B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI
NGễ THO NGUYấN
Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
về đ-ơng sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân
thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2018
B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI
NGễ THO NGUYấN
Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
về đ-ơng sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân
thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lut dõn s v T tng dõn s
Mó s
1.1. Khái niệm, đặc điểm của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự
7
1.2. Năng lực chủ thể của đương sự trong tố tụng dân sự
17
1.3. Các quy định về một số quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố
tụng dân sự
20
Chƣơng 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ ĐƢƠNG SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1.
52
Ưu điểm và nguyên nhân của ưu điểm trong việc áp dụng quy định
pháp luật tố tụng về đương sự tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng
Sơn, tỉnh Lạng Sơn
52
2.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc áp dụng quy định
: Biện pháp khẩn cấp tạm thời
PLTTDS
: Pháp luật tố tụng dân sự
QHPL
: Quan hệ pháp luật
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTDS
: Tố tụng dân sự
VADS
: Vụ án dân sự
1
MỞ ĐẦU
2
quy định chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và một số luật mới ban hành. Vì
vậy, việc ban hành BLTTDS năm 2015 là cần thiết, thể hiện được chủ trương đường
lối chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến
pháp, đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tăng cường tranh tụng, đảm
bảo tính công khai, dân chủ, công bằng, tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện
tốt quyền và nghĩa vụ của mình.
Thực tiễn giải quyết các vụ, việc dân sự tại hệ thống Tòa án nhân dân (TAND)
nói chung và tại TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nói riêng vẫn còn
những tồn tại, vướng mắc trong quá trình giải quyết các VADS, đặc biệt là liên
quan đến việc xác định tư cách của đương sự, việc hiểu các quy định của pháp luật
về vấn đề này đôi khi không đúng đã dẫn đến quá trình xét xử tại Tòa án còn nhiều
hạn chế, sai sót. Kết quả giải quyết các VADS của Tòa án chưa cao, vẫn còn nhiều
trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới bị cấp trên sửa, hủy. Các VADS
phải giải quyết lại nhiều lần làm lãng phí về thời gian, tiền bạc, gây khó khăn cho
đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Do đó, để góp
phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, tác giả
đã lựa chọn đề tài: "Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đương
sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng
Sơn" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện thực
trạng pháp luật tố tụng dân sự (PLTTDS) hiện hành quy định về đương sự và việc
xác định tư cách của đương sự, đánh giá thông qua thực tiễn xét xử tại TAND thành
phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, kết quả nghiên cứu đề tài nhằm đề xuất được các giải
pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về đương sự và việc xác định tư cách của
đương sự, cũng như giải pháp để thực thi một cách hiệu quả các quy định của pháp
luật trong thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu các tài liệu có liên quan, tác giả nhận thấy đã có một số tài
liệu, công trình, bài viết nghiên cứu về đương sự trong VADS ở nhiều khía cạnh
đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 năm 2005 v.v...
Các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, các sách chuyên khảo, bài
tạp chí nêu trên nhìn chung đã phần nào giải quyết được các vấn đề về đương sự
trong TTDS nhưng chủ yếu nghiên cứu về chế định đương sự trong PLTTDS trước
thời điểm BLTTDS năm 2015 được ban hành. Cho đến nay, chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật về đương sự theo quy
4
định của BLTTDS năm 2015, đặc biệt tiếp cận với thực tiễn áp dụng tại TAND thành
phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, đề tài "Quy định của pháp luật tố tụng dân
sự hiện hành về đương sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố
Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Đề tài không trùng lặp
với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố.
3. Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: là nghiên cứu các quy định của
PLTTDS Việt Nam hiện hành về đương sự và thực tiễn áp dụng tại TAND thành
phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình nghiên cứu nhằm làm rõ tầm quan trọng
của việc xác định đúng đương sự và tư cách của đương sự trong quá trình giải quyết
các vụ việc dân sự. Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập,
mâu thuẫn, chồng chéo về quy định pháp luật còn tồn tại để đề ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài nghiên cứu các quy định của
BLTTDS năm 2015 về đương sự và thực tiễn áp dụng trong các VADS tại thành
phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ, tác
giả giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
* Về nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu về đương sự và một số quyền và nghĩa vụ của đương sự trong
VADS theo PLTTDS Việt Nam hiện hành.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp giải
thích, bình luận để hoàn thành đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn góp phần cung cấp cho
khoa học pháp lý những nền tảng lý luận và thực tiễn về đương sự trong vụ việc dân
sự, đồng thời đề ra những kiến nghị , giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế , bất
cập về mặt pháp lý còn tồn tại trong pháp luật về đương s ự theo quy định của pháp
luật hiện hành.
Tác giả hy vọng đ ề tài này s ẽ là một tài liệu khoa học hữu ích cho việc
giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật dân sự liên quan đến đương sự trong
PLTTDS Việt Nam hiện hành. Đối với các cơ quan nhà nước, kết quả của đề tài này
6
có thể sử dụng để tham khảo trong quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự
một cách thống nhất.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành về đương sự tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và một
số kiến nghị.
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐƢƠNG SỰ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Trong Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học được xuất bản năm 1999 thì
"đương sự là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một khiếu nại hoặc
một vụ án"1. Ngoài ra, theo cuốn Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học
pháp lý (Bộ Tư pháp) thì đương sự được giải thích như sau:
Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn,
hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm
người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương
mại, hôn nhân gia đình và lao động. Những người tham gia TTDS đó bao gồm
đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, người làm
chứng, người phiên dịch2.
Qua đó, có thể thấy các nhà luật học đều có một quan niệm chung, đương
sự là những người tham gia vào quá trình giải quyết VADS vì có quyền, nghĩa vụ
được giải quyết trong VADS, bao gồm bên nguyên đơn, bên bị đơn, bên người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Trước khi có BLTTDS việc giải quyết các tranh
chấp ở Tòa án theo các thủ tục tố tụng khác nhau và được quy định trong các văn
bản khác nhau qua các giai đoạn lịch sử khác nhau:
Pháp luật TTDS Việt Nam được hình thành và phát triển ngay sau khi Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch chính phủ lâm
thời đã ra Sắc lệnh số 47/SL cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ,
viện dẫn đến việc áp dụng các quy định tố tụng thủ tục tại Nghị định của toàn quyền
Đông Dương và Bộ luật tố tụng thủ tục Pháp. Ngoài ra, Nhà nước ta còn ban hành
hàng loạt các Sắc lệnh trong đó cho phép Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng để giải
quyết tranh chấp dân sự, ví dụ: Sắc lệnh 13/S ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa
án và các ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh
51/SL; Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; Sắc lệnh số
85/SL ngày 22/5/1950 cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng; Sắc lệnh số 159/SL
ngày 07/11/1950 quy định vấn đề ly hôn. Tuy nhiên, có một thực tế trong giai đoạn đầu
các văn bản TTDS chủ yếu quy định chung về thủ tục TTDS mà không quy định cụ
1. Trường Đại học luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.165.
Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến
đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết VADS. Vì vậy, chúng tôi không bình
luận và đánh giá về đương sự trong việc dân sự.
* Nguyên đơn
Trong quá trình giải quyết VADS, nguyên đơn là chủ thể có vai trò khởi
động hoạt động tố tụng và là chủ thể chủ động tham gia vào hoạt động tố tụng. Theo
quy định tại khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015 thì: "Nguyên đơn trong vụ án dân
6. Khoản 1 Điều 68, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
7. TS. Bùi Thị Huyền (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động, tr. 112.
11
sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này
quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và
lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy
định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của
Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn".
Theo cách hiểu chung nhất nguyên đơn là người đứng đơn khởi kiện và có
vai trò quan trọng trong VADS so với các đương sự khác. Tuy nhiên, người khởi
kiện và nguyên đơn có thể khác nhau. Thông thường thì người khởi kiện chính là
nguyên đơn nhưng cũng có những trường hợp người được bảo vệ quyền lợi do việc
khởi kiện của chủ thể khác mới được xác định là nguyên đơn. Quyền, nghĩa vụ của
nguyên đơn được thực hiện theo quy định tại Điều 71 BLTTDS năm 2015.
Như vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người giả thiết quyền và lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc tranh chấp tự mình khởi kiện hoặc được
người người khác có thẩm quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
* Bị đơn
Bị đơn là chủ thể không thể thiếu trong quá trình Tòa án giải quyết VADS,
theo đó bị đơn là chủ thể bao giờ cũng đi kèm với nguyên đơn. Khi đã xác định tư
nguyên đơn.
* Đồng nguyên đơn, đồng bị đơn
Theo quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 2015, trong một VADS có thể có
nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn. Đối với những vụ án mà giữa các nguyên đơn, giữa
các bị đơn không mâu thuẫn với nhau về quyền và lợi ích, các lợi ích của họ không
chống lại nhau, các yêu cầu phản tố hay phản yêu cầu (ý kiến phản đối) của họ không
loại trừ nhau thì cần quy định họ là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn. Các đồng nguyên
đơn, đồng bị đơn thường gắn liền với tính nhiều chủ thể của các QHPL nội dung đang
tranh chấp (quan hệ nghĩa vụ, quan hệ sở hữu chung; quan hệ hôn nhân...). Đối với
những VADS có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn nhưng giữa các nguyên đơn, giữa
các bị đơn với nhau có mâu thuẫn về quyền và lợi ích hoặc nhiều nguyên đơn kiện một
bị đơn theo nhiều vấn đề khác nhau thì không phải là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn.
Việc phân chia này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền, nghĩa vụ tố
tụng của mỗi đương sự trong từng trường hợp này. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015
lại không có quy định như thế nào là đồng nguyên đơn, đồng bị đơn trong VADS và
quyền, nghĩa vụ của đồng nguyên đơn, đồng bị đơn. Trong khi đó thực tiễn đòi hỏi
phải có những quy định về chủ thể này làm cơ sở cho việc giải quyết tại Tòa án.
13
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Theo quy định khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015 "người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong VADS là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc
giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự
mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ
tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan". Như vậy,
để có thể xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì trước hết các chủ thể
này phải có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS mà Tòa án đang giải quyết, đồng
thời phải được Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng do thấy cần thiết hoặc theo yêu
cầu của chính họ hay của đương sự khác. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi
tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ, chứ không phải thuộc
về nguyên đơn hay bị đơn, do vậy yêu cầu của họ có thể chống lại cả nguyên đơn,
bị đơn hoặc trong một số trường hợp yêu cầu của họ chỉ chống nguyên đơn hoặc chỉ
chống lại bị đơn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp yêu cầu của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị
đơn. Vì có yêu cầu độc lập với cả nguyên đơn và bị đơn nên thông thường người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đủ điều kiện pháp lý để khởi kiện
VADS để Tòa án giải quyết yêu cầu của mình, nhưng do VADS đã phát sinh giữa
nguyên đơn và bị đơn, nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, nếu không tham gia ngay vào VADS đã phát sinh giữa nguyên đơn
và bị đơn mà khởi kiện thành VADS khác để bảo vệ quyền lợi cho mình thì việc
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ sau đó sẽ gặp khó khăn, phức tạp hơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía
nguyên đơn hoặc bị đơn là người tham gia vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị
đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ
luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn. Quyền, lợi
ích luôn gắn liền với quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể
đưa ra yêu cầu độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn. Vì vậy, họ không thể
khởi kiện để Tòa án giải quyết ở vụ án riêng, mà bản án, quyết định của Tòa án giải
quyết vụ án ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ với bên
nguyên đơn hoặc bị đơn.
Pháp luật hiện hành lại không có quy định rõ ràng về khái niệm người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn đã dẫn đến một thực
tế tại các Tòa án khi giải quyết các VADS chỉ xác định tư cách một chủ thể nào đó là
15
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chung chung mà không xác định cụ thể chủ thể
đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không có yêu
16
quyết định đến quyền và nghĩa vụ cho các đương sự, đây chính là sự liên quan trực
tiếp. Có trường hợp khi giải quyết VADS, Tòa án có thể không giải quyết đến
quyền lợi của người này ngay trong VADS, nhưng kết quả giải quyết VADS là cơ
sở quan trọng xác định quyền, lợi ích của họ trong các mối QHPL có tính phái sinh
từ quan hệ đã được Tòa án giải quyết. Chẳng hạn, khi người bị thiệt hại khởi kiện
pháp nhân để đòi bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra trong khi thực
hiện nhiệm vụ của pháp nhân giao thì Tòa án chỉ giải quyết buộc pháp nhân bồi
thường cho người bị thiệt hại mà không giải quyết việc buộc người của pháp nhân
phải bồi hoàn cho pháp nhân. Tuy nhiên, việc Tòa án quyết định mức bồi thường
của pháp nhân là bao nhiêu sẽ là cơ sở xác định nghĩa vụ hoàn lại cho ngừời của
pháp nhân đối với khoản tiền mà pháp nhân đã bồi thường trước đó.
- Đương sự là chủ thể được Tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình giải
quyết VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đương sự có thể mong
muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng do việc khởi động vụ
án của nguyên đơn hoặc người yêu cầu và được Tòa án thụ lý giải quyết.
Tham gia vào quá trình tố tụng trước hết là để các đương sự bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, đương sự cần đưa ra yêu cầu, nêu ra các ý
kiến đồng thời cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình là hợp
pháp và có căn cứ với mong muốn để Tòa án giải quyết bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết các VADS. Đối với các cá nhân, tổ
chức hay các chủ thể khác mà khởi kiện hoặc yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác thì người khởi kiện, người yêu cầu tham gia với tư cách là
đại diện của đương sự, còn đương sự là chủ thể được bảo vệ quyền lợi.
- Đương sự là có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc thông qua người đại
diện. Những quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự mà pháp luật quy định là cơ
sở để các đương sự có điều kiện thuận lợi như nhau khi tham gia vào VADS nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ chung của đương sự, nhưng các
do hành vi trái pháp luật của người khác thì cá nhân đó là bên được bồi thường
trong quan hệ bồi thường thiệt hại v.v... Tuy nhiên, trong một số trường hợp chủ thể
đã có năng lực pháp luật nhưng để trở thành chủ thể của QHPL thì phải có năng lực
hành vi ở một mức độ nhất định mới trở thành chủ thể của QHPL.
Một chủ thể chỉ có quyền tham gia tố tụng khi được pháp luật thừa nhận có
năng lực PLTTDS. Năng lực PLTTDS của cá nhân gắn liền với sự tồn tại của cá
nhân, có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Như vậy, năng
18
lực PLTTDS của cá nhân chính là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không
bị ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản… mọi cá nhân đều
bình đẳng về năng lực PLTTDS. Năng lực PLTTDS của tổ chức xuất hiện khi tổ
chức đó được thành lập và chấm dứt khi tổ chức đó không còn tồn tại.
Nội dung của năng lực PLTTDS của đương sự là toàn bộ các quyền và
nghĩa vụ TTDS mà đương sự có được theo quy định của pháp luật. Mặc dù, năng
lực PLTTDS và năng lực pháp luật dân sự có mối liên hệ mật thiết với nhau, nhưng
năng lực PLTTDS của đương sự có sự độc lập tương đối. Do vậy, khi quy định các
quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS không chỉ đáp ứng yêu cầu phù hợp
và dựa trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ về nội dung mà phải đáp ứng được các yêu
cầu khác như: bảo đảm cho các đương sự có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận
công lý; bảo đảm cho các đương sự được bình đẳng và tự định đoạt trong việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bảo đảm phù hợp với khả năng, điều kiện
thực tế để thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó; khả năng, điều kiện bảo đảm thực hiện
quyền, nghĩa vụ v.v…
Tại khoản 1 Điều 69 BLTTDS năm 2015 quy đinh "Năng lực pháp luật tố
tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật
quy định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như
nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình".
Theo đó, nội dung của năng lực PLTTDS là các quyền và nghĩa vụ TTDS