ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ PHƢƠNG THANH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VỀ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC
TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC
4
1.1.
Tổng quan về di chúc theo pháp luật dân sự
4
DI CHÚC TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
37
2.1.
Thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp về thừa kế
theo di chúc
37
2.2.
Các trường hợp tranh chấp về thừa kế theo di chúc và
nguyên nhân của nó
41
2.2.1.
Tranh chấp giữa người khác với người thừa kế theo di chúc
41
2.2.2.
Tranh chấp giữa người thừa kế theo luật với người thừa kế
theo di chúc
43
2.2.3.
Tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với nhau
45
2.3.
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc
45
2.3.1.
Tranh chấp về hiệu lực của di chúc do di chúc miệng nhưng
không có hai người làm chứng ghi chép như quy định, tuy là
di chúc có điều kiện nhưng Tòa án vẫn xử theo di chúc
46
2.3.2.
Tranh chấp về hiệu lực của di chúc miệng và di chúc bằng
Về quyền của người lập di chúc
60
3.1.2.
Về quyền thừa kế
61
3.1.3.
Về người không được quyền hưởng di sản
62
3.1.4.
Về người thừa kế
63
3.2.
Về vấn đề hình thức của di chúc
64
3.2.1.
Về việc từ chối nhận di sản của người thừa kế
64
3.2.2.
Về sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc
lập di chúc của người tròn mười lăm tuổi nhưng chưa đủ
mười tám tuổi
65
3.2.3.
Đối với di chúc có chữ viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu
66
3.2.4.
Về người làm chứng
67
3.2.5.
Về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
3.4.
Hiệu lực di chúc chung vợ chồng
75
3.4.1.
Về những định hướng chung
75
3.4.2.
Các kiến nghị cụ thể
78
3.5.
Về Điều 669 của Bộ luật Dân sự: Cách tính 2/3 của một suất
thừa kế theo pháp luật
86
3.6.
Sự thống nhất giữa văn bản luật và văn bản hướng dẫn thực
hiện luật
88
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự
Việt Nam. Khi xã hội càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế và xã hội cũng
phát triển đa dạng, nếu như trước đây vấn đề thừa kế được điều chỉnh bởi các
kỳ công trình khoa học nào khác về vấn đề này đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài
* Mục đích:
Luận giải để chứng minh những điểm hoàn thiện và chưa hoàn thiện
của quy định về điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Vấn đề áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc trong thực
tiễn xét xử của Tòa án: những vướng mắc, khó khăn,
Đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện các quy định
về điều kiện có hiệu lực của di chúc.
* Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có nhiệm vụ phân tích những quy định phù hợp, chưa phù
hợp hoặc chưa đồng bộ của Bộ luật Dân sự với các quy định hướng dẫn thực
hiện Luật; Thống kê những tranh chấp, khó khăn vướng mắc trong quá trình
áp dụng các quy định pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc thừa kế. Qua
đó đưa ra được những giải pháp hoàn thiện.
* Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chỉ nghiên cứu và phân tích các điều kiện có hiệu lực của di
chúc theo pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp tiếp cận vấn đề
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành và chuyên ngành;
coi trọng phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, tổng hợp, so sánh, phương
pháp chuyên gia; tổng kết thực tiễn,
5. Những điểm mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của những quy định pháp luật về
điều kiện có hiệu lực của di chúc, luận văn đề cập đến thực trạng áp dụng
pháp luật giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, qua đó đề xuất hướng
hoàn thiện của pháp luật về hiệu lực di chúc. Luận văn sẽ bám sát thực tế áp
dụng luật - cụ thể là việc áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc
trong thực tiễn xét xử của Tòa án để đưa ra nhận xét cụ thể hơn về tình hình
pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc nhưng di chúc chỉ phát sinh
hiệu lực thi hành sau khi người để lại di chúc chết.
Người được hưởng thừa kế theo di chúc chỉ có quyền nhận tại sản của
người lập di chúc kể từ khi người lập di chúc chết. Người thừa kế theo di chúc
nhận di sản và là chủ sở hữu của di sản được hưởng và thừa kế theo di chúc là
căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của người thừa kế.
Tuy nhiên, di chúc thể hiện ý chí chủ quan của người lập, do đó ý định
của người lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi
chết có thể không thể thực hiện được do tài sản được định đoạt trong di chúc
đã không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc đó hoặc
những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc đã chết trước, chết
cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di
sản,… tại các trường hợp này, mục đích nhằm chuyển tài sản của người lập di
chúc cho người thừa kế không đạt được. Phần của di chúc không thể thực hiện
được là phần di chúc vô hiệu.
1.2. Điều kiện có hiệu lực của di chúc
1.2.1. Di chúc do cá nhân lập
Di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, chỉ có hiệu lực khi người lập ra
nó đã chết nên việc lập di chúc không thể thực hiện bằng cách ủy quyền cho
người khác thay mình lập. Trước hết, di chúc muốn được coi là hợp pháp thì
phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch đã được quy định tại
Điều 122.
Ngoài ra, nó còn phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của di chúc,
quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự.
1.2.1.1. Điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp
a) Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể
Người lập di chúc theo quy định tại Điều 647 Bộ luật Dân sự phải là
người từ đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người từ đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng
ý. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.
hay không có hiệu lực pháp luật? Không thống nhất về cách hiểu sẽ gây ra
những sai sót trong việc xác định chủ thể có quyền lập di chúc và tính hợp
pháp khi định đoạt ý chí của người lập di chúc.
Về nguyên tắc, chỉ những người đủ mười tám tuổi trở lên mới có quyền
lập di chúc. Tuy nhiên, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
(người có năng lực hành vi dân sự một phần) - dù chưa thành niên nhưng đã có
sự nhận thức nhất định, trong một số trường hợp, họ có thể đã có tài sản riêng, có
thể lập di chúc nhưng với điều kiện là "lập thành văn bản và phải được cha, mẹ
hoặc người giám hộ đồng ý". Sự đồng ý này chưa được một văn bản pháp luật
nào quy định hay giải thích cụ thể nên có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo ý kiến cá nhân em, sự đồng ý ở đây được hiểu là sự đồng ý cho
họ lập di chúc. Còn về nội dung di chúc, họ được toàn quyền quyết định. Vì
nếu hiểu theo nghĩa: sự đồng ý với việc định đoạt trong nội dung của di chúc
thì vô hình chung, pháp luật đã can thiệp đến quyền định đoạt, đến ý chí tự
nguyện của người lập di chúc - trong khi ý chí tự nguyện là một trong những
điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp.
Tuy nhiên, để có sự rõ ràng, thống nhất trong cách hiểu của người
dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có quy định cụ thể: Sự
đồng ý hay không đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc lập di
chúc của người từ tròn mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được
thể hiện trước khi di chúc được lập bằng một văn bản riêng. Nếu di chúc đã
được lập mà những người nói trên không có ý kiến gì thì coi như họ đã đồng
ý cho lập và vì vậy, di chúc được coi là hợp pháp. Cha, mẹ hoặc người giám
hộ có quyền giám sát và chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố di
chúc vô hiệu nếu họ phát hiện có hành vi lừa dối, cưỡng ép người chưa thành
niên trong việc lập di chúc mà không được tự mình hủy bỏ di chúc.
b Người lập di chúc tự nguyện
Tự nguyện hiểu theo nghĩa khái quát: là việc thực hiện theo ý mình,
do mình mong muốn, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thể nào khác.
Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa
hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình" [17]. Về mặt chủ quan, hành vi
đe dọa bao giờ cũng là hành vi cố ý nhằm đạt được mục đích nhất định. Mục
đích của người có hành vi đe dọa thường là nhằm mang lại lợi ích cho chính
người đó nhưng cũng có nhiều trường hợp người đe dọa người lập di chúc chỉ
nhằm đưa lại lợi ích cho người khác.
Tuy nhiên, nếu sự đe dọa của một người đối vối người lập di chúc
không khiến người lập di chúc sợ, vẫn lập di chúc theo đúng suy nghĩ và ý
định của mình thì di chúc đó vẫn có hiệu lực pháp luật. Sự đe dọa phải
nghiêm trọng đến mức làm cho người bị đe dọa bị tê liệt ý chí, mất bình tĩnh,
sợ hãi và buộc phải lập di chúc theo đúng yêu cầu của người đe dọa. Sự đe
dọa thường hướng tới một hoặc nhiều vấn đề như: sức khỏe, tài sản, tính
mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm của người bị đe dọa hoặc thân nhân của
người đó.
Như vậy, hành vi đe dọa chỉ được coi là căn cứ để xác định di chúc vô
hiệu khi hành vi đó là sự đe dọa đến một trong những nội dung trên với tính
chất cố ý, nhằm đạt được một mục đích nhất định và phải nghiêm trọng đến
mức người bị đe dọa buộc phải lập di chúc theo yêu cầu của người đe dọa mà
không còn sự lựa chọn nào khác.
+ Người lập di chúc bị lừa dối:
Điều 132 Bộ luật Dân sự quy định: "Lừa dối trong giao dịch là hành vi
cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch
về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã
xác lập giao dịch đó" [17].
Sự lừa dối chỉ được coi là căn cứ để tuyên di chúc vô hiệu khi sự lừa
dối đó đã làm cho người lập di chúc suy nghĩ theo nó, tin vào thông tin lừa dối
và vì thế nội dung của di chúc được định đoạt trên sự tác động của hành vi lừa
dối. Nếu sự lừa dối đó không dẫn đến việc người bị lừa dối lập di chúc trái với
mong muốn thực sự của mình, vẫn định đoạt theo ý chí độc lập của mình, không
suy nghĩ theo sự lừa dối của người đó thì di chúc vẫn được coi là hợp pháp.
Bản chất của lừa dối là gì? Về mặt khái niệm, lừa dối là thủ đoạn có
lập di chúc để lại một phần di sản thừa kế cho mình, nếu không sẽ thông báo
cho cơ quan, gia đình biết sự thật này.
Tóm lại, những di chúc được lập ra do bị tác động của sự lừa dối,
cưỡng ép, đe dọa hoặc do người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt
đều là những di chúc không phản ảnh một cách trung thực về ý chí tự nguyện
của người lập ra nó. Vì vậy chúng đều bị coi là di chúc không hợp pháp.
Trong những trường hợp này, di chúc đương nhiên sẽ bị coi là vô
hiệu. Trong trường hợp một người đưa đến cho người lập di chúc một thông
tin không chính xác (không đúng sự thật) nhưng không cố ý làm cho người
lập di chúc hiểu sai lệch, không có mục đích lừa dối, nhưng từ thông tin ấy,
người lập di chúc đã hiểu sai lệch và đã quyết định vấn đề theo hướng sai lệch
đó thì di chúc đó có bị coi là vô hiệu hay không?
Theo học viên, vì một thông tin không đúng sự thật mà người lập di
chúc hiểu sai lệch và đã lập một di chúc khác với ý chí chủ quan trước đó của
mình cũng nên coi là thiếu tính tự nguyện của người lập di chúc. Nếu trường
hợp này xảy ra khi giao kết hợp đồng dân sự hoặc thiết lập các giao dịch khác
thì đương nhiên hợp đồng hoặc giao dịch đó bị coi là vô hiệu vì được thiết lập
do sự nhầm lẫn (nếu có đơn khởi kiện). Khi quy định điều kiện để di chúc
được coi là hợp pháp, Điều 652 Bộ luật Dân sự không quy định về nhầm lẫn.
Vì thế, nếu di chúc được lập ra trong trường hợp nói trên có thể coi là di chúc
được lập ra do sự nhầm lẫn của người lập di chúc để xác định di chúc đó vô
hiệu hay không, hay coi đó là không minh mẫn, sáng suốt. Tình trạng "không
minh mẫn, sáng suốt" theo học viên, được đánh giá trên cơ sở nhận thức lý trí,
vì vậy không thể coi trường hợp này là "không minh mẫn, sáng suốt" được vì
sự nhầm lẫn trên hoàn toàn do nhận thức chủ quan của người lập di chúc.
Bên cạnh đó, vì di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết nên
việc xác định sự sai lệch trên có đúng là nhầm lẫn của người lập di chúc hay
không, hay ý chí của người lập di chúc là như thế, là một việc không thể xác
định được, có lẽ vì vậy mà các nhà làm luật không đưa yếu tố "nhầm lẫn" vào
Điều 652 Bộ luật Dân sự.
dân, họ còn phải thực hiện bổn phận làm người. Đạo làm người đòi hỏi các cá
nhân khi lập di chúc phải luôn hướng tới phong tục tập quán truyền thống
nhân bản và tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết trong cộng đồng gia đình
cũng như trong cộng đồng dân tộc. Vì vậy nếu nội dung di chúc có nội dung
trái với đạo đức xã hội cũng sẽ bị coi là không hợp pháp.
Điều 653 Bộ luật Dân sự quy định về nội dung của di chúc như sau:
- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc. Việc ghi rõ ngày,
tháng, năm lập di chúc là căn cứ để xác định di chúc nào được lập trước, di
chúc nào được lập sau trong trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc
thì bản di chúc lập sau cùng có hiệu lực thi hành.
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc. Với tư cách là chủ thể
lập di chúc, người lập di chúc phải ghi rõ họ, tên và nơi cư trú của mình, để có
căn cứ xác định di chúc đó do ai lập ra, người đó có quyền lập di chúc hay
không có quyền lập di chúc và việc đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ
hợp pháp cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi lập di chúc.
Chủ thể lập di chúc luôn luôn phải được xác định thông qua các yếu tố họ,
tên, nơi cư trú của người đó. Ngược lại, nếu không biết rõ người lập di chúc là
ai thì di chúc đó vô hiệu do không xác định được người để lại di sản là ai.
- Di chúc phải ghi rõ ai là người được hưởng di sản, là cá nhân hay tổ
chức, nơi cư trú của cá nhân được chỉ định hưởng di sản, trụ sở của pháp
nhân. Người lập di chúc còn có quyền xác định rõ các điều kiện để cá nhân,
cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.
- Người lập di chúc phải ghi rõ di sản để lại bao gồm những tài sản gì,
ở đâu. Di sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc quyền sở
hữu của người lập di chúc (riêng đất đai là quyền sử dụng).
- Người lập di chúc có quyền chỉ định người thực hiện nghĩa vụ nào
đó vì lợi ích chung hoặc riêng nhưng theo nguyên tắc của pháp luật thừa kế
thì nghĩa vụ giao cho người thừa kế thực hiện không thể lớn hơn giá trị phần
di sản mà người thừa kế được hưởng.
- Nếu người lập di chúc định đoạt phần tài sản dùng vào việc thờ
thực phải là người không có liên quan gì đến việc hưởng di sản cũng như đến
người thừa kế của người lập di chúc. Điều 659 Bộ luật Dân sự đã quy định về
những người không được công chứng, chứng thực di chúc.
Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn không được công chứng, chứng thực đối với di chúc, nếu họ là:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2. Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di
chúc hoặc theo pháp luật;
3. Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Nếu việc chứng nhận, chứng thực di chúc nhằm mục đích tạo cơ sở
pháp lý để ghi nhận một sự kiện thực tế thì làm chứng trong di chúc cũng là
việc góp phần nâng cao tính khách quan của di chúc. Muốn vậy, người làm
chứng phải là người đã thành niên và có đủ năng lực hành vi dân sự, đồng
thời không có liên quan gì đến việc hưởng di sản của người lập di chúc. Điều
654 Bộ luật Dân sự quy định.
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những
người sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi
dân sự.
Như vậy, người làm chứng cho việc lập di chúc có thể là cha, mẹ, vợ
hoặc chồng, con của người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của
người lập di chúc nhưng không thể là người chứng nhận, chứng thực di chúc
được. Bởi vì, trong mỗi trường hợp ấy, những người này mang một tư cách
khác nhau: khi chứng nhận, chứng thực, họ mang tư cách là người đại diện
một cơ quan nhà nước, còn khi làm chứng cho việc lập di chúc, họ hoàn toàn
mang tư cách cá nhân.
b) Yêu cầu đối với việc xác định sự minh mẫn, sáng suốt của người
lập di chúc
thuận nên người có ý chí đơn phương vẫn có quyền bằng ý chí ấy đưa ra các
điều kiện. Vì lẽ đó nếu người lập di chúc có xác định về một sự kiện là điều
kiện của di chúc thì chỉ khi nào sự kiện đó xuất hiện thì di chúc mới có hiệu lực.
Mặt khác, nếu người lập di chúc có đưa ra một điều kiện đối với người
hưởng di sản thì chỉ khi nào người đó đáp ứng được các điều kiện này mới
được hưởng di sản theo di chúc. Tất nhiên, các điều kiện mà người lập di chúc
đưa ra chỉ được coi là điều kiện để di chúc có hiệu lực pháp luật hoặc để
người thừa kế được hưởng di sản theo di chúc đã lập khi các điều kiện đó đã
đáp ứng được các yêu cầu theo tinh thần và nguyên tắc chung của pháp luật.
Đó là:
- Các sự kiện để được coi là điều kiện trong di chúc phải mang tính
khách quan: Sự kiện khách quan là những sự kiện nằm ngoài ý chí của con
người. Vì vậy yêu cầu này đòi hỏi việc các sự kiện nói trên có xuất hiện trong
thực tế hay không, khi nào xuất hiện, xuất hiện ở mức độ nào phải hoàn toàn
nằm ngoài ý chí của người lập di chúc. Đồng thời, các sự kiện đó phải là
những tình tiết trong tương lai (chỉ xuất hiện sau khi di chúc được lập thậm
chí, sau khi người lập di chúc chết).
- Nếu điều kiện đó là công việc phải làm thì phải là những công việc
có thể thực hiện được và phải hợp pháp.
Một công việc có thể thực hiện được hay không thường do hai yếu tố
sau đây quyết định: một là do đặc tính của bản thân công việc nên công việc
đó không thể thực hiện được; hai là do công việc đó trái đạo đức xã hội và đã
bị pháp luật cấm làm. Vì vậy yêu cầu này đòi hỏi nếu sự kiện được xác định
trong di chúc là một công việc phải làm thì công việc đó phải phù hợp với
pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng
trong thực tế có thể người lập di chúc dự liệu về một sự việc bất hợp pháp
nhưng sự dự liệu lại vẫn được coi là hợp pháp. Ví dụ, trong di chúc, người để
lại tài sản có dự liệu rằng nếu em trai họ xâm phạm đến sức khỏe của các con
mình thì tài sản mà họ được thừa kế sẽ thuộc về em gái (cô ruột của các con).
1.2.2. Hiệu lực của di chúc
quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật [17].
Di chúc không có hiệu lực trong trường hợp nếu di sản để lại cho
người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc.
Trường hợp này thường xảy ra trong đời sống xã hội và trong thời điểm di
chúc được lập thì tài sản vẫn còn nhưng sau một thời gian tài sản đó lại do
chính người lập di chúc chi tiêu, chuyển giao quyền sở hữu cho người khác
hoặc tài sản bị tiêu hủy, mà sau đó người lập di chúc không sửa lại di chúc,
do vậy phần di chúc liên quan đến tài sản không còn vào thời điểm mở thừa
kế của người lập di chúc không có hiệu lực thi hành. Nhưng nếu di sản để lại
cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần của di chúc về phần di sản còn
lại vẫn có hiệu lực. Trong trường hợp người lập di chúc định đoạt tài sản cho
nhiều người thì mỗi người được hưởng phần di sản còn lại tương ứng với nội
dung của di chúc.
Theo khoản 4 Điều 667 Bộ luật Dân sự: Khi di chúc có phần không
hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần
đó không có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ xác định bản di chúc sau cùng của người để lại di sản là dựa
vào ngày, tháng, năm di chúc đó được lập ra. Tuy nhiên, trong trường hợp di
chúc lập sau cùng không có giá trị pháp lý do đã vi phạm các điều kiện có
hiệu lực của di chúc thì di chúc lập trước đó có giá trị pháp lý không. Di chúc
lập sau cùng bị vô hiệu do đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của di chúc được
quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự về di chúc hợp pháp thì coi như không
có di chúc này và di chúc được lập trước đó có hiệu lực thi hành. Cách hiểu
này dựa trên căn cứ di chúc không có hiệu lực pháp luật, không thể thi hành
được và giá trị pháp lý của di chúc này không tồn tại, coi như không có di
chúc này; di chúc được lập trước đó vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý vì chưa có
di chúc nào thay thế và di chúc này được coi là di chúc sau cùng.
- Về di chúc chung của vợ chồng và hiệu lực của di chúc do vợ chồng
lập chung: Luận văn trình bày ở mục 1.2.3 của chương này.