Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Công Bình HÀ NỘI - 2013 3

Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn


6
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
6
1.1.1.
Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
6
1.1.2.
Các đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
11
1.2.
Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
19
1.3.
Khái quát sự phát triển các quy định của pháp luật tố tụng Việt
Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự từ năm 1945
đến nay
23
1.3.1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
23
1.2.2.
Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988
25
1.2.3.
Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2003
27
1.2.4.
Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
31

60
2.2.7.
Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác
61

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004 VỀ CHUẨN BỊ
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
67
3.1.
Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
67
3.1.1.
Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định của
pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
67
3.1.2.
Những tồn tại trong việc thực hiện các quy định của pháp luật
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
69
3.2.
Các yêu cầu và kiến nghị hoàn thiện, thực hiện các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự
76
3.2.1.
Các yêu cầu của việc hoàn thiện và thực hiện Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử vụ án dân sự
76

TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
VADS
: Vụ án dân sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao 7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng dân sự (TTDS), đáp ứng yêu
cầu của việc giải quyết các vụ việc dân sự trong điều kiện mới và quán triệt
chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp
ở nước ta, tại kỳ họp thứ 5, ngày 15/06/ 2004 Quốc hội khoá XI đã thông qua
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS). BLTTDS đã pháp điển hóa và
thống nhất ba loại hình tố tụng được quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải
quyết vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm
1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996. Tuy
nhiên, khi triển khai thi hành Bộ luật này cho thấy nhiều quy định còn bất cập
như có vấn đề quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng dẫn đến những cách hiểu
khác nhau, áp dụng tại các Tòa án không thống nhất; có những quy định mâu
thuẫn với các quy định của các văn bản pháp luật khác, chưa phù hợp với thực
tế, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự v.v… Nhằm khắc

dân sự theo thủ tục sơ thẩm", của Nguyễn Minh Hằng, bảo vệ tại Trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2003, bài "Xác định địa vị tố tụng của đương sự và
đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự", của Nguyễn Thế Giai, đăng trên Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000 v.v… Nhưng do các đề tài này được thực
hiện trước khi có BLTTDS nên đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các quy định
của Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS và thực tiễn thực hiện chúng. Sau khi
BLTTDS được ban hành, có đề tài cấp Bộ "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam hiện nay", do Viện Nhà nước và Pháp
luật của Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện năm 2010; luận án Tiến sĩ
luật học "Giai đoạn giải quyết sơ thẩm vụ án kinh tế theo pháp luật Việt
Nam", của Đoàn Đức Lương, bảo vệ tại Viện Nhà nước và Pháp luật năm
2006; bài "Chứng cứ và chứng minh - Sự thay đổi nhận thức trong pháp luật

9
tố tụng dân sự Việt Nam", của Tưởng Duy Lượng, cho Hội thảo: "Bộ luật tố tụng
dân sự - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành", Học
viện Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 25/12/2004 v.v… Tuy nhiên, do mục
đích nghiên cứu các công trình này chưa đề cập một cách đầy đủ và hệ thống
các vấn đề liên quan đến CBXXST VADS, mới chỉ nghiên cứu và đề xuất
tháo gỡ một số vấn đề bất cập riêng lẻ của CBXXST VADS, nhiều vấn đề có
ý nghĩa quan trọng đối với CBXXST VADS vẫn chưa nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ được các vấn đề về
CBXXST VADS theo quy định của BLTTDS, từ đó phát hiện được những
hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS về CBXXST VADS, những
tồn tại trong việc thực hiện chúng tại các Tòa án và tìm ra các giải pháp nhằm
hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chúng trên thực tế.
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài luận văn
có những nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận các quy định của BLTTDS về

của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Quá trình nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học chuyên ngành truyền thống như phương pháp lịch sử, phương
pháp phân tích, phương pháp so sánh và tổng hợp. Ngoài ra, phương pháp
thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành việc nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý có hệ thống
các vấn đề về CBXXST VADS theo quy định của BLTTDS. Ý nghĩa khoa học
của việc nghiên cứu đề tài luận văn thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

11
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về CBXXST VADS như khái niệm, ý
nghĩa của CBXXST VADS, sự phát triển các quy định của pháp luật TTDS
Việt Nam về chuẩn bị xét xử VADS;
- Làm rõ được nội dung các quy định của BLTTDS và Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của BLTTDS về CBXXST VADS;
- Phát hiện được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS
và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS về CBXXST VADS;
- Tìm được các giải pháp hoàn thiện và thực hiện các quy định của
BLTTDS về CBXXST VADS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 2: Nội dung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị.

của pháp luật TTDS. Dưới góc độ là một giai đoạn tố tụng, sơ thẩm VADS là

13
khâu đầu tiên của quá trình xét xử VADS. Dưới góc độ là một thủ tục TTDS,
sơ thẩm là cách thức, trình tự giải quyết VADS lần đầu của Tòa án. Dưới góc
độ là một chế định của pháp luật TTDS, sơ thẩm dân sự được hiểu là một bộ
phận của pháp luật TTDS, là tổng hợp các quy phạm pháp luật TTDS về nguyên
tắc, thủ tục xét xử lần đầu VADS; về quyền, nghĩa vụ của Tòa án, các bên
đương sự và những chủ thể khác tham gia vào việc xét xử VADS.
Thủ tục sơ thẩm VADS bao gồm nhiều thủ tục khác nhau như khởi
kiện, thụ lý, CBXXST VADS và phiên tòa sơ thẩm VADS. Khởi kiện VADS
là thủ tục đầu tiên của TTDS, trong đó người có quyền, lợi ích hợp pháp bị
xâm hại hoặc được pháp luật quy định yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước. Tiếp theo khởi kiện VADS là việc thụ lý VADS của Tòa án,
trong đó Tòa án xem xét các điều kiện để giải quyết VADS và ghi nhận trách
nhiệm của mình đối với việc giải quyết VADS. Khởi kiện và thụ lý VADS là
tiền đề cho các thủ tục tố tụng tiếp theo. Kể từ thời điểm thụ lý VADS sẽ phát
sinh quyền, nghĩa vụ của Tòa án trong việc giải quyết VADS. Và để giải quyết
VADS tại phiên tòa sơ thẩm có hiệu quả Tòa án phải tiến hành CBXXST VADS.
Để giải quyết toàn diện, triệt để và đúng đắn VADS, trong tất cả các
VADS một mặt Tòa án phải xác định đúng được các yêu cầu của đương sự,
bao gồm yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, yêu cầu phản tố của Bị đơn và
yêu cầu của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trên cơ sở đó, Tòa án xác
định đúng, đầy đủ các quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong
VADS, thành phần đương sự và tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong
VADS. Mặt khác, Tòa án cũng phải có đầy đủ các chứng cứ, tài liệu để làm
sáng tỏ các tình tiết, sự kiện liên quan đến VADS.
Trong TTDS, đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung
tranh chấp, là người đưa ra yêu cầu cho Tòa án giải quyết và việc giải quyết

một bên coi là chứng cứ hoặc những tài liệu nào được các bên coi là chứng cứ
để Tòa án đưa ra trong vụ kiện. Ở những nước theo loại hình tố tụng xét hỏi,
thì đề cao vai trò của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ việc nên Thẩm phán

15
có quyền chủ động quyết định áp dụng mọi biện pháp thu thập chứng cứ pháp
luật cho phép. Chẳng hạn, theo pháp luật TTDS của Pháp thì trước khi mở
phiên tòa, Thẩm phán có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ. Tuy
vậy, các bên đương sự vẫn có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện các biện
pháp thu thập chứng cứ và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không
giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ.
Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS, về nguyên tắc các đương
sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và Tòa án có quyền thu thập chứng cứ
trong những trường hợp cần thiết, nên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án
có quyền chủ động thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ. BLTTDS ra
đời, với xu hướng đề cao vai trò chứng minh của đương sự nên Điều 85
BLTTDS quy định Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trường
hợp đương sự không thể tự thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc
các trường hợp do pháp luật quy định. Sau một thời gian thực hiện, quy định
về vấn đề này của BLTTDS đã được Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của BLTTDS sửa đổi theo hướng giao quyền chủ động thu thập
chứng cứ hơn của Tòa án như:
1. Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu
cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. 2. Trong các trường
hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc
một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ [26].
Như vậy, trước khi đưa VADS ra xét xử tại phiên tòa thì Tòa án phải
tiến hành các hoạt động tố tụng như nghiên cứu đơn khởi kiện và các chứng cứ,
tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện, đánh giá sơ bộ các chứng cứ, tài liệu gửi

người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quy
định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ để đảm bảo cho việc xét
xử VADS theo trình tự sơ thẩm.

17
- Nếu tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS với tính chất là một chế
định pháp luật thì CBXXST VADS là một chế định của pháp luật TTDS, bao
gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa Tòa án với những
người tham gia TTDS phát sinh trong quá trình giải quyết VADS vào thời
gian trước khi Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm.
Dù tiếp cận nghiên cứu CBXXST VADS dưới góc độ nào thì mục đích
của nó vẫn là để bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc tiến hành phiên tòa
sơ thẩm và được tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm. Trong khuôn khổ của luận
văn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu đề tài của tôi tiếp cận CBXXST VADS
dưới góc độ hoạt động TTDS. Trong đó, hoạt động CBXXST VADS là hoạt
động của Tòa án như hoạt động nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ
án, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử, triệu tập người tham gia phiên tòa v.v Từ đó, tôi cho
rằng nếu hiểu khái niệm CBXXST VADS dưới góc độ hoạt động TTDS bao
gồm cả những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng tiến hành như nêu trên là quá rộng và không chính xác. Vì
vậy, khái niệm CBXXST VADS phải được hiểu như sau: CBXXST VADS là
hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trên cơ sở quy định của
pháp luật tố tụng dân sự nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự.
1.1.2. Các đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Khi việc khởi kiện VADS đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện cả
về nội dung và hình thức khởi kiện thì Tòa án sẽ thụ lý VADS. Sau khi thụ lý
VADS thì Tòa án phải tiến hành giải quyết VADS thông qua việc hòa giải
hay xét xử vụ án. CBXXST VADS nhằm tạo những điều kiện cần thiết cho

người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa v.v… Tất cả các hoạt động này
đều được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật và với mục đích nhằm
bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc xét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm.

19
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý
VADS và kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử VADS.
Theo quy định của pháp luật TTDS thì thời hạn giải quyết VADS
không phải là vô hạn, trong một thời hạn nhất định Tòa án phải mở phiên tòa
để xét xử vụ án. Vì vậy, để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ án thì
ngay khi thụ lý VADS Tòa án đã phải tiến hành các công việc CBXXST
VADS như nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu do đương sự cung cấp ban đầu
để xác định yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ
án, thành phần đương sự, các chứng cứ, tài liệu cần thiết cho việc giải quyết
vụ án v.v…Mặt khác, khi phiên tòa sơ thẩm đã mở thì việc xét xử đã được
thực hiện, các hoạt động của Tòa án chỉ tập trung vào việc xét xử vụ án. Do
đó, CBXXST VADS sẽ kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử VADS.
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có mối liên hệ và là hệ quả của việc
thụ lý vụ án, là tiền đề của việc xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm.
Khi thụ lý VADS, Tòa án mới có trách nhiệm giải quyết VADS. Vì thế,
CBXXST VADS có mối quan hệ mật thiết với thụ lý VADS và là hệ quả của
việc thụ lý VADS, chỉ được tiến hành sau khi Tòa án đã thụ lý VADS. Đối với
những trường hợp việc khởi kiện không đáp ứng được các điều kiện do pháp
luật quy định không được Tòa án chấp nhận thụ lý, thì Tòa án không có trách
nhiệm giải quyết nên không phải tiến hành các công việc CBXXST VADS.
Để tạo các điều kiện cần thiết để tiến hành xét xử VADS tại phiên tòa
sơ thẩm có hiệu quả thì Tòa án phải tiến hành các công việc CBXXST VADS.
Vì vậy, CBXXST VADS không những chỉ có mối quan hệ với thụ lý VADS
mà còn có mối quan hệ mật thiết với phiên tòa sơ thẩm và là tiền đề của việc
xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm. Theo đó, Tòa án chỉ có thể tiến hành xét

sơ thẩm lập để giải quyết lại vụ án, trường hợp thiếu chứng cứ, tài liệu thì mới
bổ sung. Các hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS chỉ tập trung vào
phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị và những phần liên quan

21
đến kháng cáo, kháng nghị. Nếu bản án, quyết định sơ thẩm có căn cứ thì cấp
phúc thẩm y án sơ thẩm, nếu việc xây dựng hồ sơ vụ án của cấp sơ thẩm chưa
đầy đủ, nhiều thiếu sót thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, quyết
định sơ thẩm giao cho Tòa án sơ thẩm xét xử lại.
Ngoài việc lập hồ sơ VADS, Tòa án có thể tiến hành nghiên cứu các
tài liệu, chứng cứ của VADS và bước đầu đánh giá chứng cứ để nhận thức sự
thật khách quan VADS. Khi thấy đủ các điều kiện xét xử VADS, Tòa án ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ vào quyết định
đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án tiến hành triệu tập những
người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa sơ thẩm và thực hiện các công
việc nghiệp vụ khác cần thiết như nghiên cứu pháp luật giải quyết vụ án, xây
dựng kế hoạch bảo vệ phiên tòa, chuyển hồ sơ vụ án cho VKS nghiên cứu v.v
Thứ hai, khác với chuẩn bị phiên họp giải quyết việc dân sự CBXXST
VADS gồm nhiều hoạt động phức tạp và công phu.
Thủ tục giải quyết việc dân sự lần đầu tiên được quy định tại BLTTDS.
Theo các quy định của BLTTDS thì thủ tục giải quyết việc dân sự có nhiều
điểm khác biệt với thủ tục giải quyết VADS và đơn giản hơn thủ tục giải
quyết VADS nên việc chuẩn bị phiên họp giải quyết việc dân sự của Tòa án
cũng đơn giản. Nói cách khác, như đã nêu trên CBXXST VADS gồm nhiều
hoạt động phức tạp và công phu hơn việc chuẩn bị phiên họp giải quyết việc
dân sự. Sở dĩ có sự khác nhau đó xuất phát từ chỗ:
- Trong việc dân sự các bên không có tranh chấp, chỉ yêu cầu Tòa án
xác định một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ
pháp luật giữa họ hay công nhận, không công nhận quyền nghĩa vụ dân sự của
họ. Tòa án có thể công nhận nếu yêu cầu đó là phù hợp hay không công nhận

theo pháp luật của VKS đối với hoạt động của những người tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc giải quyết việc
dân sự, thông thường là đơn giản hơn, nên BLTTDS quy định chỉ có một

23
Thẩm phán (khoản 2 điều 55 BLTTDS). Để tránh khả năng lạm quyền của
Thẩm phán đòi hỏi phải có sự kiểm sát chặt chẽ của VKS. Do đó, BLTTDS quy
định, đại diện VKS phải tham gia 100% các phiên họp giải quyết việc dân sự.
Thứ ba, khác với CBXXST vụ án hình sự, CBXXST VADS tiến hành
trên cơ sở yêu cầu của đương sự, việc thực hiện quyền tự định đoạt của
đương sự và do Tòa án thực hiện.
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được tiến hành trên cơ sở thực hiện
quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và vào
việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự.
Điều 7 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 tuyên bố:
"Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật
bảo vệ ngang nhau " [47]. Như vậy, việc bảo vệ các quyền của con người là
trách nhiệm của mỗi Nhà nước. Nhà nước với tư cách là đại diện cho lợi ích
của các giai cấp trong xã hội, thông qua pháp luật ghi nhận và thiết lập các
biện pháp pháp lý, bảo đảm việc bảo vệ quyền con người. Việc xét xử của
Tòa án là một trong các biện pháp Nhà nước thực hiện để bảo vệ quyền và lợi
ích của các chủ thể. Trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án hình sự là
giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội.
Cho nên, phiên tòa sơ thẩm hình sự được tiến hành trên cơ sở các quyết định
của các cơ quan tiến hành tố tụng. Còn việc giải quyết VADS là giải quyết
các quyền và nghĩa vụ dân sự chỉ liên quan đến cá nhân các đương sự. Vì thế,
các đương sự có quyền lựa chọn biện pháp phù hợp với pháp luật để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, khi thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án
là các bên đang thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình. CBXXST VADS chỉ phát sinh khi các chủ thể thực hiện

hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự. Hoạt động xác minh, thu thập
chứng cứ trong những trường hợp do pháp luật TTDS quy định chỉ nhằm bổ
sung cho hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ

25
chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
trong trường hợp họ không hoàn thành được nghĩa vụ chứng minh của mình
để bảo đảm việc giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn. Pháp luật
TTDS không quy định một cơ quan riêng có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ
VADS như trong tố tụng hình sự. Vì vậy, khác với chuẩn bị xét xử vụ án hình
sự, các công việc CBXXST VADS do Tòa án thực hiện.
Trong tố tụng hình sự, việc chuẩn bị xét xử vụ án hình sự cũng do Tòa
án tiến hành. Tuy nhiên, do tính chất và sự phức tạp của vụ án hình sự để giải
quyết đúng đắn vụ án hình sự, pháp luật tố tụng hình sự quy định việc giải
quyết vụ án hình sự với sự tham gia nhiều cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Theo quy định tại Điều 10 BLTTHS:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi
biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội
và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là
mình vô tội [22].
Do vậy, trong tố tụng hình sự các chuẩn bị xét xử vụ án hình sự được
thực hiện bởi nhiều cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án chỉ là một trong số các
cơ quan đó. Và Tòa án chỉ tiến hành chuẩn bị xét xử vụ án hình sự cũng khi
cơ quan điều tra đã lập xong hồ sơ vụ án hình sự và đã được VKS phê chuẩn.
Tòa án chỉ nghiên cứu hồ sơ vụ án mà tiến hành các hoạt động tố tụng để lập
hồ sơ vụ án như trong CBXXST VADS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status