Nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết vụ việc dân sự - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

LÊ THỊ GIANG

NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ CÁC NGUỒN KHÁC
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI -2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

LÊ THỊ GIANG

NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ CÁC NGUỒN KHÁC
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ


Lê Thị Giang


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

TANDTC

: Toà án nhân dân tối cao


MỤC LỤC
trang
LỜI MỞ ĐẦU

1

1.Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

2


1.1.1. Khái niệm nguồn của luật dân sự

6

1.1.2. Các loại nguồn trong giải quyết vụ việc dân sự

7

1.2. Khái niệm nguyên tắc áp dụng các loại nguồn

14

1.3. Các yêu cầu đặt ra đối với việc thực hiện nguyên tắc áp dụng các
loại nguồn

15

1.4. Mối quan hệ ƣu tiên áp dụng giữa áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật dân sự với áp dụng các nguồn khác trong việc giải quyết

16

các vụ việc dân sự
1.5. Sự khác nhau giữa áp dụng các loại nguồn trong giải quyết vụ án
dân sự và giải quyết việc dân sự

24

CHƢƠNG 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ CÁC NGUỒN

2.2.2. Điều kiện áp dụng tập quán

38

2.2.3. Áp dụng tập quán trong một số quan hệ dân sự cụ thể

42

2.2.4. Thực tiễn áp dụng tập quán

45

2.3. Áp dụng tƣơng tự pháp luật dân sự

50

2.3.1 Khái niệm áp dụng tương tự pháp luật dân sự

50

2.3.2. Điều kiện áp dụng tương tự pháp luật dân sự

51

2.3.3. Thực tiễn áp dụng tương tự pháp luật dân sự

53

2.4. Áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự


2.6.1. Khái niệm lẽ công bằng

72

2.6.2. Điều kiện áp dụng lẽ công bằng

74

CHƢƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ CÁC

76

NGUỒN KHÁC TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
3.1. Kiến nghị hoàn thiện về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
dân sự

76


3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về áp dụng tập quán

78

3.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về áp dụng tƣơng tự pháp luật

80

3.4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về áp dụng án lệ


nước, nhằm bảo vệ các quyền dân sự hợp pháp của chủ thể và đảm bảo cho các
quan hệ dân sự trong xã hội được ổn định. Song pháp luật chỉ thể hiện được vai
trò đó của mình khi nó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và đặc biệt là
được áp dụng một cách đúng đắn. Để tạo cơ chế pháp lý đầy đủ cho việc công
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, phát
huy được vị trí, vai trò của BLDS, bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng
pháp luật dân sự, BLDS năm 2015 đã quy định rất cụ thể về nguyên tắc áp dụng
pháp luật dân sự từ Điều 4 đến Điều 6 BLDS năm 2015. Việc tìm hiểu, nghiên
cứu về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và thực tiễn áp dụng các nguyên tắc
này là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.


2

Với những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nguyên tắc
áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết vụ việc dân
sự” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Áp dụng pháp luật dân sự là một trong các hình thức của thực hiện pháp
luật dân sự. So với các hình thức thực hiện pháp luật dân sự khác thì áp dụng
pháp luật dân sự có những đặc trưng riêng. Áp dụng pháp luật dân sự đóng một
vai trò rất quan trọng trong việc đưa pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống. Nhờ
có hoạt động áp dụng pháp luật mà các tư tưởng, chính sách của Nhà nước đi
đến với người dân một cách dễ dàng, thiết thực hơn.
Để giải quyết các vụ việc dân sự xảy ra trong thực tế một cách đúng đắn,
chính xác và có thấu tình đạt lý phụ thuộc rất nhiều vào các chủ thể có thẩm
quyền áp dụng pháp luật. Vì vậy nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự là một
trong những vấn đề rất quan trọng, buộc các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải
tuân theo khi giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều
bài viết, công trình nghiên cứu về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự. Một số

3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề
liên quan đến nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự được quy định trong BLDS
năm 2015: lý luận chung về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự, quy định của
BLDS năm 2015 và thực tiễn thực hiện.
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu những
quy định của BLDS năm 2015 liên quan đến nguyên tắc áp dụng pháp luật dân
sự và các nguồn khác trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và thực tiễn áp
dụng các quy định này.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận liên quan
đến nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết
các vụ việc dân sự và thực tiễn áp dụng nguyên tắc đó. Từ đó đưa ra các kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này
trong thực tiễn.


4

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn phải làm những nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Nghiên cứu lý luận chung về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự;
- Nghiên cứu nội dung cụ thể của nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và
các nguồn khác trong việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLDS
năm 2015;
- Thực trạng áp dụng nguyên tắc này trong việc giải quyết các vụ việc dân
sự;
- Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về nguyên tắc áp dụng pháp
luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các vấn đề lý luận về
nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết các
vụ việc dân sự, các quy định của pháp luật về nguyên tắc này và thực tiễn áp
dụng các quy định, luận văn đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hướng đến hoàn
thiện hơn nữa quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc thực hiện
nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết các
vụ việc dân sự. Luận văn là tài liệu tham khảo trong lĩnh vực luật học về vấn đề
nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác trong việc giải quyết các
vụ việc dân sự.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn
khác trong việc giải quyết vụ việc dân sự;
Chương 2: Áp dụng pháp luật dân sự và các nguồn khác theo quy định của
BLDS năm 2015 trong việc giải quyết vụ việc dân sự;
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc áp dụng pháp luật
dân sự và các nguồn khác trong giải quyết các vụ việc dân sự.


6

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
DÂN SỰ VÀ CÁC NGUỒN KHÁC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ
VIỆC DÂN SỰ
1.1. Khái niệm nguồn và các loại nguồn của luật dân sự
1.1.1. Khái niệm nguồn của luật dân sự
Nguồn pháp luật là một trong những vấn đề quan trọng không chỉ trong
khoa học pháp lý mà còn ở thực tiễn thực thi pháp luật. Có thể hiểu, nguồn pháp
luật chính là tất cả các căn cứ được chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để

một thủ tục luật định nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, nguồn của luật dân sự là ý chí của giai cấp thống trị
được nâng lên thành luật. Theo nghĩa hẹp, nguồn của luật dân sự được hiểu là hệ
thống những văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội của luật dân sự. Đây là loại nguồn hình thức
chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của luật dân sự, bởi lẽ, các cơ quan nhà nước
ở Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của
mình đều chủ yếu dựa vào các văn bản pháp luật. Văn bản pháp luật do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có
chứa đựng các quy tắc xử sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, theo
như các quy định từ Điều 4 đến Điều 6 BLDS năm 2015 thì có thể thấy pháp luật
Việt Nam thừa nhận nguồn của luật dân sự trong giải quyết các vụ việc dân sự
gồm văn bản quy phạm pháp luật, tập quán và án lệ.
1.1.2. Các loại nguồn trong giải quyết vụ việc dân sự
Theo quy định từ Điều 4 đến Điều 6 BLDS năm 2015 thì có các loại nguồn
sau đây được áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự:
1.1.2.1. Văn bản quy phạm pháp luật dân sự
Pháp luật dân sự gồm hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh
các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân. Các quy phạm pháp luật dân sự do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo
mục tiêu, định hướng cụ thể. Các quy phạm này là những hình mẫu, hành lang
pháp lý để các chủ thể khi hành xử phải tuân theo. Đó là các chuẩn mực ứng xử,
giới hạn các chuẩn mực của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự.


8

Văn bản quy phạm pháp luật dân sự là hình thức pháp luật thành văn, do
các cơ quan nhà nước soạn thảo và ban hành. Các nhà làm luật khi xây dựng các


trị trong việc xác định phạm vi, tính chất và đặc điểm của quan hệ để từ đó có
căn cứ xác định chuẩn xác quy phạm cần được áp dụng, tránh sự nhầm lẫn hoặc
áp dụng sai quy phạm.
-Văn bản quy phạm pháp luật dân sự do các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành. Pháp luật quy định cho một số cơ quan nhà nước được quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật và những cơ quan đó cũng chỉ được ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật về những vấn đề ở những mức độ phù hợp
với thẩm quyền của mình do luật định.
-Trình tự, thủ tục, hình thức, tên gọi của văn bản quy phạm pháp luật dân
sự được pháp luật quy định cụ thể. Văn bản quy phạm pháp luật dân sự được ban
hành theo hình thức, thủ tục, tên gọi được quy định cụ thể trong Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
-Văn bản quy phạm pháp luật dân sự được áp dụng nhiều lần trong đời sống
nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự. Vì văn bản quy phạm pháp luật dân sự
chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự nên văn bản quy phạm pháp luật dân
sự luôn có tính chất bắt buộc chung, được thực hiện nhiều lần trong cuộc sống.
Tính chất bắt buộc chung của văn bản quy phạm pháp luật dân sự được hiểu là
bắt buộc đối với mọi chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản quy
phạm pháp luật dân sự đó quy định. Văn bản quy phạm pháp luật dân sự không
đặt ra quy định cho đối tượng cụ thể, xác định mà nhằm tới các đối tượng khái
quát, trừu tượng (mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng) như cá nhân, pháp
nhân, doanh nghiệp… Đây là điểm khác biệt so với văn bản áp dụng pháp luật
dân sự, vì đối tượng thi hành của văn bản này luôn xác định, cụ thể. Văn bản quy
phạm pháp luật dân sự được áp dụng nhiều lần trên thực tế còn văn bản áp dụng
chỉ được thực hiện duy nhất một lần.
1.1.2.2. Tập quán
Trong đời sống, thuật ngữ “phong tục tập quán” thường được dùng để chỉ
một thói quen được hình thành từ lâu, được mọi người công nhận và làm theo
nên thực tế còn khá lẫn lộn về khái niệm. Xét về bản chất thì phong tục và tập

Trong Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/09/2005 do Hội đồng Thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao ban hành về việc hướng dẫn thi hành một số quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ” có định nghĩa về


11

tập quán như sau: “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội,
trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó
thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”. Cách định nghĩa
này là thiếu chuẩn xác khi mà giải thích tập quán là tất cả những thói quen hàng
ngày đều được thừa nhận là tập quán. Đây là một định nghĩa quá rộng, gây khó
khăn cho việc áp dụng pháp luật khi giải quyết các vụ việc dân sự.
Để khắc phục những hạn chế và nhược điểm của BLDS năm 2005, BLDS
năm 2015 đã ghi nhận áp dụng tập quán thành một điều luật hoàn toàn độc lập
tại Điều 5 trong BLDS năm 2015. Theo đó:
“1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa
vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp
đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi
trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân
sự.
2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định
thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”.
Như vậy, một thói quen (phong tục, tục lệ, tục, tập tục) chỉ được coi là tập
quán và tập quán đó chỉ được áp dụng để giải quyết các vụ việc dân sự khi hội tụ
đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, thói quen đã trở thành nếp sống, được lặp đi lặp lại nhiều lần
trong một thời gian dài. Ở góc độ xã hội thì thói quen phải là nền nếp trong đời
sống xã hội, trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt thường ngày và do vậy, mọi

mà còn được thừa nhận trong một vùng, miền, dân tộc hoặc trong một lĩnh vực
dân sự. Định nghĩa này đã bao hàm được các trường hợp cụ thể của các quan hệ
dân sự theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp trong một số lĩnh vực cụ thể như tập
quán thương mại hoặc tập quán hôn nhân, gia đình, tập quán lao động mà không
cần phải đưa ra định nghĩa trong từng lĩnh vực cụ thể của luật dân sự nữa.
1.1.2.3. Án lệ
Thừa nhận áp dụng án lệ là một quy định hoàn toàn mới trong BLDS năm
2015 so với BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005. Án lệ đã chính thức trở thành
một nguồn bổ trợ bên cạnh luật thành văn, tập quán trong giải quyết các vụ việc


13

dân sự. Ngày 28/10/2015, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban
hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp
dụng án lệ. Khái niệm án lệ được định nghĩa tại Điều 1 Nghị quyết số
03/2015/NQ-HĐTP như sau: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về một vụ việc cụ thể được Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án
nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét
xử”.
So sánh với nguồn văn bản pháp luật, có thể chỉ ra một số ưu điểm của án
lệ như sau: Thứ nhất, án lệ mang tính thực tiễn cao. Nghĩa là dựa vào thực tiễn,
tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế chứ
không phải giải quyết vấn đề bằng các lý thuyết chung chung trừu tượng. Thứ
hai, án lệ có khả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng
và kịp thời. Thứ ba, án lệ thể hiện tính khách quan và công bằng. Một số người
cho rằng, án lệ được tạo ra bởi một vài thẩm phán trong hội đồng xét xử khi xử
lý một vụ việc cụ thể nên có thể dân đến tình trạng chủ quan, tùy tiện trong việc
tạo ra các quy tắc án lệ. Thật ra, nhận định này mới chỉ nhìn bề ngoài về nguồn

Áp dụng các loại nguồn trong giải quyết vụ việc dân sự là một dạng của
hoạt động thực tiễn, hiện thực hóa các quy định của pháp luật dân sự vào trong
thực tế để giải quyết các vụ việc dân sự. Do vậy, các chủ thể có thẩm quyền khi
áp dụng các loại nguồn cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Các chủ
thể khi tiến hành áp dụng các loại nguồn để giải quyết các vụ việc dân sự phải
luôn tuân theo nguyên tắc áp dụng pháp luật trong suốt quá trình giải quyết các
vụ việc dân sự. Bởi vấn đề áp dụng pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong
hoạt động giải quyết vụ việc dân sự. Vì thực chất hoạt động giải quyết vụ việc
dân sự cũng chính là hoạt động áp dụng pháp luật. Việc áp dụng đúng các loại
nguồn trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự không chỉ là một yêu cầu cơ
bản của áp dụng pháp luật dân sự mà còn là trách nhiệm của các chủ thể có thẩm
quyền nhằm thực hiện đầy đủ các nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự được
BLDS quy định.

2

Từ điển Tiếng Việt (2003). Nxb. Đà Nẵng, tr. 694.


15

Từ những nội dung trên đây, có thể đưa ra khái niệm: Nguyên tắc áp dụng
các loại nguồn là những tư tưởng pháp lý mang tính chất chỉ đạo, buộc các chủ
thể có thẩm quyền phải tuân theo nhằm đảm bảo việc áp dụng đúng pháp luật
trong giải quyết các vụ việc dân sự.
1.3. Các yêu cầu đặt ra đối với việc thực hiện nguyên tắc áp dụng các
loại nguồn
Để giải quyết các vụ việc dân sự một cách chính xác, hợp tình, hợp lý thì
đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải vận dụng nguyên tắc áp dụng
các loại nguồn một cách chính xác, mềm dẻo, linh hoạt. Các chủ thể có thẩm

tồn tại những tình huống mà quy phạm pháp luật đã dự liệu trước để áp dụng cho
trường hợp đó. Không được tạo ra các tình huống giả để hợp thức hóa việc áp
dụng quy phạm pháp luật nào đó. Việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng
là vấn đề hết sức quan trọng, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải
khẳng định được là quy phạm pháp luật đã chọn để áp dụng là hoàn toàn phù
hợp cho trường hợp cụ thể đó mà không phải là quy phạm pháp luật khác. Vì thế
khi lựa chọn quy phạm pháp luật phải chú ý đến tính chính xác về nội dung của
nó.
Trong trường hợp không có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hoặc
quy định chưa rõ thì phải vận dụng sáng tạo việc áp dụng tập quán, áp dụng
tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng để
giải quyết vụ việc đó. Để thực hiện được điều đó thì đòi hỏi các chủ thể có thẩm
quyền áp dụng phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm
phong phú, có đạo đức và có “tay nghề cao”.
1.4. Mối quan hệ ưu tiên áp dụng giữa áp dụng văn bản quy phạm pháp
luật dân sự với áp dụng các nguồn khác trong việc giải quyết các vụ việc
dân sự
Trong xã hội nguyên thủy chưa có nhà nước thì cũng chưa có pháp luật. Để
quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng,
khi đó người ta dựa vào tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo,…là những công cụ
điều chỉnh thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích chung của các thành viên trong xã hội
nên được mọi người thừa nhận và tự giác tuân theo. Khi xã hội phát triển đến
một giai đoạn nhất định thì những công cụ quản lý như đạo đức, tập quán, tín


17

điều tôn giáo… không còn khả năng hoặc không thể duy trì quản lý xã hội được
nữa. Vì thế pháp luật ra đời để quản lý xã hội khi nó đã phát triển đến một giai
đoạn nhất định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status