Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẰNG
VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM NĂM 2004

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Công Bình

HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hằng


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT
THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ
6
1.1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc Viện kiểm sát tham
gia tố tụng dân sự
6
1.1.1.
Khái niệm việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự
6
1.1.2.
Đặc điểm của việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự
8
1.1.3.
Ý nghĩa của việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự
11
1.2.
Cơ sở của việc pháp luật quy định Viện kiểm sát tham gia tố
tụng dân sự
13
1.2.1.
Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định Viện kiểm sát tham
gia tố tụng dân sự
13
1.2.2.
Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định Viện kiểm sát
tham tố tụng dân sự
15
1.3.
Sơ lược sự hình thành và phát triển các quy định của pháp

2.1.2.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm
34
2.2.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm
36
2.2.1.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
36
2.2.2.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải
quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm
44
2.3.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm
45
2.3.1.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự
46
2.3.2.
Viện kiểm sát tham gia tố tụng trong thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm quyết định giải quyết việc dân sự
49

Chương 3: THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG

82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
84

7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự
KSV
: Kiểm sát viên
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TTDS
: Tố tụng dân sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao 8

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân,
do dân, vì dân. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới,
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Để góp phần thực hiện được các mục tiêu đó, một trong những
nhiệm vụ quan trọng hiện nay của Nhà nước ta là phải hoàn thiện hệ thống
pháp luật, đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp nhằm
đảm bảo cho các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói
riêng hoạt động hiệu quả.
Trong lĩnh vực tư pháp, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây
gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW) đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện
tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp" [6]. Ngày 15 tháng 6 năm 2004, tại Kỳ hợp thứ 5
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Đây là BLTTDS đầu tiên của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có quy định các vấn đề vai trò, nhiệm
vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong tố tụng dân sự
(TTDS). Bộ luật này điều chỉnh theo hướng hạn chế thẩm quyền tham gia
TTDS của VKSND, đề cao nguyên tắc quyền tự quyết định của đương sự
trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy vậy, qua thực hiện Bộ luật này cho thấy
trong điều kiện hệ thống pháp luật Việt Nam còn bất cập, người dân còn gặp
khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, đội ngũ cán bộ xét xử và đội ngũ Luật sư cũng chưa đáp ứng được yêu

10
cầu v.v thì việc hạn chế việc tham gia TTDS của VKSND lại không phù
hợp. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việc vi phạm pháp
luật trong giải quyết các vụ việc dân sự vẫn xảy ra. Nghị quyết số 49-NQ/TW

quy

n và trách nhi

m c

a Vi

n ki

m sát

nhân dân trong B


lu

t t

t

ng dân
sự" của Tiến sĩ Khuất Văn Nga đăng trên Thông tin
Khoa học kiểm sát năm 2004; bài "Quy định về tham gia phiên tòa, phiên họp
giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân và hướng sửa đổi, bổ
sung theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân
sự" của Tiến sĩ Hoàng Thị Quỳnh Chi, đăng trên Thông tin Khoa học kiểm sát
năm 2010; bài "Nghiên cứu các chủ trương của Đảng về vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự và sự thể chế hóa trong pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ" của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, đăng

khái niệm, đặc điểm và vai trò của VKSND.
- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về VKSND
tham gia TTDS.
- Khảo sát thực tiễn hoạt động của VKSND tham gia TTDS, tìm ra các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của VKSND tham gia TTDS.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về VKSND
tham gia TTDS, các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS và
thực tiễn tham gia TTDS của VKSND. Ngoài ra, có nghiên cứu các quy định
của các văn bản pháp luật liên quan về VKSND tham gia TTDS để đối chiếu
tham khảo như các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS, Luật Tổ
chức VKSND và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS v.v
Trong khuôn khổ đề tài luận văn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu giới
hạn trong những vấn đề lý luận cơ bản về việc tham gia TTDS của VKSND
như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở tham gia TTDS của VKSND, các quy định của

13
BLTTDS về việc tham gia TTDS của VKSND và thực tiễn thực hiện chúng
trong những năm gần đây ở Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ngoài ra việc nghiên cứu còn sử dụng
kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích,
phân tích, phương pháp so sánh sánh, chứng minh tổng hợp
6. Tính mới và những đóng góp của việc nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về VKSND tham gia TTDS. Đánh giá
được thực trạng các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS.
- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong thực hiện các quy định của

hòa giải, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi
hành án. Từ đó có thể hiểu "tố tụng dân sự" là quá trình bao gồm các hoạt
động của Tòa án và VKSND trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Nếu
như luật tố tụng hình sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự thì luật tố tụng dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ phát sinh trong TTDS để đảm bảo việc giải quyết vụ việc
dân sự và thi hành án dân sự đúng đắn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước.
Ở Việt Nam, hệ thống VKSND ra đời từ năm 1960, xuất phát từ nhu
cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật phải được chấp

15
hành nghiêm chỉnh và thống nhất, vì lẽ trên phải tổ chức ra VKSND nhằm giữ
vững pháp chế Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh và thống nhất. Ngay từ ngày đầu mới thành lập, chức năng cơ
bản nhất của VKSND đã được xác định trong Luật tổ chức VKSND năm
1960 là "kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi
hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [17]. Đến nay, Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã xác định rõ vị trí, chức năng của
VKSND tại chương VIII, từ Điều 107 đến 109. Theo đó:
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất [26].
Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, việc tham gia TTDS
của VKSND nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng
đảm bảo cho tính pháp chế của các phán quyết của Tòa án, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nhà nước và các thành viên trong xã hội. Các hoạt động


c VKSND ki

m sát vi

c tuân theo pháp lu

t
đố
i
v

i các ho

t
độ
ng t
ố tụng giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án và
các hoạt động tham gia tố tụng
c

a nh

ng ng
ườ
i tham gia t

t

ng

t

i Tòa án.

1.1.2. Đặc điểm của việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì cơ quan tiến hành tố
tụng gồm TAND và VKSND. Tòa án là cơ quan xét xử, nhân danh nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc
dân sự. Trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng TAND phải thực hiện
đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Cùng là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng

17
hoạt động của VKSND hoàn toàn khác. VKSND thực hiện việc kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Tòa án, những người tiến hành tố tụng và những
người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS. Việc tham gia TTDS của
VKSND có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phải khẳng định việc VKS tham gia TTDS đã được ghi
nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là một
nguyên tắc cơ bản của TTDS.
Ngay từ Hiến pháp 1960, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa đã ghi nhận về chế định VKSND. Tuy vị trí chức năng của
VKSND trải qua các thời kỳ của Hiến pháp 1960, 1980, 1992 và mới nhất là
Hiến pháp năm 2013 có nhiều thay đổi, nhưng về cơ bản đều ghi nhận
VKSND có "nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước,
của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công
dân" [26]. Hiến pháp năm 2013 dành các Điều từ 107 đến 109 quy định về vị
trí, chức năng, nhiệm vụ và mô hình VKSND trong đó xác định chức năng
của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị (Điều 21 BLTTDS), kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc
dân sự của Tòa án, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia
tố tụng, kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án, tham gia phiên tòa, phiên
họp (Điều 45 BLTTDS), tiến hành thu thập chứng cứ {Điều 4 Thông tư liên tịch
số 04/2012/TTLT-VKSTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của VKSNDTC và Tòa
án nhân dân tối cao (TANDTC) về hướng dẫn thi hành một số quy định của
BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự (sau đây gọi
tắt là Thông tư liên tịch số 04/2012)}.

19
Thứ ba, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS phải
tuân theo những quy định của pháp luật về trình tự và thủ tục.
Vì hoạt động kiểm sát của VKSND nhằm mục đích bảo đảm hoạt
động của Tòa án, hoạt động của đương sự và những người tham gia tố tụng
khác phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm pháp chế xã
hội chủ nghĩa nên hoạt động kiểm sát của VKSND không nằm ngoài pháp
luật, phải tuân thủ quy định của pháp luật. Trước đây, khi BLTTDS chưa
được ban hành thì VKSND được tham gia các phiên tòa dân sự. Từ khi
BLTTDS được ban hành, pháp luật đã hạn chế sự tham gia phiên tòa của
VKSND trong các vụ án dân sự nên theo Điều 21 BLTTDS thì VKSND chỉ
tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà
đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án, các vụ việc dân sự mà VKSND kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.
Đến nay, khi Nhà nước ban hành Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS quyền tham
gia phiên tòa, phiên họp của VKSND đã được mở rộng hơn, cụ thể:
1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng
nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết
vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. 2. Viện kiểm sát nhân dân

hoạt động tố tụng, nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành
tố tụng trong giải quyết các vụ việc dân sự. BLTTDS quy định thẩm phán và
hội thẩm nhân dân khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, bên cạnh đó
là quy định quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Muốn đảm bảo
được những điều đó thì nhất thiết phải có sự kiểm sát của VKSND, bởi hoạt
động tố tụng của người tiến hành tố tụng do nhiều nguyên nhân khác nhau có
thể không được khách quan. Và nhiều khi vì lý do lịch sử để lại, không phải
người tiến hành tố tụng nào cũng nhận thức vấn đề giống nhau, do đó cần sự

21
giám sát của VKSND để đảm bảo cho hoạt động tố tụng đúng trình tự, thủ tục
pháp luật quy định.
Cuối cùng, hoạt động kiểm sát của VKSND trong TTDS đảm bảo cho
vụ việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và
kịp thời, đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ và đúng luật,
đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng. Sự tham gia của VKSND thể
hiện ở hoạt động kiểm sát của VKSND từ giai đoạn thụ lý hồ sơ, điều tra xác
minh thu thập chứng cứ đến xét xử. Tùy vào từng giai đoạn, từng nội dung
công việc cụ thể mà VKSND có quyền ra các văn bản đề nghị, kiến nghị, hay
kháng nghị nhằm giúp cho việc giải quyết vụ việc ở các cấp TAND được
nghiêm túc đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Thực tiễn sự tham
gia của VKSND trong TTDS cho thấy khi có văn bản đề nghị, kiến của
VKSND thì số lượng các vụ án quá hạn, kéo dài giảm đi đáng kể. Và khi
TAND khắc phục những thiếu sót theo ý kiến của VKSND cũng làm giảm
đáng kể vụ việc phải kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm.
Điều này không chỉ đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng mà còn giúp cho
vụ án được giải quyết nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật.
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT THAM
GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ
Những quy định pháp luật liên quan đến VKSND tham gia TTDS ra

dân sự. Hiến pháp năm 1959 ban hành đánh dấu sự ra đời của một loại hình
cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là cơ quan VKSND. Tại
Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc
Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên
cơ quan nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa

23
phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi
do luật định [16].
Đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 tuy có những bổ
sung, thay đổi về tổ chức, hoạt động của VKSND nhưng chức năng kiểm sát
các hoạt động tư pháp vẫn luôn được giao cho VKSND.
Qua sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW, Bộ Chính trị nêu
rõ, một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng xét xử các vụ án dân sự
thời gian qua còn thấp là do chưa có cơ chế giám sát, kiểm sát hiệu quả việc
giải quyết các vụ án này. Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ
Chính trị khẳng định: "Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay" [12]. Báo cáo chính trị
tại Đại hội XI yêu cầu "Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân
dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp" [10]. Nhiều đạo luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp được
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo hướng tăng cường vai trò giám sát
các hoạt động tư pháp của VKSND. Các văn bản pháp luật này đều khẳng
định một cách nhất quán yêu cầu của Đảng, Quốc hội phải tăng cường hơn
nữa vai trò, trách nhiệm của VKSND trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trên tất cả các lĩnh vực tư pháp.
Đảng ta đã khẳng định xây dựng nhà nước pháp quyền là vấn đề có
tính quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, một trong

tình hình đó, VKS các cấp đã tập trung kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết các
tranh chấp dân sự về đất đai, nhà ở, về quyền sở hữu tài sản, về hôn nhân và
gia đình, về kinh doanh, thương mại, lao động…
- Từ 2002 đến 31/12/2004, thực hiện Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 2002, VKS các cấp đã
khởi tố 104 vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; yêu cầu Tòa án xác minh bổ

25
sung chứng cứ hoặc tự mình xác minh bổ sung chứng cứ hàng nghìn vụ án;
tham gia 100% các phiên tòa xét xử vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình của
Tòa án. Qua hoạt động kiểm sát đã phát hiện nhiều vi phạm pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án. VKS đã kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm 1165 vụ; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 484 vụ. Qua
đó, đã góp phần bảo đảm việc giải quyết các vụ việc đúng pháp luật.
- Từ 01/01/2005, khi BLTTDS có hiệu lực, nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS trong tố tụng dân sự có sự thay đổi cơ bản so với Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 2002. Theo
đó, VKS không thực hiện thẩm quyền khởi tố các vụ án dân sự, không tham
gia 100% các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự, không xác
minh, thu thập chứng cứ Thực hiện các quy định này, VKSNDTC đã chỉ đạo
toàn ngành chuyển trọng tâm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc
dân sự, tập trung vào kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án [2].
Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS mở rộng phạm vi tham gia các phiên tòa
xét xử vụ án dân sự của VKS và mở rộng phạm vi kiểm sát đối với cả việc Tòa
án trả lại đơn khởi kiện của đương sự. Cùng với việc sửa đổi BLTTDS, Quốc
hội cũng đã ban hành Luật tố tụng hành chính, thay thế Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính năm 1996 mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong
việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, trách nhiệm của VKSND trong
kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính cũng tăng lên nhiều so với trước.
Căn cứ vào các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và bám


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status