chuyên ngành Luật và không chuyên Luật cũng như việc giảng dạy, học tập
môn Nhà nước pháp luật. Bên cạnh đó luận văn đề ra các giải pháp cụ thể
hoàn thiện pháp luật về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài sẽ có ý nghĩa
10
quyền tự do về dân sự. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ly hôn gắn liền với
thủ tục, thẩm quyền, và sự kiểm soát giải quyết việc ly hôn của cơ quan nhà
nước. Thẩm quyền tài phán nói chung, thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố
nước ngoài nói riêng được giải quyết dựa trên cơ sở các nguyên tắc về chủ
12
quyền tài phán quốc gia. Hay nói cách khác, giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài là việc áp dụng pháp luật để giải quyết ly hôn trên cơ sở vận dụng các
nguyên tắc xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế.
Mặt khác, việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải dựa trên cơ
sở những quy định của pháp luật về đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của
con cái, dựa trên căn cứ ly hôn, việc giải quyết ly hôn không dựa vào lỗi của
các bên, mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân, bởi:
Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện, cuộc hôn nhân
này là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài
và giả dối. Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp,
cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất
của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân này đã chết hoặc
chưa chết. Bởi vì…việc xác nhận sự kiện chết là tùy thuộc vào thực
chất của vấn đề chứ không phải vào nguyện vọng của những bên
hữu quan…Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong
đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất hôn
nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi, việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân
chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan vỡ bên trong của nó. [6,
tr.234].
Theo pháp luật Việt Nam cơ sở để chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt
pháp lý là một bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp
luật. Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly
hôn. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, gắn liền với vợ chồng, do vợ
chồng tự mình thực hiện mà không thể chuyển giao cho người khác, vì vậy
kt hụn vi nhau ti M, theo phỏp lut M, chung sng vi nhau ti M. Nay
h v Vit Nam xin ly hụn ti Tũa ỏn Vit Nam, trng hp ny Tũa ỏn cú
14
thẩm quyền của Việt Nam có thể thụ lý vụ án để giải quyết trên cơ sở thừa
nhận việc kết hôn của họ ở Mỹ và tài sản của họ ở Mỹ là hợp pháp, việc kết
hôn của họ không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện
kết hôn.
- Trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có tài sản tranh chấp ở
nước ngoài. Trường hợp này có thể là các bên đương sự đều là người Việt
Nam nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng cũng có thể là giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài có tài sản ở nước ngoài. Đối với việc giải
quyết vụ án ly hôn mà giải quyết về tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì
khi ly hôn giải quyết về bất động sản sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có
bất động sản đó (điểm c khoản 14 LHNGĐ năm 2000).
Như vậy ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Ly hôn có yếu tố nước
ngoài là việc Toµ ¸n chấm dứt quan hệ vợ chồng có yếu tố nước ngoài theo
trình tự thủ tục do pháp luËt quy định.
1.1.1.2. Khái niệm, nội dung trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài.
Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Toà án là cơ
quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn. Khi giải
quyết các vụ án ly hôn Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình. Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục vµ những
nguyên tắc cơ bản được quy định trong luËt tố tụng dân sự nh- nhiệm vụ
quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, quyền,
nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.
Vụ án ly hôn có yếu tố nưíc ngoài cũng phát sinh tại Tòa án từ khi vợ
chồng hoặc cả hai vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án
16
không có yêu cầu độc lập, họ có thể đứng về phía nguyên đơn hoặc đứng
về phía bị đơn.
- Người đại diện của đương sự: cũng giống như các vụ án dân sự khác,
trong vụ án ly hôn có thể xuất hiện tư cách của người đại diện của đương sự
có thể là đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật. Khi vợ chồng ly
hôn thì họ có thể ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết một số
quan hệ như về con cái hay quan hệ tài sản. Ly hôn là một quan hệ đặc biệt,
do vậy có 3 quan hệ trong vụ án ly hôn đó là quan hệ nhân thân, quan hệ con
cái và quan hệ tài sản thì ở quan hệ thứ nhất vợ chồng không được phép ủy
quyền cho người khác thay mặt họ để giải quyết mà họ phải tự tham gia, bëi
đó là là quyền nhân thân không thể tách rời, do vậy đối với việc ly hôn, đương
sự phải tự mình tham gia mà không được ủy quyền cho người khác (khoản 3
Điều 73 BLTTDS). Đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu đương sự
đang ở nước ngoài mà có ủy quyền cho người khác thay mặt họ tham gia tố
tụng thì Tòa án cũng phải kiểm tra xem thủ tục ủy quyền đúng chưa, giấy ủy
quyền đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự chưa, nội dung ủy quyền đến đâu để
xác định người được ủy quyền có thực hiện ®óng néi dung được ủy quyền
không, thực hiện có vượt quá phạm vi được ủy quyền hay không. Trong thực
tiễn xét xử cho thấy có trường hợp đương sự chỉ ủy quyền cho người khác
thay mặt mình tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người được ủy quyền lại
thực hiện hành vi vượt quá phạm vi được ủy quyền như rút đơn khởi kiện…có
trường hợp đương sự ủy quyền chết, quá trình giải quyết vụ án Tòa án chỉ báo
gọi người đại diện theo ủy quyền của họ đến để giải quyết vụ án và vẫn xác
định người đã chết trong vụ án là đương sự, đây là những trường hợp vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Như vậy trình tự thñ tôc giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
là việc Tòa án có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định
17
chưa được hợp pháp hóa lãnh sự hay chưa được xác nhận của cơ quan đại
diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân đó đang cư trú
nhưng Tòa án vẫn phải xem xét giải quyết ví dụ như trường hợp công dân
Việt Nam ra nước ngoài du lịch rồi ở lại sinh sống ở nước ngoài, họ không về
Việt Nam để giải quyết ly hôn mà gửi đơn về Việt Nam qua đường bưu điện
hoặc qua thân nhân của họ ở Việt Nam. Do họ ở nước ngoài là bất hợp pháp
nên đơn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, chưa được xác nhận của cơ
quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân đó đang cư
trú trường hợp này thực tiễn xét xử sau khi nhận được đơn của họ và trên cơ
sở yêu cầu của đương sự Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết
chữ ký trong đơn với tài liệu mẫu (nếu có), nếu xác định là đúng thì Tòa án
vẫn giải quyết cho ly hôn. Như vậy việc giải quyết này đã góp phần tháo gỡ
vướng mắc trong việc để án tồn đọng, kéo dài.
- Việc tiến hành các bước tố tụng như lấy lời khai của đương sự, tống
đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, việc điều tra,
xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài phải được thực hiện qua con đường
ngoại giao, Tòa án UTTP theo quy định chung của Tư pháp quốc tế.
- Thủ tục hòa giải trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đối với
đương sự đang ở nước ngoài không được đặt ra, coi như trường hợp không
thể hòa giải nên Tòa án không phải báo gọi đương sự ở nước ngoài về tham
gia phiên hòa giải. Tuy nhiên đối với đương sự ở nước ngoài về nước trong
thời gian Tòa án hòa giải thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải đối với họ theo thủ
tục chung.
- Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước ngoài tham gia tố tụng
tại phiên tòa, trường hợp này Tòa án chỉ thông báo cho họ biết việc Tòa án
mở phiên tòa. Tuy nhiên pháp luật không quy định Tòa án thông báo cho họ
19
trong thời hạn bao lâu từ khi thông báo đến khi mở phiên tòa nên vấn đề này
còn mang tính hình thức.
Nam nhng h khụng thng trỳ ti Vit Nam m ni thng trỳ chung ca
h l nc ngoi thỡ ỏp dng phỏp lut ca nc ni h thng trỳ chung
gii quyt. Khon 2 iu 24 HTTTP gia Vit Nam v Ba Lan nm 1993
quy nh: "nu v chng khụng cựng quc tch, quan h nhõn thõn v quan h
ti sn s c iu chnh bi phỏp lut ca nc ký kt ni h ang thng
trỳ hoc ó cựng thng trỳ ln cui cựng".
+ Lut quc tch: l phỏp lut nc m ng s mang quc tch. Theo
quy nh ca phỏp lut Vit Nam thỡ khi gii quyt v ỏn ly hụn cú yu t
nc ngoi vic xỏc nh lut ỏp dng cn c vo quc tch Vit Nam, nu v
chng khụng cú ni thng trỳ chung v mt trong hai ngi cú quc tch
Vit Nam thỡ ỏp dng phỏp lut ca Vit Nam gii quyt vic ly hụn.
+ Lut ni cú ti sn: trong v ỏn ly hụn cú yu t nc ngoi nhiu
trng hp khi gii quyt v ỏn ú mc dự cú th ng s khụng nc
ngoi nhng ti sn tranh chp nc ngoi, nờn khi gii quyt cn phi xem
xột ỏp dng phỏp lut mt cỏch chớnh xỏc.
Vic gii quyt ly hụn cú yu t nc ngoi liờn quan n ngun phỏp
lut iu chnh quan h ny, do ú c s phỏp lý m Tũa ỏn ỏp dng gii
quyt v ỏn ly hụn cú yu t nc ngoi tuỳ từng tr-ờng hợp cụ thể Toà án áp
dụng hệ thống pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp.
- iu c quc t: Trong gii quyt ly hụn cú yu t nc ngoi thỡ
QT c coi l ngun quan trng iu chnh cỏc quan này. Theo quy nh
ti khon 3 iu 2 BLTTDS: B lut t tng dõn s c ỏp dng i vi
vic gii quyt v vic dõn s cú yu t nc ngoi; trng hp iu c
21
quc t m Cng ho xó hi ch ngha Vit Nam ký kt hoc gia nhp cú quy
nh khỏc thỡ ỏp dng quy nh ca iu c quc t ú. Ni dung ny cng
c quy nh ti khon 2 iu 7 LHNG nm 2000: Trong trng hp iu
c quc t m Cng ho xó hi ch ngha Vit Nam ký kt hoc tham gia cú
quy nh khỏc vi quy nh ca Lut ny, thỡ ỏp dng quy nh ca iu c
sự của Luật Tương trợ Tư pháp; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày
16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình;
Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của
NĐ 68/CP; HĐTTTP; các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết, tham gia và một số
văn bản pháp luật liên quan khác.
Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài trong đó việc ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau
thường trú tại Việt Nam chúng ta áp dụng LHNGĐ. Đối với trường hợp bên
là công dân Việt Nam nhưng thời điểm ly hôn họ ở nước ngoài thì khi giải
quyết ly hôn phải tuân thủ pháp luật nước nơi thường trú chung của vợ chồng,
nếu họ không có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam. Việc
giải quyết ly hôn mà có yêu cầu giải quyết về tài sản là bất động sản thì phải
tuân thủ pháp luật nước nơi có bất động sản.
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để điều chỉnh
các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đã đạt được, các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn
nhân gia đình có yếu tố nước ngoài vẫn chưa đáp ứng được với thực tiễn các
tranh chấp xảy ra trên thực tế. Do vậy đòi hỏi các quốc gia bên cạnh xây dựng
pháp luật trong nước còn phải tham gia ký kết các HĐTTTP để điều chỉnh các