BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
=== ===
NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THI HÀNH
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH. SO SÁNH VỚI MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP
NGHỆ AN - 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
=== ===
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THI HÀNH
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH. SO SÁNH VỚI MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN THỊ THANH TRÂM
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
Lớp: 50B4 - Luật
Mã số SV: 0955033474
NGHỆ AN - 2013
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Như Ngọc
7
MỤC LỤC
Trang
NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 16
1.2. Các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam 21
1.2.1. Điều kiện áp dụng và thi hành hình phạt tử hình 21
1.2.3. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình 27
1.3.1. Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự của
Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 37
1.3.2. Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự của
Vương quốc Nhật Bản 41
1.3.3. Chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự của
Cộng hòa Liên bang Nga 44
2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chế định thi hành
hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 47
2.1.1. Thực tiễn thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 47
21.1.1. Thực tiễn xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành 47
2.1.2. Một số tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng chế định thi
hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 55
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
chỉ xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, lợi ích của
Nhà nước mà còn gây thiệt hại đến nền kinh tế, chính trị của đất nước, giảm
lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thậm chí, còn tạo cơ hội cho
các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Trước tình hình đó, đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phải có sự
quan tâm đúng mức và đề ra những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm ngăn chặn,
phòng ngừa và đẩy lùi tình hình tội phạm nói trên. Để đáp ứng yêu cầu đó,
trước hết các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện các quy định của
pháp luật về hình phạt và thi hành hình phạt phù hợp, đảm bảo xử lý kịp thời,
nghiêm minh và hiệu quả nhất. Một trong những chế định pháp luật liên quan
đến hình phạt mà chúng ta cần quan tâm hàng đầu là vấn đề hoàn thiện các
quy định về thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự ở nước ta giai
đoạn hiện nay.
Mặt khác, do tính chất đặc biệt là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằm
tước bỏ quyền sống của người bị kết án nên thi hành hình phạt tử hình đang là
một vấn đề quan trọng được cả nhân loại quan tâm. Hiện nay, không chỉ ở
Việt Nam mà trên thế giới cũng đang có rất nhiều quan điểm tranh luận xoay
quanh vấn đề có nên duy trì hay xóa bỏ hình phạt tử hình. Dựa trên những cơ
11
sở nào để nước ta thi hành hình phạt tử hình, những bất cập và giải pháp hoàn
thiện công tác thi hành án tử hình trong giai đoạn hiện nay để có thể đảm bảo
yêu cầu phòng chống tội phạm ở Việt Nam trong thời gian tới và phù hợp với
xu thế phát triển chung của thế giới? Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng mà
chúng ta cần nghiên cứu, giải quyết.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, em xin chọn vấn đề “Hoàn thiện các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thi hành hình phạt tử
hình. So sánh với một số nước trên thế giới” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
cho mình. Do những hạn chế nhất định về mặt lý luận cũng như thực tiễn nên
có thể khóa luận của em vẫn còn một số chỗ chưa thật sự chính xác và đầy đủ.
Về mặt lý luận, khóa luận trình bày các nội dung sau:
Khái niệm, đặc điểm thi hành hình phạt tử hình.
Các hình thức thi hành hình phạt tử hình và ý nghĩa của chế định thi
hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta.
Trình bày, phân tích, đánh giá một cách sâu sắc về chế định thi hành
hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự hiện hành, rút ra những điểm mới,
điểm tiến bộ của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 so với Bộ Luật Tố tụng
hình sự 2003 về vấn đề thi hành hình phạt tử hình.
Trình bày, phân tích các quy định của pháp luật hình sự ở một số nước
trên thế giới về vấn đề thi hành hình phạt tử hình, kết hợp so sánh, đối chiếu
với các quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhằm
rút ra những ưu điểm, hạn chế góp phần hoàn thiện chế định thi hành hình
phạt tử hình trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Về phương diện thực tiễn, tác giả khóa luận xin trình bày các vấn đề sau:
Phân tích, làm sáng tỏ những thành quả, những bất cập trong thực tiễn
thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số nước trên thế giới; tìm ra
những nguyên nhân dẫn đến các bất cập đó.
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp
luật thi hành án hình sự nói chung, chế định thi hành án tử hình nói riêng.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
13
* Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận về thi
hành hình phạt tử hình, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về thi
hành hình phạt tử hình, đặc biệt là những nét mới, tiến bộ của Luật thi hành án
hình sự năm 2010 và thực tiễn áp dụng; đồng thời tác giả kết hợp nghiên cứu
các vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong pháp luật hình sự ở
một số nước trên thế giới để từ đó so sánh, đối chiếu nhằm rút ra những kinh
nghiệm góp phần hoàn thiện chế định thi hành hình phạt tử hình ở nước ta.
* Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
Khóa luận nghiên cứu chế định thi hành hình phạt tử hình dưới góc độ
trên thế giới. Để từ đó, làm sáng tỏ vấn đề nên hay không nên thi hành hình
phạt tử hình hiện nay; đồng thời góp phần hoàn thiện chế định thi hành hình
phạt tử hình ở Việt Nam sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước và yêu cầu
phòng chống tội phạm. Vì vậy, khóa luận này có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung;
khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học luật thi hành án hình sự, khoa học kỹ
thuật hình sự,… và tội phạm học nói riêng.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm có 3 chương sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung về thi hành hình phạt tử hình.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
Chương 3. Một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thi hành hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay.
15
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
1.1. Khái quát chung về thi hành hình phạt tử hình
1.1.1. Khái niệm thi hành hình phạt tử hình
Để có thể hiểu một cách sâu sắc về khái niệm thi hành hình phạt tử
hình, trước hết cần phải làm rõ khái niệm hình phạt tử hình.
Trong hệ thống hình phạt được quy định trong luật hình sự Việt Nam,
tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất của
Nhà nước đối với người phạm tội, bởi lẽ nó cướp đi quyền sống của người bị
kết án, loại bỏ sự tồn tại của họ trong xã hội. Theo quy định tại Điều 35, Bộ
Luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) của Nước Cộng
Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng
mạng sống của người bị kết án. Vì vậy, nếu như thi hành không đúng đối
tượng bị kết án thì sai lầm này không thể khắc phục được.
Thứ ba, việc thi hành hình phạt tử hình không những tước đi mạng sống
của người bị kết án mà còn gây đau thương mất mát cho người thân của họ,
đồng thời còn gây tâm lí tiêu cực nhất định lên những cá nhân trực tiếp thực
hiện việc thi hành án tử hình. Đây là đặc điểm chúng ta cần lưu ý khi thực hiện
công tác tư tưởng đối với người thân của người bị kết án cũng như đối với cán
bộ chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tước bỏ sinh mạng của người bị kết án.
1.1.3. Các hình thức thi hành hình phạt tử hình
Hình thức thi hành hình phạt tử hình là cách thức tước bỏ sự sống của
người bị kết án tử hình do cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền thực hiện
theo một trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, loài người đã thi hành nhiều hình
thức tử hình. Việc thi hành hình phạt tử hình nào cho phù hợp, phụ thuộc
nhiều vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia. GS.TS người
Nga A.Ph.Kixthiacopxki đã dày công nghiên cứu về những hình thức thi hành
hình phạt tử hình trong lịch sử và đưa ra 21 hình thức thi hành hình phạt này
17
chủ yếu đã được loại người áp dụng như sau: 1) Treo cổ; 2) Chặt đầu; 3) Đun
trong vạc dầu; 4) Dùng bánh xe cán chết; 5) Xé xác người bị kết án thành
những mảnh nhỏ; 6) Lột da cho đến chết; 7) Chôn sống; 8) Bóp cổ hoặc làm
cho chết ngạt trong bao tải; 9) Thiêu chết; 10) Mổ bụng, moi ruột; 11) Cho
ngồi lên cọc nhọn hoặc dùng cọc nhọn đâm thủng người; 12) Đốt cổ họng
bằng chì đun sôi; 13) Đẩy người bị kết án từ đỉnh núi xuống vực; 14) Thắt cổ;
15) Voi dày, ngựa xéo; 16) Quăng cho hổ báo ăn thịt; 17) Dùng đá ném đến
chết; 18) Cho chết đói chết khát; 19) Đầu độc chết; 20) Dùng gậy đánh chết;
21) Xử bắn.
Hiện nay trên thế giới, pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định bảy
hình thức thi hành hình phạt tử hình như sau:
Xử bắn: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình mang tính phổ biến
một số trường hợp phải sau từ 10 đến 15 phút người bị thi hành án mới chết.
Dùng hơi ngạt: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình áp dụng từ
những năm 30 của thế kỉ XX. Người bị kết án được buộc vào một chiếc ghế
trong một phòng được thiết kế hoàn toàn bằng thép, ở ngực người bị kết án,
người ta gắn một ống nghe của bác sĩ và dây cao su dẫn tới phòng bên để bác
sĩ theo dõi nhịp tim của bị án. Dưới ghế ngồi của bị án được đặt 16 viên thuốc
độc (Xianua). Khi cánh cửa thép được đóng lại, người ta cho chạy thiết bị làm
những viên thuốc độc được hòa vào dung dịch axít, thuốc độc bốc thành khói,
làm ngạt thở người bị kết án, từ đó dẫn đến tim ngừng đập. Hình thức này bị
coi là phức tạp và khá tốn kém.
Tiêm thuốc độc: Đây là hình thức thi hành hình phạt tử hình, trong đó
người bị kết án bị buộc vào một cái cáng, được đưa vào một phòng kín, rồi bị
tiêm thuốc độc vào bắp thịt. Hình thức này được áp dụng lần đầu tại Hoa kỳ
năm 1977. Khi bị tiêm thuốc độc mạnh vào mạch máu, người bị kết án sẽ bị
chết trong khoảng thời gian từ 32 giây đến một phút. Tuy nhiên đã xảy ra một
số trường hợp người bị kết án không chết ngay do dụng cụ truyền chất độc
trượt khỏi mạch máu hoặc thuốc độc không đủ mạnh khi pha chế. Hình thức
tử hình này được coi là nhân đạo và tiết kiệm hơn cả, được 34 bang của Hoa
19
Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam và một số nướckhác trên thế giới áp dụng.
1.1.4. Ý nghĩa của chế định thi hành hình phạt tử hình trong pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, sau đó là BLTTHS năm 2003
và LTHAHS năm 2010 của nước ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to
lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kĩ thuật lập pháp tố tụng hình sự của
nước ta. Việc nhận thức và áp dụng đúng đắn chế định thi hành hình phạt tử
hình trong thực tiễn là hết sức quan trọng cho việc đảm bảo thực hiện nguyên
tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong lĩnh vực thi hành án hình sự,
nhằm thi hành hình phạt tử hình đúng người, đúng tội, không để xảy ra oan,
chung hình thức thi hành án tử hình vẫn là xử bắn. Hình thức xử bắn có tác
dụng răn đe tội phạm, tuyên truyền và phòng ngừa tội phạm cao. So với các
hình thức tử hình trước đây và một số phương thức tử hình hiện hành ở các
nước, xử bắn đã thể hiện sự tiến bộ và mang tính nhân bản hơn nhiều. Tuy
nhiên, hình thức tử hình này không nhân đạo và khoan hồng ở chỗ làm cho thi
thể bị cáo không còn nguyên vẹn, và ảnh hưởng nhiều đến tâm lí, tư tưởng
cán bộ thi hành án. Số cán bộ, công an đã tham gia xử bắn nhiều hoặc xử bắn
các bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được giao trói, bịt mắt, nhét giẻ vào mồm bị cáo,
hoặc được giao bắn viên đạn cuối cùng vào thái dương phạm nhân đều bị ảnh
hưởng đến tâm lí rất nhiều.
Trong phạm vi bài khóa luận của mình, tác giả xin phép chỉ phân tích rõ
chế định thi hành hình phạt tử hình đang được áp dụng ở nước ta hiện nay, kể
từ khi LTHAHS năm 2010 ra đời. Vấn đề này được quy định trong BLHS
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLTTHS năm 2003, LTHAHS năm
2010 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Cụ thể như sau:
1.2.1. Điều kiện áp dụng và thi hành hình phạt tử hình
Theo quy định tại Điều 35 BLHS hiện hành: “Tử hình là hình phạt đặc
biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm
tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi
21
phạm tội hoặc khi bị xét xử.
Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi
con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình được chuyển
xuống tù chung thân” [2, Tr 64].
Như vậy, theo quy định trên, hình phạt tử hình được áp dụng khi đáp
ứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng do tính chất đặc biệt của hình phạt tử hình như đã phân
tích ở trên. Tuy nhiên, không có nghĩa là bất kỳ người nào phạm tội đặc biệt
độ cá nhân, tác giả cho rằng không thể sửa luật để tử hình vì như thế là vi
phạm nguyên tắc pháp chế XHCN. Theo luật định, việc xử lý người chưa
thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,
phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là nguyên
tắc bao trùm mang tính chất chỉ đạo thể hiện chính sách hình sự của Đảng và
Nhà nước Việt Nam lấy giáo dục làm nền tảng, trọng tâm trong quá trình xử
lý vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên.
* Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Việc kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình đối với
phụ nữ được thực hiện trước khi ra quyết định thi hành hình phạt tử hình và
trước khi thi hành hình phạt tử hình. Trường hợp khi xét xử Tòa án không
phát hiện bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
nên vẫn tuyên bản án tử hình đối với họ, nhưng trước khi thi hành án, Hội
đồng thi hành án lại phát hiện người bị kết án có các điều kiện quy định tại
Điều 35 BLHS năm 1999, thì Hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo
cáo Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị
kết án. Cơ sở lý luận của quy định này là đặc điểm tâm sinh lý của phụ nữ có
thai hoặc đang nuôi con nhỏ, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điều
khiển hành vi. Mặt khác, nếu chúng ta xử bà mẹ tội chết thì đứa con cũng
chấm dứt sự sống. Như vậy quả là một việc làm không công bằng cho đứa
23
trẻ. Trong trường hợp người phụ nữ đang nuôi con nhỏ, nếu xử bà mẹ tội
chết, mặc dù không tước đi mạng sống của đứa trẻ nhưng sẽ tước đi nguồn
nuôi sống cơ bản của nó.
Ngoài việc nghiên cứu điều kiện áp dụng hình phạt tử hình chúng ta
cũng cần chú ý đến điều kiện thi hành án tử hình. Theo quy định tại Khoản 1-
Điều 256 BLTTHS năm 2003 thì “Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản
án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản
LTHAHS năm 2010. Theo quy định của LTHAHS năm 2010, Hội đồng thi
hành án tử hình (HĐTHATH) sẽ do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã
ra quyết định thi hành án tử hình làm chủ tịch Hội đồng. Sau khi thành lập
HĐTHATH, ngoài việc đảm nhận vai trò chủ trì công tác chuẩn bị, Chủ tịch
HĐTHATH còn phải triệu tập họp công bố các quyết định có liên quan đến
việc thi hành án tử hình, quyết định thời gian thi hành án, những nội dung cần
giữ bí mật, các điều kiện đảm bảo việc tổ chức thực hiện kế hoạch thi hành
án; địa điểm mai táng đối với các trường hợp không được nhận hoặc không đề
nghị nhận tử thi.
**Viện Kiểm sát: Là cơ quan có nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt
động thi hành án hình sự nói chung, thi hành án tử hình nói riêng. Trong đó,
vai trò trọng tâm của Viện kiểm sát ở đây là kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong toàn bộ hoạt động thi hành án tử hình của các cơ quan tham gia vào hoạt
động thi hành án tử hình theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Chương IV,
LTHAHS năm 2010. Bên cạnh đó, trong quá trình thi hành án tử hình, Viện
kiểm sát phải cử đại diện là Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng hoặc Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tham gia HĐTHATH. Trong quá trình
tham gia vào HĐTHATH, đại diện Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ kiểm sát
việc tuân theo pháp luật nhằm mục đích sau:
Thứ nhất, nhằm đảm bảo việc kiểm tra căn cước của người bị kết án
trước khi thi hành án. Nếu người bị kết án là phụ nữ thì phải đảm bảo kiểm tra
các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành hình phạt tử hình quy định
tại Điều 35 BLHS.
25