Báo cáo " Một số bất cập trong quy định của bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn điều tra và tạm giam để điều tra " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 11/2010 37
PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn *
1. iu tra v ỏn hỡnh s l hot ng t
tng khụng th thiu c trong quỏ trỡnh
gii quyt v ỏn hỡnh s. BLTTHS khụng
quy nh c th th no l thi hn iu tra
nhng cn c vo quy nh ti iu 119
BLTTHS cú th hiu rng thi hn iu tra
l thi hn do phỏp lut quy nh m trong
khong thi gian ú c quan cú thm quyn
tin hnh cỏc bin phỏp iu tra nhm xỏc
nh v lm rừ nhng vn cn phi
chng minh c quy nh ti iu 63
BLTTHS cng nh cỏc tỡnh tit khỏc cú liờn
quan n vic gii quyt ỳng n v ỏn
hỡnh s. Thi hn iu tra c tớnh t khi
cú quyt nh khi t v ỏn hỡnh s (k c
trng hp v ỏn do cỏc c quan khỏc ra
quyt nh khi t nh n v b i biờn
phũng, hi quan, kim lõm chuyn n)
cho n khi c quan iu tra lm bn kt
lun iu tra ngh truy t hoc ỡnh ch

m cha th kt thỳc vic iu tra thỡ Vin
trng Vin kim sỏt nhõn dõn ti cao cú th
gia hn thờm mt ln na khụng quỏ bn
thỏng. i vi cỏc ti xõm phm an ninh
quc gia thỡ Vin trng Vin kim sỏt nhõn
dõn ti cao cú th gia hn thờm mt ln na
khụng quỏ bn thỏng.
Khi ó ht thi hn iu tra m khụng
chng minh c b can ó thc hin ti
* Ging viờn chớnh Khoa lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
38 t¹p chÝ luËt häc sè 11/2010

phạm thì cơ quan điều tra phải ra quyết
định đình chỉ điều tra. Theo quy định trên
thì thời hạn điều tra tối đa đối với tội phạm
ít nghiêm trọng là không quá bốn tháng;
đối với tội phạm nghiêm trọng là không
quá tám tháng; đối với tội phạm rất nghiêm
trọng là không quá mười hai và đối với tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng là không quá
mười sáu tháng. Đối với những trường hợp
theo quy định tại khoản 5 Điều 119
BLTTHS thì thời hạn điều tra có thể là hai
mươi tháng.
Thời hạn Tội phạm ít
nghiêm trọng

Không quá

4 tháng
Gia hạn điều tra lần 2 x
Không quá

2 tháng
Không quá

4 tháng
Không quá

4 tháng
Gia hạn điều tra lần 3 x x x
Không quá

4 tháng
Viện trưởng
VKSNDTC gia hạn thêm

x x x
Không quá

4 tháng
Tổng cộng 4 tháng 8 tháng 12 tháng 20 tháng

Theo quy định trên có thể thấy rằng thời
hạn điều tra được xác định theo sự phân loại
tội phạm chứ không phải theo sự phức tạp
của vụ án hình sự. Và như vậy, trong trường

vi phạm tội tại cùng một thời điểm thì thời
hạn điều tra vụ án được xác định là thời hạn
điều tra đối với tội nặng nhất trong vụ án.
(2)

Tuy nhiên, cơ quan điều tra có thể gia
hạn điều tra theo quy định của pháp luật. Các
nhà làm luật đã coi “tính chất phức tạp” của
vụ án là vụ án có nhiều bị can hay bị can
phạm nhiều tội làm căn cứ xác định để cơ
quan điều tra đề nghị viện kiểm sát gia hạn
điều tra khi xét thấy cần thiết và không thể
hoàn thành sớm việc điều tra theo quy định
tại khoản 1 Điều 119 BLTTHS.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho
rằng vụ án có tính chất phức tạp không nhất
thiết có ở tất các các vụ án mà bị can phạm
nhiều tội hay nhiều bị can cùng thực hiện
một tội phạm. Đối với vụ án có một bị can
và bị can chỉ thực hiện một tội cũng có thể là
vụ án phức tạp. Do vậy không nên hiểu và
đồng nghĩa vụ án có tính chất phức tạp với
vụ án có nhiều bị can hay vụ án mà bị can
phạm nhiều tội. Nếu tính thời hạn điều tra
như hiện nay thì trường hợp cơ quan có thẩm
quyền đã khởi tố bị can về một tội phạm để
tiến hành điều tra và khi gần hết thời hạn
điều tra lại gia hạn điều tra và khi đã hết thời
hạn gia hạn mới khởi tố bổ sung thì thời hạn
điều tra lại được tính kể từ thời điểm khởi tố

thời gian dài hơn cho việc điều tra và không
có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện
pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày
trước khi hết hạn tạm giam, cơ quan điều tra
phải có văn bản đề nghị viện kiểm sát gia
hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam được
quy định cụ thể là: Đối với tội phạm ít
nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam
một lần không quá một tháng; đối với tội
phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm
giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai
tháng và lần thứ hai không quá một tháng;
đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể
được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất
không quá ba tháng, lần thứ hai không quá
hai tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần,
mỗi lần không quá bốn tháng. Có thể mô tả
bằng bảng sau: nghiªn cøu - trao ®æi
40 t¹p chÝ luËt häc sè 11/2010

Thời hạn Tội phạm

ít nghiêm trọng
Tội phạm
nghiêm trọng
Tội phạm


4 tháng
Gia hạn tạm
giam lần 2
x
Không quá

1 tháng
Không quá

2 tháng
Không quá

4 tháng
Gia hạn tạm
giam lần 3
x x x
Không quá

4 tháng
Tổng cộng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 16 tháng

Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng,
trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam
lần thứ hai đã hết và vụ án có nhiều tình tiết
phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi
hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể
gia hạn tạm giam lần thứ ba. Trong trường
hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh

cho việc giải quyết vụ án.
3. Theo quy định tại Điều 94 BLTTHS,
đối với những biện pháp ngăn chặn do viện
kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay
thế phải do viện kiểm sát quyết định. Tuy
nhiên, khoản 6 Điều 120 BLTTHS lại quy
định: Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không
cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì cơ quan
điều tra phải kịp thời đề nghị viện kiểm sát
huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người
bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác. Khi đã hết
thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam
phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 11/2010 41

thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn
chặn khác. Theo quy định trên thì có thể có
hai cách hiểu khác nhau. Thứ nhất, mọi trường
hợp cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam đều
phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn
nên khi huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm
giam cũng cần phải được viện kiểm sát cùng
cấp phê chuẩn. Thứ hai, theo quy định trên
cũng có thể hiểu rằng viện kiểm sát chỉ có
quyền quyết định khi thời hạn tạm giam chưa
hết, còn khi đã hết thời hạn tạm giam theo

điều tra cũng có thể nhập vụ án để tiến hành
điều tra trong cùng một vụ án những trường
hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng
tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can
còn có những người khác che giấu tội phạm
hoặc không tố giác tội phạm quy định tại
Điều 313 và Điều 314 Bộ luật hình sự.
(6)
Đối
với những trường hợp này, BLTTHS cũng
không quy định thời hạn điều tra và thời hạn
tạm giam để điều tra được tính như thế nào
nên trong thực tế còn có những cách hiểu khác
nhau và còn khó khăn trong việc áp dụng.
5. Thời hạn điều tra và thời hạn tạm
giam để điều tra vụ án hình sự được quy
định trong BLTTHS hiện nay còn có những
bất cập và và chưa đầy đủ cần được sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh
phòng chống tội phạm trong bối cảnh cải
cách tư pháp.
Thứ nhất, thời hạn điều tra và thời hạn
tạm giam để điều tra không phù hợp với
nhau. Cụ thể là thời hạn điều tra và thời hạn
tạm giam để điều tra tối đa sau khi đã gia
hạn theo quy định của BLTTHS như sau:
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì thời hạn
điều tra tối đa là bốn tháng nhưng thời hạn
tạm giam để điều tra chỉ có ba tháng; đối với
tội phạm nghiêm trọng thì thời hạn điều tra

dễ dẫn đến tình trang vụ án chưa điều tra xong
(thời hạn điều tra vẫn còn) nhưng thời hạn
tạm giam đã hết nhưng vẫn phải trả tự do cho
bị can và khi được trả tự do bị can sẽ trốn
hoặc gây khó khăn cho việc điều tra.
Quy định như trên cũng có thể dẫn đến
tình trạng cơ quan điều tra chưa thu thập đủ
chứng cứ để xác định tội phạm và người
thực hiện hành vi phạm tội cũng như các vấn
đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ
án nhưng vẫn làm bản kết luận điều tra đề
nghị truy tố rồi chuyển hồ sơ cho viện kiểm
sát dẫn đến việc viện kiểm sát phải ra quyết
định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung vì
hồ sơ còn thiếu những chứng cứ quan trọng
đối với vụ án mà viện kiểm sát không thể tự
mình bổ sung được
(7)
làm cho việc điều tra
vụ án phải kéo dài.
Thứ hai, BLTTHS chưa quy định thời
hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra
đối với trường hợp chuyển vụ án theo quy
định tại Điều 116 BLTTHS.
Thứ ba, BLTTHS thiếu quy định thời
hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra
đối với trường hợp nhập hoặc tách vụ án
hình sự để tiến hành điều tra theo quy định
tại Điều 117 BLTTHS.
Thứ tư, việc thay thế hoặc huỷ bỏ biện

luận và thực tiễn”, Tạp chí kiểm sát, số 21/2006, tr. 37.
(4).Xem: Điều 120 BLTTHS.
(5).Xem: Điều 116 BLTTHS.
(6).Xem: Điều 117 BLTTHS.
(7).Xem: Điều 168 BLTTHS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status