TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2010 - 2014
Đề Tài:
KIỂM KÊ CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT - THỰC TIỄN TẠI QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS.Phan Trung Hiền Lâm Hoàng Phi Hải
Bộ môn Luật Hành Chính MSSV: 5105952
Lớp: Luật Hành Chính K36
C
ần Th
ơ, tháng 12/2013
Cần Thơ, ngày … tháng……năm 2013
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
1.4. Ý nghĩa về công tác kiểm kê và bồi thường 14
1.5. Nguyên tắc kiểm kê và bồi thường 15
1.6. Mối quan hệ giữa kiểm kê và bồi thường 16
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC KIỂM KÊ
CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 19
2.1.Chủ thể thực hiện công tác kiểm kê bồi thường 19
2.2. Kiểm kê thông thường 20
2.2.1. Phạm vi áp dụng và điều kiện áp dụng 20
2.2.2. Quy trình kiểm kê thông thường 21
2.3.3. Quy trình thực hiện kiểm kê bắt buộc 28
2.3.4. Tổ chức thực hiện việc kiểm kê bắt buộc 30
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ
KIỂM KÊ CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 34
3.1 Thực trạng công tác kiểm kê cây trồng, vật nuôi gắn liền với đất khi nhà
nước thu hồi đất 34
3.2 Thực trạng công tác kiểm kê cây trồng, vật nuôi gắn liền với đất khi nhà
nước thu hồi đất tại thành phố Cần Thơ 46
3.3 Khó khăn, nguyên nhân và giải pháp 40
3.3.1 Khó khăn 40
3.3.2 Nguyên nhân 42
3.3.3 Giải pháp: 44
KẾT LUẬN 46
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
1
quan đến vấn đề này mà thực tiễn áp dụng chủ yếu là ở Thành phố Cần Thơ.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên những cơ sở nghiên cứu những vấn đề về áp giá đất, thu hồi đất người
viết hướng đến những mục đích và phạm vi như sau:
Hệ thống hóa cơ sở khoa học về kiểm kê tài sản khi Nhà nước thu hồi đất theo
quy định của pháp luật.
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
2
Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về kiểm kê tài sản khi Nhà nước thu
hồi đất.
Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện, nâng cao tính khả thi của hoạt động kiểm
kê tài sản khi Nhà nước thu hồi đất. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các
công tác trên.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài người viết chủ yếu nghiên cứu về các quy định pháp luật liên
quan đến công tác kiểm kê tài sản khi Nhà nước thu hồi đất trong phạm vi các quy
định có liên quan của Luật Đất đai và các quy định thực tiễn ở thành phố Cần Thơ
để làm rõ vấn đề cần phân tích.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, người viết sử dụng các phương pháp chủ yếu
như sau: phương pháp thu thập thông tin, phương pháp nghiên cứu lý thuyết,
phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu, tài liệu, thông tin đã thu thập và phương
pháp phân tích và so sánh.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo; đề tài bao gồm 3
chương:
Chương 1: Khái quát chung về công tác kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi Nhà
Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật đất đai 2003, thu hồi đất là việc nhà
nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao
cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý. Như vậy có thể khẳng
định Nhà nước một trong số những hoạt động thể hiện được vai trò quản lý của Nhà
nước về đất đai đó là hoạt động thu hồi đất.
Thu hồi đất chủ yếu được thực hiện bởi quyết định hành chính của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền. Thu hồi đất là hoạt động quản lý hành chính Nhà nước về
đất đai. Khi tiến hành việc thu hồi đất, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu đất
thực hiện việc thu hồi đất theo quy định pháp luật về đất đai. Như vậy, mặc dù là
đại diện của chủ sở hữu đất đai, tuy nhiên muốn thu hồi đất, Nhà nước phải trải qua
những trình tự và thủ tục nhất định theo quy định. Việc này nhằm tránh đi sự tuỳ
tiện trong thu hồi đất của Nhà nước.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Nhà nước tiến hành thu hồi đất trong
các trường hợp sau đây
1
:
1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng, phát triển kinh tế như sau:
Sử dụng đất cho mục đích quốc phòng, an ninh;
Sử dụng đất để xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp được Nhà
nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
Sử dụng đất để xây dựng trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng
ngoại giao;
Sử dụng đất để xây dựng các công trình công cộng không nhằm mục đích
kinh doanh;
1
Điều 36 Nghị Định 181/2004/NĐ- CP Ngày 29 tháng 10 năm 2009.
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
tài sản được xem xét bồi thường là những tài sản gắn liền với đất. Những tài sản này
bao gồm nhà, công trình xây dựng, cây trông trên đất, vật nuôi (thủy sản)… Một
cách khái quát, ta có thể nói rằng, các tài sản gắn liền với đất bao gồm: các vật sinh
ra từ đất (cây cối, hoa lợi tự nhiên, khoáng sản…), các vật gắn vào đất do hoạt động
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
5
có ý thức của con người và không thể tách rời khỏi đất mà không hư hỏng (nhà ở,
công trình xây dựng, …)
2
.
Bồi thường thiệt hại về tài sản là vấn đề then chốt trong nhiều hoạt động
pháp lý, đặc biệt là trong công tác giải phóng mặt bằng. Theo quy định của Luật đất
đai 2003 quy định, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá
trị quyền sử dụng đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
3
. Cá nhân người viết cho
rằng, khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên chưa thật sự đầy đủ, vì
có những trường hợp Nhà nước giao không thu tiền cho hộ gia đình, cá nhân nhưng
khi Nhà nước khi thu hồi vẫn phải bồi thường như giao đất nông nghiệp, Nhìn
chung, bồi thường là một hoạt động hướng đến việc đảm bảo quyền và lợi ích chính
đáng của người dân có đất bị thu hồi không bị xâm phạm. Nói cách khác đây là
trường hợp mà Nhà nước dùng các chính sách về bồi thường để hướng đến việc
công bằng trong việc thi hành các chính sách về thu hồi đất đai. Có thể thấy, thuật
ngữ “bồi thường” từ Luật Đất đai năm 2003 đến nay, thể hiện hàm ý là quan hệ bồi
thường ngang giá và sòng phẳng. Riêng theo quy định tại Dự thảo Luật đất đai sửa
đổi thì bồi thường là việc Nhà nước trả cho người có đất bị thu hồi những thiệt hại
về quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
hại đó thì mới được xem là đầy đủ điều kiện.
Như vậy, bồi thường là bù đắp những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho
người có đất bị thu hồi do việc thu hồi đất gây ra. Nếu thiệt hại về vật chất là rõ
ràng và có thể xác định được, thì thiệt hại về tinh thần là rất khó hoặc không thể xác
định. Từ việc khó xác định đó nên thiệt hại về tinh thần chưa được tính để bồi
thường. Như vậy, Nhà nước không thể trả lại đầy đủ những mất mát cho người dân
bị thu hồi đất. Do đó, bồi thường thiệt hại được thực hiện bằng nhiều hình thức:
bằng tiền, bằng nhà, bằng đất
1.1.3 Khái niệm về tài sản và tài sản gắn liền với đất
Khái niệm về tài sản
Thuật ngữ “tài sản” có hai cách hiểu khác nhau:
Nếu hiểu theo phương diện pháp lý thì tài sản là của cải của con người sử
dụng và “Của cải” là một khái niệm luôn biến đổi và hoàn thiện cùng với sự phát
triển quan niệm về giá trị vật chất. Từ thời cổ xưa ở xã hội La Mã khi nhắc đến tài
sản người ta liên tưởng ngay đến của cải trong một gia đình như: ruộng đất, nhà
cửa, gia súc… Còn trong xã hội hiện đại ngày nay ngoài của cải trong gia đình
chúng ta còn một số của cải quan trọng khác như: năng lượng mặt trời, thủy năng…
Ngoài ra, trong ngôn ngữ thông dụng thì tài sản là một vật cụ thể mà có thể nhận
biết được bằng các giác quan và được con người sử dụng trong đời sống hàng ngày.
Theo Điều 163 Bộ Luật Dân sự 2005 thì tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có
giá và quyền tài sản. Trong đó:
Vật để được xem là tài sản phải thỏa được các yêu cầu: Vật phải có thực,
chiếm giữ được, đem lại lợi ích và được pháp luật cho phép tham gia giao dịch dân
sự, khi hội đủ các điều kiện trên thì vật này sẽ trở thành tài sản.
Các quyền về tài sản đó là những quyền gắn liền với tài sản hoặc khi thực
hiện quyền đó, chủ sở hữu sẽ có được một tài sản. Các quyền về tài sản là các quyền
trị giá được bằng tiền và có thể được chuyển giao trong giao dịch dân sự. Theo
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
1.2 . Lược sử quy định về công tác kiểm kê, bồi thường về tài sản khi nhà nước thu
hồi đất
Mặc dù luật đất đai đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển nhưng vấn đề kiểm
kê, bồi thường về tài sản khi nhà nước thu hồi đất chỉ được đặt ra khi nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường. Cụ thể, pháp luật về kiểm kê, bồi thường về tài
sản khi nhà nước thu hồi đất được chia thành các giai đoạn sau: 4
TS. Nguyễn Ngọc Điện, Tham luận – Hội thảo tháng 6/2001, ngày 14/6/2001.
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
8
1.2.1. Giai đoạn Luật Đất đai 1987
Giai đoạn này quy định người sử dụng đất có các quyền lợi như được hưởng
thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất. Còn nếu đất đang sử dụng thì được đền
bù bằng việc giao đất mới. Chưa có công tác kiểm kê tài sản khi nhà nước thu hồi
đất
1.2.2. Giai đoạn Luật Đất đai 1993
Sau khi thể chế hóa Nghị quyết VI (1986) của ban chấp hành trung ương
đảng, trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 bắt đầu ghi nhận quyền năng
của người sử dụng đất trên thị trường đất đai có giá cho nên phải được bồi thường
tương xứng khi nhà nước thu hồi đất.
Khi Nghị định 90-CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 ban hành về việc đền bù
thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
quốc gia, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Đối với đất, người được Nhà nước
giao đất sử dụng vào mục đích nào thì khi Nhà nước thu hồi đất được đền bù bằng
đô thị cũng đã đặt ra vấn đề bồi thường đối với thiệt hại vô hình. Thiệt hại vô hình
là thiệt hại do vấn đề thu hồi đất gây ra chẳng hạn như việc thu hồi toàn bộ đất nông
nghiệp có thể dẫn đến người lao động trong các nông hộ thất nghiệp, thu hồi một
phần hoặc toàn bộ các diện tích đất có thể dẫn đến người dân phải di chuyển chỗ ở,
việc thu hồi đất của hộ gia đinh này có thể ảnh hưởng đến lối đi chung của các hộ
gia định lân cận…Quy định của pháp luật tuy chưa định nghĩa là thiệt hại vô hình
nhưng đã được nhận ra và tính toán bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ví
dụ như: hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống sản xuất, hỗ trợ chi phí đào tạo cho
người lao động nông nghiệp phải chuyển sang làm nghề khác do thu hồi đất (được
quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 25 Nghị định 22/1998/NĐ-CP.
Chính vì điều đó việc kiểm kê, bồi thường tài sản khi thu hồi đất đã trở
thành vấn đề được quan tâm trong xã hội. Sự chênh lệch về giá đất trên thực tế so
với giá đất trong quy định. Cùng với bộ phận cán bộ nhận thức chưa cao khi thực
hiện công tác giải phóng mặt bằng và sự biến động của giá đất dẫn đến việc kiểm
kê, bồi thường tài sản khi thu hồi đất trở nên khó khăn hơn, khiếu nại, khiếu kiện
ngày càng trở nên gay gắt.
1.2.3. Giai đoạn Luật Đất đai 2003
Hiến pháp 1992, cụ thể hóa Luật đất đai năm 2003, đặc biệt tại Luật đất đai
năm 2003 đã ghi nhận việc thu hồi đât vì mục đích phát triển kinh tế. Và Nghị định
197/2004/NĐ-CP năm 2004 ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, ra đời để khắc phục những
điểm còn hạn chế tại Nghị định 22/1998/NĐ-CP, tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP
quy định cụ thể hơn về vấn đề bồi thường vật nuôi và việc bồi thường cho lao động
ngừng việc cũng được đặt ra, bên cạnh đó Nghị định 197 cũng quy định về giá trị
bồi thường tài sản cụ thể tại Điều 19 theo đó mức bồi thường nhà, công trình bằng
giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại cộng với một khoản tiền tính bằng tỷ
lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình . Tiếp theo đó Nghị định
84/2007/NĐ-CP cũng quy định nhiều hơn về trình tự, thủ tục thu hồi đất, thực hiện
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tuy nhiên lại không quy định cụ thể về giá trị bồi
thường tài sản, qua quá trình triển khai và áp dụng nghị định này đã phát hiện nhiều
xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất và tổ chức làm nhiệm vụ
bồi thường, giải phóng mặt bằng vận động, thuyết phục mà người có đất thu hồi
không chấp hành;
b) Quyết định cưỡng chế đã được niêm yết công khai tại địa điểm sinh hoạt
khu dân cư, tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;
c) Quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã có hiệu
lực thi hành;
d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi
hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc
vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
11
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực
hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.
4. Trình tự, thủ tục thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc:
a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế
vận động, thuyết phục nếu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế chấp nhận thi hành thì tổ
chức được giao thực hiện cưỡng chế lập biên bản và thực hiện việc điều tra, khảo
sát, đo đạc, kiểm đếm chậm nhất 5 ngày kể từ ngày lập biên bản;
b) Tổ chức lực lượng thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế đối
với trường hợp đã được vận động, thuyết phục theo quy định tại điểm a khoản này
mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không chấp nhận thi hành quyết định cưỡng chế.
1.3 Chủ thể nhận bồi thường và chủ thể có trách nhiệm bồi thường
1.3.1 Chủ thể nhận bồi thường
Chủ thể được bồi thường về đất là chủ thể có một trong các điều kiện sau
đây:
có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ
về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan,
nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác
nhận là đất không có tranh chấp.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương
và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban
nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có
tranh chấp.
6. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà
án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải
quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết
định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng
trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.
8. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa,
miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi
xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.
Chủ thể được bồi thường về tài sản gắn liền với đất là chủ sở hữu có tài sản
gắn liền với đất bị thiệt hại do một hoạt động từ một chủ thể khác. Chủ sở hữu tài
sản là người có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của
mình. Trong trường hợp này, tài sản được xem xét bồi thường phải là tài sản gắn
liền với đất bị thiệt hại khi thu hồi đất. Các tài sản này bao gồm: nhà ở, công trình
xây dựng, cây trồng trên đất, vật nuôi (nuôi trồng thủy sản). Vì thế, chủ thể bị thiệt
hại về tài sản khi thu hồi đất và có đủ điều kiện để được bồi thường thì được bồi
thường thiệt hại về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất.
Thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất có thể là thiệt hại trực tiếp hoặc thiệt hại
kinh doanh thì trong các trường hợp này chủ đất chỉ nhận được bồi thường về đất.
Người được đền bù thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi phải là chủ
sở hữu hợp pháp tài sản đó, phù hợp với quy định của pháp luật.
1.3.2 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường
Chủ thể trực tiếp thực hiện chi trả tiền bồi thường: Có thể do nhà nước trực
tiếp thực hiện việc chi trả, nếu trường hợp nhà nước là chủ đầu tư. Cũng có thể do
chủ đầu tư thực hiện dự án thực hiện việc chi trả.
Trường hợp nhà nước thu hồi đất với mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng thì sẽ do nhà nước chi trả tiền bồi thường.
Đối với trường hợp thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế thì tùy từng
trường hợp có thể do nhà nước hoặc chủ đầu tư thực hiện việc chi trả.
Để chi trả cho việc bồi thường, Nhà nước tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ
trợ tái định cư và giải phóng mặt bằng:
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
14
Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ
chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê
đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thực hiện ứng trước tiền bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng
theo phương án đã được xét duyệt thì được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình
thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.
Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ
chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao
đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà
được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã phê
duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự án.
nghĩa quan trọng giúp công tác bồi thường được chính xác.
Bên cạnh đó, việc bồi thường nhằm bù đắp những thiệt hại về lợi ích kinh tế
mà chủ thể thu hồi đất gây ra, cũng nhằm để đảm bảo công bằng xã hội , đảm bảo
quyền và lợi ích chính đáng về tài sản của người bị thiệt hại. Vì “Tài sản hợp pháp
của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa” được quy định tại Điều 23 Hiến pháp
1992, như vậy cho thấy nhà nước khẳng định tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức
luôn được nhà nước bảo vệ.
Ngoài ra, công tác kiểm kê và bồi thường còn có một ý nghĩa quan trọng
trong công tác giải phóng mặt bằng bởi vì khi kiểm kê chính xác và bồi thường
được thỏa đáng thì công tác giải phóng mặt bằng mới được được tiến hành nhanh
chóng, thuận lợi nếu công tác kiểm kê và bồi thường diễn ra không thỏa đáng,
không phù hợp thì việc khiếu nại, khiếu kiện ngày càng nhiều tạo sự bất ổn trong
đời sống xã hội và kéo theo việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện sẽ gặp nhiều khó
khăn. Trong tình hình hiện nay, thì đa số đơn khiếu nại, khiếu kiện về nội dung
phần lớn là khiếu nại, khiếu kiện về vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất cho nên để giảm bớt lượng đơn khiếu nại, khiếu kiện thì công tác
kiểm kê, bồi thường phải được chính xác, khách quan.
Nhìn chung, kiểm kê là một giai đoạn quan trọng trong công tác giải phóng
mặt bằng, thể hiện qua việc đảm bảo được tính dân chủ trong việc bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất. Ngoài ra còn góp phần đảm bảo được việc bồi thường đúng
tài sản và đầy đủ về mặt giá trị của các tài sản đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích
chính đáng của người dân.
1.5. Nguyên tắc kiểm kê và bồi thường
Nguyên tắc khi kiểm kê tài sản
Trước khi kiểm kê bắt buộc phải tiến hành tiếp xúc để tuyên truyền, giải
thích, động viên người bị thu hồi đất tuân thủ pháp luật theo quy định (việc tiếp xúc
có biên bản ghi nhận và xác nhận của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn, của cán
bộ công chức, viên chức được giao nhiệm vụ và của người được tiếp xúc; trường
hợp người được tiếp xúc không đồng ý ký biên bản hoặc cố ý vắng mặt theo thư
mời thì vẫn lập biên bản, có đại diện khu vực, ấp, người đại diện dân tham gia Hội
thường theo đúng quy định của pháp luật và quy định cụ thể của từng địa phương.
Trong việc thực hiện công tác bồi thường những cá nhân, hộ gia đình và tổ chức
chấp hành theo quyết định bồi thường về tài sản khi thu hồi đất thì biểu dương khen
thưởng kịp thời. Nếu trong công tác bồi thường thiệt hại đúng theo quy định của
pháp luật, người được bồi thường không thực hiện quyết định thu hồi và quyết định
bồi thường thiệt hại về tài sản thì bị cưỡng chế thi hành, để đảm bảo thực hiện đúng
theo quy hoạch xây dựng.
1.6. Mối quan hệ giữa kiểm kê và bồi thường
Có thể nhận thấy kiểm kê và bồi thường là hai hoạt động có mối liên hệ
mật thiết với nhau. Cụ thể nếu như không có công tác kiểm kê thì không có đủ cơ sở
để tiến hành bồi thường, và nếu bồi thường mà không dựa vào công tác kiểm kê thì
Đề Tài: Kiểm kê cây trồng, vật nuôi khi nhà nước thu hồi đất - thực tiễn tại Quận Ninh
Kiều thành phố Cần Thơ.
GVHD: Phan Trung Hiền SVTH: Lâm Hoàng Phi Hải
17
sẽ dễ dẫn đến việc sai nguyên tắc chung của Luật Đất đai và sẽ dẫn đến việc áp
dụng luật cũng như các hoạt động bồi thường không được chính xác, khách quan.
Thực trạng trên đã cho thấy đây là hai giai đoạn không thể thiếu trong một quá trình
giải phóng mặt bằng.
Kiểm kê và bồi thường tài sản gắn liền với đất là hai công tác quan trọng việc
thu hồi đất. Bởi công tác kiểm kê có chính xác, khách quan thì việc bồi thường mới
diễn ra đúng với thực tế thiệt hại và khắc phục được tình trạng khiếu nại, khiếu kiện
về vấn đề bồi thường khi thu hồi đất. Ngoài ra, công tác kiểm kê, bồi thường còn là
một trong khâu quan trọng của công tác giải phóng mặt bằng giúp cho công tác giải
phóng mặt bằng được diễn ra thuận lợi.
Việc thực hiện kiểm kê tài sản phải đồng hành cùng tổ chức bồi thường để
việc thực hiện bồi thường được nhanh chóng, đúng trình tự theo luật định và nhất là
có sự thống nhất giữa ý chí của người dân đối với những kiểm kê đã được tiến hành.
Nếu việc kiểm kê thực hiện không hợp lý, không chính xác thì sẽ dẫn đến việc