Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, thực tiễn thi hành và hướng hoàn thiện - Pdf 26

Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
Lời Mở Đầu
Trong những năm gần đây cùng với xu thế hội nhập của thế giới, nền kinh tế đất nước ta ngày
một phát triển. Nhưng bên cạnh đó, tệ nạn xã hội cũng gia tăng, tình hình tội phạm có những diễn biến
ngày càng phức tạp. Cùng với quá trình phát triển Đảng ta đã xác định việc mở rộng dân chủ và đổi
mới trên mọi lĩnh vực của đời sống là cần thiết, trong đó những vấn đề liên quan đến người bào chữa
và địa vị pháp lý của người bào chữa được đặc biệt quan tâm. Việc xác định đúng đắn quyền, nghĩa vụ
của người bào chữa trong tố tụng hình sự sẽ góp phần rất quan trọng đối với hiệu quả hoạt động tố
tụng hình sự và công cuộc cải cách tư pháp nói chung. Tìm hiểu khía cạnh của vấn đề “Quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, thực tiễn thi hành và hướng hoàn
thiện” nhằm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa.
Nội dung

I. Lý luận chung về người bào chữa
1. Khái niệm người bào chữa.
Theo từ điển giải thích luật học thì: Người bào chữa là người tham gia tố tụng để bênh vực,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Nếu hiểu theo một nghĩa rộng hơn thì Người bào
chữa là người dùng lý lẽ và chứng cớ để bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự
hay dân sự, hoặc cho việc bào chữa cho đương sự đó đang bị lên án.
Người bào chữa là người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án. Họ
tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội. Người bào
chữa không phải là người tiến hành tố tụng mà chỉ là người tham gia tố tụng. Từ “tham gia” nói lên
tính chất, vai trò của người bào chữa. “Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình
vào một hoạt động chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành. Hơn nữa,
người bào chữa không phải là người được nhân danh quyền lực nhà nước và không được sử dụng
quyền lực nhà nước như những tiến hành tố tụng
Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất về người bào chữa, nhưng
theo các quy định của pháp luật thì người bào chữa là người được bị can bị cáo hoặc người đại diện
hợp pháp của họ lựa chọn. Trong trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có người bào chữa, nếu
bị can bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra

đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề
luật sư, có sức khoẻ bảo đảm”, Khi muốn hành nghề luật sư thì phải “có Chứng chỉ hành nghề luật sư
và gia nhập một Đoàn luật sư”.
- Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người đại diện hợp pháp
cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Ngoài ra theo luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 còn có các chủ thể khác là đại diện hợp pháp như: bố nuôi, mẹ nuôi, người đỡ đầu,
anh, chị em ruột và những người khác theo quy định của pháp luật đối với những trường hợp người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Người địa diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một chủ thể tư pháp có tư cách của
người bào chữa trong tố tụng hình sự.
- Bào chữa viên nhân dân: Bào chữa viên nhân dân có thể là người được Ủy ban mặt trận tổ
quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người của tổ chức mình. Về mặt pháp lý, bào chữa viên nhân dân và Người đại diện hợp
pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một chủ thể tư pháp có tư cách của người bào chữa trong
tố tụng hình sự. Nhưng trong thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam, việc xem xét thủ tục chứng nhận
tư cách người bào chữa, các nguyên tắc, phạm vi tham gia tố tụng lại chưa được hướng dẫn và quy
định chi tiết, dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ. Đồng thời, với chất lượng hành nghề của phần đông Bào
chữa viên nhân dân không cao, gặp rất nhiều cản ngại, vướng mắc do những hạn hẹp về kiến thức
pháp luật, lại không được đào tạo chuyên sâu về các kỹ năng hành nghề trong tranh tụng vụ án hình
sự, không được tập sự trong các tổ chức hành nghề luật sư chuyên nghiệp nên trông thực tiễn đây là
loại chủ thể rất ít khi tham gia bào chữa trong TTHS.
II. Địa vị pháp lí của người bào chữa theo pháp luật hiện hành.
1. Quyền của người bào chữa
Hiện nay, BLTTHS năm 2003 đã quy định quyền của người bảo chữa một cách khá chi tiết và
chặt chẽ so với các quy định của pháp luật trước đây. Điều này đã khiến cho quyền lợi của người bào
chữa được mở rộng và đảm bảo tốt hơn trong quá trình tố tụng hình sự. Khoản 2 điều 58 BLTTHS
2003 đã quy định một cách khá chi tiết các quyền mà người bào chữa khi tham gia tố tụng có được:
“a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì

Người bào chữa theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ điều đó có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiên tòa. Người bào
chữa còn có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ những tình tiết
có lợi cho người bị tạm giữ, bị can. Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt
động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào
chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm
quyền.
Thứ hai, Người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm
hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can. Cũng như quy định ở trên quy định quyền này của
người bào chữa nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa có thể chủ động hơn trong việc có mặt khi lấy
lời khai của người bị tạm giữ, bị can...
Thứ ba, Theo điều 43 và điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có quyền đề
nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ theo Điều 42
BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng, và nếu xét thấy
việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và
lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa.
Thứ tư, Người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa
từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá
nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công
tác. Muốn bào chữa tốt được cho thân chủ của mình người bào chữa không chỉ dựa vào những chứng
cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được, làm như vậy sẽ bị ảnh hưởng của kết quả điều tra mà cơ
quan điều tra đã đưa ra hoặc kết luận. Vì vậy, người bào chữa phải có quyền tự mình đi thu thập tài
3
Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
liệu, đồ vật, đây cũng có thể coi là quyền để phục vụ cho các quyền khác của người bào chữa, ví dụ
như quyền gặp bị can bị cáo, sau khi gặp và có mặt trong khi hỏi cung, người bào chữa có thể biết
thêm được những tình tiết mới hoặc bị can, bị cáo yêu cầu người bào chữa tìm giúp những nhân
chứng, vật chứng (tài liệu, đồ vật) mà có thể cung cấp những tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo.
Thứ năm, Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Người bào chữa có quyền
đưa ra tài liệu đồ vật yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bào chữa

cùng cấp là không quá 7 ngày, cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp là không quá 15 ngày. Đối với
khiếu nại kiểu này thì về nguyên tắc phải xem xét giải quyết ngay. Trong trường hợp phải có thời gian
để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 3 ngày. Nếu không đồng ý với kết quả giải
quyết và tiếp tục khiếu nại thì thời hạn giải quyết lần cuối cùng là không quá 7 ngày.
Thứ mười, Người bào chữa còn có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo
là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này. Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng
cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng như người đại diện hợp pháp của bị cáo. Kháng cáo của
người bào chữa phải theo hướng có lợi cho bị cáo.
2. Nghĩa vụ của người bào chữa
4
Bài tập học kỳ môn tố tụng hình sự
Tương ứng với những quyền mà người bào chữa có được theo quy định của BLTTHS năm
2003 thì theo khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003 thì người bào chữa có những nghĩa vụ sau:
Một là, Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì
người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Việc giao nhận các
tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy
định tại Điều 95 của Bộ luật này.
Hai là, Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.
Ba là, Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đăm
nhận bào chữa, nếu không có lí do chính đáng.
Bốn là, Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người
khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.
Năm là, Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Sáu là, Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa;
không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và cá nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status