ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HÀ
VAI TRÒ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN, QUA THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
2
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế
Phản biện 1:.........................................................
Phản biện 2:.........................................................
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp
hình sự của tòa án do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Để góp phần nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
nhằm tăng cường vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án
hình sự, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Vai trò của áp dụng pháp luật
về xét xử các vụ án hình sự, trong bối cảnh xây dựng nhà nước
pháp quyền, qua thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hải
phòng ” để làm luận văn cao học của mình
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đề tài vai trò tòa
án, về áp dụng pháp luật trong dân sự, hôn nhân, gia đình, về xây
dựng đội ngũ thẩm phán về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói
riêng. Có thể điểm qua một số công trình khoa học sau đây.
Luận văn cao học của tác giả Phan Huyền Ly về đề tài Vai
trò của tòa án trong nhà nước pháp quyền", bảo vệ tại Khoa Luật ,
ĐHQH HN năm 2012; Luận văn cao học về đề tài " Áp dụng pháp
luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nhân dân qua thực
tiễn của tòa án nhân dân tối cao", của tác giả Nguyễn Thị Hồng
1
Minh, đã bảo vệ tại Khoa Luật , ĐHQH HN năm 2014. Luận văn cao
học về đề tài " Xây dựng ý thức pháp luật của thẩm phán trong bối
cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay" của tác giả Trần thị Thanh
Bình, bảo vệ năm 2014. Luận án tiến sĩ của tác giả: Chu Thị Trang
Vân “Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam”, năm 2009. Luận văn thạc sĩ
của tác giả Nguyễn Đức Hiệp “Áp dụng pháp luật trong hoạt động
xét xử án hình sự của Toà án nhân dân ở tỉnh Ninh Bình” năm 2004;
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Kiểm: “Áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh
đảm bảo chất lượng dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của
tòa án
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò áp dụng về xét
xử các vụ án hình sự của tòa án
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Tác giả giới hạn phạm vi luận văn ở việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận cơ bản và đánh giá tổng quan về thực trạng, đề xuất
quan điểm, giải pháp áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng
hình sự mà không đi sâu vào nghiên cứu cụ thể việc áp dụng pháp
luật đối với các loại tội phạm cụ thể.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiếp cận trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lenin, các
quan điểm cảu Đảng ta về nhà nước pháp quyền, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của khoa học pháp lý. Các phương pháp được sử
dụng trong luận văn là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, so sánh, điều tra xã hội học.
6. Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, danh mục tài liệu tham
khảo và 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về vai trò áp dụng pháp luật về xét
xử các vụ án hình sự trong bối cảnh xây dựng nhà nước ở nước ta
hiện nay
Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án
hình sự, qua thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hải phòng
Chương 3. Quan điểm, giải pháp cơ bản đảm bảo vai trò
áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhân
dân đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam
Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện
quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi
được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp
luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
4
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật
Hoạt động áp dụng pháp luật được thực hiện bởi các
cơ quan có thẩm quyền, nhà chức trách trong các trường hợp
sau đây:
Thứ nhất, các biện pháp cưỡng chế hay các chế tài được
nhà nước áp dụng đối với các chủ thể có dấu hiệu vi phạm pháp
luật. Thứ hai, áp dụng pháp luật cần thiết khi các những quyền và
nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi,
chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. Sự tham gia từ phía
nhà nước (những cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền) là điều
kiện quyết định để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ pháp lý nhất định của các chủ thể pháp luật. Thứ ba, cơ
quan nhà nước áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về các
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể. Thứ tư, áp dụng pháp
luật cần thiết trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực
hiện pháp luật của các chủ thể trong xã hội.
- Đặc điểm của áp dụng pháp luật
Là một hình thức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật có
những đặc điểm riêng bên cạnh những đặc điểm chung như các hình
thức pháp luật khác,
Thứ nhất, tính quyền lực nhà nước của áp dụng pháp
bộ ngành tư pháp: “:" Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi
vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người , ở đời và
làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau
khổ, bị áp bức"[6].
Đặc điểm thứ ba, áp dụng pháp luật hình sự của Toà án
phải tuân thủ chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTHS quy định.
Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của BLTTHS là cơ sở,
điều kiện bắt buộc để đảm bảo cho việc ADPL hình sự được chính
xác, khách quan. Trong áp dụng pháp luật tại Tòa án những người
tiến hành tố tụng phải hết sức vô tư, khách quan. Thẩm phán và hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật.
Đặc điểm thứ tư, áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án
là quá trình cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự đối với
mỗi bị cáo.
Yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý được thể hiện trong
bản án của tòa án, việc lựa chọn mức xử phạt cho mỗi bị cáo trong
khoảng tối thiểu và tối đa của khung hình phạt đòi hỏi ở HĐXX đặc
biệt là đối với các thẩm phán năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề
nghiệp và đạo đức lương tâm.
6
1.3. Các giai đoạn áp dụng pháp luật về xét xử vụ án hình
sự của tòa án nhân dân
1.3.1. Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND được
quy định tại “Phần thứ ba” từ điều 170 đến điều 229 của BLTTHS
2003. Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do
Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.
ngặt các quy định của BLHS, BLTTHS.
1.3.2. Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm được quy định tại BLTTHS, từ Điều 230
đến điều 254. Bản án sơ thẩm chỉ có hiệu lực pháp luật sau một thời
gian nhất định (30 ngày, kể từ ngày tuyên án theo điều 234 BLTTHS
năm 2003 ). Khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không bị
kháng cáo, kháng nghị thì bản án sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật.
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc
xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị (theo quy định tại điều 230 của BLTTHS năm 2003).
Xét xử phúc thẩm có ý nghĩa quan trọng đảm bảo tính khách quan,
hợp pháp, tránh oan sai có thể xảy ra ở giai đoạn xét xử sơ thẩm,
đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.
1.3.3. Áp dụng pháp luật của tòa án trong giai đoạn giám đốc thẩm,
tái thẩm các vụ án hình sự
- ADPL hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý nội dung vụ án hoặc vi
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng cần phải kháng nghị hủy
bản án để xét xử lại. Thủ tục giám đốc thẩm được quy định từ
Điều 272 đến điều 289, chương XXX, Phần thứ sáu của
BLTTHS 20003.
- - ADPL hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm
Thủ tục tái thẩm được quy định tại Điều 290 đến Điều 300,
chương XXXI, BLTTHS 2003.Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối
hình sự của Tòa án nhân dân trong bối cảnh xây dựng nhà
nước pháp quyền Việt nam
Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vai trò và cũng là trọng
trách lớn lao của tòa án nhân dân: TAND là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”; nhiệm vụ của
Tòa án nhân dân là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
9
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ( khoản 1,
khoản 3 điều 102 Hiến pháp năm 2013).
Áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo an ninh chính trị,
tạo dựng môi trường pháp lý – xã hội ổn định, lành mạnh, an toàn
cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, hợp tác
quốc tế và phát triển.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã phân tích cơ sở lý luận của vai
trò áp dụng pháp luật hình sự về xét xử các vụ án hình sự của tòa án,
nêu rõ khái niệm, các đặc trưng cơ bản và các giai đoạn của áp dụng
pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án hình sự. Đồng thời phân
tích vai trò của vai trò áp dụng pháp luật hình sự về xét xử các vụ án
hình sự của tòa án trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và
bảo vệ quyền con người, hội nhập quốc tế. Luận án đã phân tích làm
rõ sự thể hiện vai trò của tòa án trong áp dụng pháp luật về xét xử
các vụ án hình sự, tránh oan sai và phải bảo đảm công lý, công bằng,
niềm tin của xã hội, góp phần thiết thực vào việc thi hành Hiến pháp
hạn chế, yếu kém về xây dựng, phát triển đô thị , quản lý sử dụng đất
đai, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng
Về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ: Cơ cấu tổ chức
của TAND Thành phố Hải Phòng được tổ chức theo cơ cấu của Tòa
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có TAND
thành phố và 15 TAND quận, huyện trực thuộc.
Toà án nhân dân thành phố có: Ủy ban Thẩm phán; 05 toà
chuyên trách (Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Kinh tế, Tòa Lao động,
Tòa Hành chính) và bộ máy giúp việc. Tòa án nhân dân thành phố có
Chánh án, 03 Phó Chánh án, các Thẩm phán trung cấp, Hội thẩm
nhân dân, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên và các chức danh khác.
Về số lượng biên chế: Theo Quyết định số 109/QĐ-TCCB
ngày 11/ 01/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, tổng số
biên chế của ngành Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng gồm có
252 người, trong đó có 99 Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ
cấp. Ngoài số biên chế trên, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng còn
có đội ngũ Hội thẩm nhân dân bao gồm 302 người, trong đó có 35
HTND của Toà án thành phố và 267 HTND của các Toà án nhân dân
quận, huyện.
11
2.3. Kết quả áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của
Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
Về chất lượng xét xử
Việc xét xử các vụ án hình sự nhìn chung đảm bảo đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật. Năm 2011, trong điều kiện còn
mới; tỉ lệ án hủy, cải sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán thấp hơn chỉ
12
tiêu của ngành đề ra. Các vụ án đều cơ bản xét xử trong hạn luật
định, nhiều vụ án được đưa ra xét xử nhanh dưới 01 tháng kể từ khi
thụ lý, các phiên tòa được tiến hành theo tinh thần cải cách tư pháp
được quy định tại Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị. Công tác
kiểm tra giám đốc, thi hành án hình sự có nhiều chuyển biến, đã tập
trung kiểm tra một số chuyên đề hồ sơ tạm đình chỉ giải quyết các
loại án, án quá thời hạn xét xử, kiểm tra rút kinh nghiệm về nội dung
thể thức văn bản tố tụng theo mẫu .
Năm 2013, số vụ án toàn ngành thụ lý tăng khá lớn (706 vụ)
trong khi số lượng biên chế không tăng, số biên chế thẩm phán Tòa
án thành phố giảm đáng kể (23 thẩm phán xuống 15 thẩm phán),
nhưng với tinh thần cố gắng nỗ lực, quyết tâm cao, toà án 02 cấp của
Hải Phòng đã tập trung đẩy nhanh tiến độ giải quyết các loại án, tỷ lệ
giải quyết các loại án đều vượt chỉ tiêu thi đua của ngành đề ra. Đã
tập trung chỉ đạo xét xử thành công nhiều vụ án lớn, phức tạp (02 vụ
án hình sự xảy ra tại huyện Tiên Lãng. Chất lượng xét xử các loại án
được nâng lên. Tỷ lệ án hủy của toàn ngành thấp hơn nhiều so với tỷ
lệ cho phép của Tòa án nhân dân tối cao. Năm 2013, toàn ngành Tòa
án Hải Phòng bị hủy 37,5 vụ do lỗi chủ quan của thẩm phán/5.910
vụ, việc đã giải quyết xét xử, chiếm tỷ lệ 0,63%, giảm 0,15% so với
năm 2012. Các bản án bị cải sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán là
25,5 vụ/5.910 vụ, việc đã giải quyết xét xử, chiếm tỷ lệ 0,43%, giảm
0,19 % so với năm 2012. Trong đó án hình sự, án hành chính không
có án bị hủy. Án lao động Tòa án thành phố không có án hủy.
Không có án xử oan người vô tội, số bị cáo bị phạt tù cho
hưởng án treo 350 bị cáo, chiếm tỷ lệ 13,2%; số bị cáo được áp dụng
0,57% (tỷ lệ cho phép của Toà án nhân dân tối cao đối với án cải sửa
do lỗi chủ quan là 4,2%).
Về những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong áp
dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
thành phố Hải phòng
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác năm 2011 của
ngành Tòa án Hải Phòng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đó là: Một
số vụ việc (nhất là vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, còn để
chậm về thời gian tố tụng). Một số bản án, quyết định bị hủy do lỗi
chủ quan của thẩm phán. Chất lượng giải quyết xét xử án dân sự tuy
đã được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số vụ án
dân sự tranh chấp kéo dài qua nhiều cấp xét xử vẫn chưa dứt điểm.
Một số tòa án quận, huyện khi xem xét đơn khởi kiện của người dân
chưa hướng dẫn tận tình, chu đáo, còn gây phiền hà. Trình độ cán bộ
thẩm phán nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu. Số cán bộ có
trình độ sau đại học còn thấp.
Năm 2013, ngành Toà án Hải Phòng vẫn còn một số tồn tại,
hạn chế như: Chất lượng xét xử các loại án được nâng lên nhưng
chưa toàn diện. Chất lượng xét xử án dân sự chưa đáp ứng được yêu
cầu, tỷ lệ các vụ án dân sự bị hủy, bị cải sửa do lỗi chủ quan của
thẩm phán nhiều hơn các loại án khác. Vẫn còn tình trạng án tuyên
14
không rõ ràng gây khó khăn cho công tác thi hành án, một số bản án,
quyết định sửa đổi, bổ sung không đúng quy định của pháp luật.
Công tác xét xử năm 2014, Toà án hai cấp vẫn còn một số tồn tại,
hạn chế đó là: Chất lượng xét xử án dân sự tuy đã được nâng lên
nhưng chưa vững chắc, số lượng đơn thư khiếu nại theo trình tự giám
đốc thẩm còn nhiều. Chất lượng trang tụng tại phiên tòa tuy có nhiều
3.1. Quan điểm về đảm bảo vai trò áp dụng pháp luật về xét xử
các vụ án hình sự của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người
Áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án
cần được thực hiện trên các quan điểm cơ bản như sau
3.1.1. Bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ
án hình sự của tòa án nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp,bảo vệ các quyền con người, quyền công dân
Mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta đến năm
2020 đã được chỉ ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị là: xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,
dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ
nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là
những quan điểm, nhiệm vụ cơ bản mang tính nguyên tắc đối với cải
cách tư pháp, trong đó trọng tâm là công tác xét xử. Nguyên tắc và
yêu cầu của áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự hiện
nay là đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc hiến định theo Hiến
pháp năm 2013 và Luật tổ chức tòa án năm 2014 cùng các văn bản
luật trực tiếp là Bộ luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự.
- Bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử các
vụ án hình sự của tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của con người
Áp dụng pháp luật của tòa àn về xét xử các vụ án hình sự
không chỉ để bảo vệ quyền, lợi ích của các nhân, tổ chức trong xã hội
mà còn là cho bản thân những người liên quan trong từng vụ án theo
quy định của pháp luật. Tính đúng đắn, hợp pháp của áp dụng pháp
luật trong xét xử vụ án hình sự phải nhằm bảo đảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được
bảo đảm. Người bị xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc
người khác bào chữa.
3.1.2. Bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án
Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự
của tòa án phải tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của xét xử hình
sự, các nguyên tắc hiến định đã được quy định trong Hiến pháp năm
2013 và trong BLHS, BLTTHS. Đặc biệt là các nguyên tắc mà Hiến
pháp năm 2013 đã có sự sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 đã
3.1.5. Áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự nhằm
tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội, đảm
bảo quyền giám sát của nhân dân, của các tổ chức chính trị, xã
hội
17
Thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử và công
luận, những sai phạm trong hoạt động xét xử sẽ được phát hiện kịp
thời và truy cứu trách nhiệm pháp lý theo đúng pháp luật, tạo lập
niềm tin của nhân dân vào tòa án, vào công lý, đảm bảo quyền tự do,
dân chủ và quyền con người trong hoạt động xét xử.
Bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án
hình sự của tòa án góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, thực hiện lời dạy của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư pháp.
3.2. Các giải pháp bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật về xét
xử hình sự của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay ở nước ta
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự
Sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện Bộ luật TTHS năm 2003 đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến
Các cơ quan có thẩm quyền cần phải thống nhất nhận thức về trách
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
bị can, coi trọng quyền chứng minh của người bị buộc tội; không nên
xem đây là nghĩa vụ của họ. Bổ sung các quyền của bị can, bị cáo
theo hướng bảo đảm các quyền con người như quyền được im lặng,
quyền được thông báo và giải thích các quyền của được hưởng, đồng
thời quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người THTT trong việc bảo
đảm các quyền trên của bị can, bị cáo.
Cần kết hợp cả hai nguyên tắc tranh tụng và xét hỏi. Bởi vì
mỗi một mô hình tố tụng đều có những ưu điểm và hạn chế nhiều
hay ít, hơn nữa phải phù hợp với điều kiện thực tế cảu mỗi quốc gia.
Đồng thời, qua thực tiễn cho thấy, trong áp dụng pháp luật về xét xử
các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng
của công dân, bảo đảm công lý, tránh oan sai, dân chủ hóa hoạt động
tố tụng, cần đảm bảo tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội, cần thay
đổi nhận thức lâu nay về thực hành nguyên tắc này.
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện Bộ luật hình sự
Bộ luật hình sự nước ta cần phải được hoàn thiện đáp ứng
các nguyên tắccơ bản của nhà nước pháp quyền, bảo vệ, bảo đảm
quyền con người và yêu cầu cải cách tư pháp, nhằm hiện thực hóa
các nguyên tắc hiến định. Trong đó có định hướng đảm bảo tính
nhân văn trong quy định về hình phạt, về chính sách hình sự nói
chung. Việc sửa đổi Bộ luật Hình sự xuất phát từ yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, các mối quan hệ đối nội và đối ngoại,
xu thế quốc tế hóa khu vực và toàn cầu, qua đó nhằm bảo vệ ngày
càng tốt hơn các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Cần
phải rà soát tổng thể lại các quy định của Bộ luật Hình sự, đánh giá
việc áp dụng pháp luật, cần phải hình sự hoá những hành vi vi phạm
pháp luật mới xuất hiện nhưng có tính nguy hiểm cho xã hội, phi
hình sự hóa những hành vi không còn tính nguy hiểm, không đến
dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghế nghiệp và
trách nhiệm đạo đức của Thẩm phán được coi là điều kiện đảm bảo
cho tính đúng đắn trong áp dụng pháp luật, là cơ sở đạo đức nghề
nghiệp của Thẩm phán.
3.2.5. Tổng kết thực tiễn xét xử và bảo đảm áp dụng
thống nhất pháp luật
Cùng với trình độ, năng lực chuyên môn, đạo đức và bản
lĩnh nghề nghiệp của ngưới thẩm phán thì còn phải thực hiện thường
xuyên công tác tổng kết thực tiễn, kiểm tra giải quyết án hình sự của
cấp sơ thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết
20
định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng nghị.
Thông qua công tác tổng kết thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm, vướng
mắc trong thực tiễn xét xử thì mới có thể đưa ra những đánh giá
thực chất về sự chính xác, phù hợp thực tiễn của các quy phạm pháp
luật trong BLTTHS và BL HS.
3.2.6. Tăng cường sự kiểm tra, giám sát đối với hoạt động
áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án
Tăng cường công tác giám sát việc xét xử của toà án cấp trên
đối với các toà án cấp dưới, bảo đảm điều kiện càn thiết cho người
dân và các tổ chức xã hội giám sát công tác xét xử các vụ án hình sự
của toàn án. Tòa án chủ động kiểm tra, tự rà soát theo trình tự kiểm
tra việc xét xử, chứ không đợi có đơn đề nghị của đương sự thì mới
xem xét.
3.2.7.Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo, trách nhiêm
của các tổ chức Đảng đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong
xét xử các vụ án hình sự của tòa án