Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bắt người, thực tiễn thi hành và hướng hoàn thiện - Pdf 28

Đề bài số 04: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về bắt người, thực tiễn thi hành và
hướng hoàn thiện.
BÀI LÀM
PHẦN MỞ ĐẦU
Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định tại Chương VI
Bộ luật Tố tụng hình sự. Hoạt động bắt người phạm tội luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời
sống chính trị, xã hội vì bắt người đúng hay không đúng các quy định của pháp có liên
quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân: Quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm...của
công dân, liên quan nhiều đến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam luôn là đòi hỏi
không thể thiếu để góp phần hoàn thiện pháp luật. Mặt khác, bắt người là biện pháp ngăn
chặn nên cần phải đánh giá hiệu quả thực tế của nó trong phòng ngừa, đấu tranh phòng
chống tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, nhằm phát huy tác
dụng tích cực, khắc phục những hạn chế là hết sức cần thiết.
Sau đây bài viết sẽ tìm hiểu về vấn đề bắt người theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, thực tiễn thi hành và một số phương hướng hoàn thiện.
PHẦN NỘI DUNG
I - Nhận thức chung về biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự
1. Khái niệm bắt người.
Bắt người là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với
bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang
thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi
phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Vai trò và ý nghĩa của việc bắt người phạm tội
1
Việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn
tránh pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của người phạm tội, bảo đảm cho
việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi. Ngược lại, việc bắt người

phạm đã xảy ra, nhân thân người phạm tội và thái độ của người phạm tội sau khi thực
hiện tội phạm. Điều đó có nghĩa là chỉ được bắt để tạm giam đối với một người khi có đủ
căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội mà xét thấy đáng bắt để tạo
điều kiện cho việc điều tra xử lý tội phạm. Người phạm tội nhưng không đáng bắt thì kiên
quyết không bắt. Đối với họ có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Ví dụ: bị can, bị
cáo phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành
động cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử thì không cần bắt tạm giam. Đối với những bị
can, bị cáo phạm tội có tính chất nghiêm trọng như phạm các tội đặc biệt nguy hiểm xâm
phạm an ninh quốc gia, giết người, cướp tài sản… hoặc phạm các tội mà Bộ luật hình sự
quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng họ sẽ trốn, tiếp tục phạm tội
hoặc có hành động cản trở việc điều tra, xét xử thì cần kiên quyết bắt để tạm giam.
1.3. Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định những người sau đây có quyền
ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
- Trong giai đoạn điều tra, việc bắt bị can để tạm giam do Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng cơ quan điều tra các cấp quyết định;
Trường hợp cơ quan điều tra ra lệnh thì lệnh bắt bị can để tạm giam phải được Viện
kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Sự phê chuẩn của Viện kiểm sát là một
thủ tục pháp lý bắt buộc nhằm kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của lệnh bắt để bảo
đảm hiệu lực của lệnh bắt người cũng như sự cần thiết phải bắt tạm giam bị can. Ngoài ra,
quy định việc xem xét để phê chuẩn lệnh bắt người của Cơ quan điều tra trước khi thi
hành còn giúp hạn chế tình trạng lạm dụng quyền được áp dụng biện pháp ngăn chặn để
tác động một cách trái pháp luật đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vì những
mục đích cá nhân. Những lệnh bắt người không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng
cấp sẽ không có giá trị thi hành. Thời hạn xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không
phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam là ba ngày kể từ khi Viện kiểm sát nhận được công
văn đề nghị xét phê chuẩn cùng các tài liệu có liên quan đến việc bắt.
3
- Trong giai đoạn truy tô, việc bắt bị can để tạm giam do Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp quyết định;

- Để bảo đảm lợi ích chính đáng của người bị bắt, thân nhân của họ và của những
người láng giềng và tránh tình trạng căng thẳng do việc bắt người gây ra, khoản 3 Điều 80
của Bộ luật còn quy định: Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn
cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.
Theo quy định về việc tính thời hạn tại Bộ luật tố tụng hình sự, ban đêm được tính
từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.
2. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp
2.1. Khái niệm
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp
thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ
trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.
2.2. Những trường hợp khẩn cấp
Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chỉ được bắt khẩn cấp khi có
một trong các căn cứ (trường hợp) sau đây:
* Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi, kiểm tra, xác
minh các tin tức thu được và có đủ cơ sở để khẳng định một người đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm nghiêm trọng nên cần bắt ngay, để ngăn chặn kịp thời việc người đó gây
thiệt hại cho xã hội.
Muốn xác định được trường hợp khẩn cấp này phải đảm bảo được hai điều kiện sau
đây:
- Thứ nhất: Phải có căn cứ để khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn
bị thực hiện tội phạm.. Hành vi chuẩn bị phạm tội nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại
lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng nó đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa
rất nghiệm trọng. Vì vậy, yêu cầu của cuộc đấu tranh đặt ra hết sức cấp bách, cần ngăn
chặn ngay, không để tội phạm xảy ra.
5
- Thứ hai: Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status