PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, những thành tựu
mới của công nghiệp hóa, cơ giới hóa đã làm thế giới ngày càng văn
minh, hiện đại hơn, cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy nó cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn mang
tính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con
người, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản… của các
chủ thể trong xã hội.
Có những sự vật như máy móc, phương tiện, hệ thống điện, dây
chuyền sản xuất trong nhà máy… bản thân hoạt động của nó luôn tiềm
ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường xung quanh. Mặc dù con người
luôn tìm mọi cách kiểm soát, vận hành nó một cách an toàn nhưng vẫn
có những thiệt hại khách quan bất ngờ có thể xảy ra nằm ngoài sự kiểm
soát đó. Trong khoa học pháp lý xuất hiện thuật ngữ “nguồn nguy hiểm
cao độ” để chỉ những sự vật như vậy. Trên cơ sở mối liên quan giữa thiệt
hại xảy ra của “ nguồn nguy hiểm cao độ” và hành vi của con người, Pháp
luật Việt Nam đã ban hành các quy định nhằm điều chỉnh vấn đề này. Về
cơ bản, những quy định của Pháp luật về “nguồn nguy hiểm cao độ” đã
đáp ứng được tình hình chung của công tác áp dụng pháp luật, đảm bảo
cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhận định hướng giải quyết rõ ràng,
đúng pháp luật, tạo cách giải quyết đồng bộ, thống nhất cao trước
những vụ việc liên quan đến “ nguồn nguy hiểm cao độ”.
Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng Pháp luật về “ nguồn nguy hiểm
cao độ” hiện nay vẫn còn một số vấn đề hạn chế và vướng mắc nảy sinh.
Vậy Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về “nguồn nguy hiểm cao
độ”? Những hạn chế nào còn tồn tại trong quy định của Pháp luật về “
1
nguồn nguy hiểm cao độ”? Thực tiễn áp dụng quy định của Pháp luật về
“nguồn nguy hiểm cao độ” ra sao? Những phương hướng và giải pháp
nhằm hoàn thiện Hệ thống quy phạm Pháp luật liên quan đến “nguồn
- Phân tích
- Tổng hợp
- Liệt kê
- So sánh
- Thu thập dữ liệu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
Đề tài: “Nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của Pháp luật Việt
Nam-Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” nghiên cứu hai đối tượng chủ
yếu sau:
- Thứ nhất: những quy định của pháp luật trong việc định nghĩa khái
niệm về “ nguồn nguy hiểm cao độ” cùng các vấn đề liên quan đến những
quy định này
- Thứ hai: những quy định của Pháp luật liên quan đến vấn đề Bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
- Thứ ba: đánh giá, nhận xét những tồn tại, hạn chế cũng như bất cập
dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn qua đó đề xuất những giải pháp
và phương hướng hoàn thiện hệ thống Pháp luật về Nguồn nguy hiểm
cao độ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tải chỉ nghiên cứu những vấn đề bất cập trong quy định về
Nguồn nguy hiểm cao độ trong phạm vi của pháp luật Dân sự Việt Nam
trên góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật.
4. Bố cục
Đề tài này gồm 3 phần chính:
- Phần Mở đầu
- Phần Nội dung
- Phần Kết luận
b) Để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần phải căn cứ vào khoản
1 Điều 623 BLDS và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan hoặc
quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đó. Ví
dụ: Để xác định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì phải căn cứ
vào Luật giao thông đường bộ.
Theo quy định tại điểm 13 Điều 3 Luật giao thông đường bộ thì
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ôtô, máy kéo, xe mô tô
hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe
cơ giới dùng cho người tàn tật .
6
Như vậy, ta có thể thấy các quy định của Pháp luật Dân sự Việt Nam
không đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát chung về nguồn nguy
hiểm cao độ mà chỉ có quy định mang tính liệt kê: “Nguồn nguy hiểm cao
độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà
máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất
phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy
định”.
II.Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Quy định của Pháp luật
Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách
nhiệm đặc biệt bởi lẽ thiệt hại xảy ra không phải do hành vi và do lỗi của
con người mà do hoạt động của những sự vật mà hoạt động của chúng
luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại. Mặc dù chủ sở hữu hoặc người
chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể không có lỗi đối với thiệt hại
nhưng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người bị thiệt hại, pháp luật
vẫn buộc họ có trách nhiệm bồi thường. Pháp luật dân sự thế giới cũng
như Việt Nam không có bất kỳ một khái niệm đầy đủ nào về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng có thể
độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt
hại.
Nghị quyết 03/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân
tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại mục 2 phần III quy định
chi tiết về vấn đề này như sau:
Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra
a) Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra. Chủ sở hữu đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm
cao độ là đang thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ,
quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng không được trái pháp luật, đạo
đức xã hội; khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ nguồn nguy
hiểm cao độ.
b) Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu,
sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải
bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp
giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận
khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh
việc bồi thường.
Ví dụ: Các thỏa thuận sau đây là không trái pháp luật, đạo đức xã
hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường:
9
- Thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại;
- Thỏa thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau đó người
được giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã
bồi thường;
- Ai có điều kiện về kinh tế hơn thì người đó thực hiện việc bồi
trái pháp luật (đã tuân thủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận
chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của
pháp luật).
Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng
hợp pháp có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử
dụng trái pháp luật (không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy
định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao
độ theo quy định của pháp luật) thì phải liên đới cùng với người chiếm
hữu, sử dụng trái pháp luật bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra.
đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy
hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong
trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải
11
là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác
định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ôtô đã giao xe ôtô đó cho B. B lái xe ôtô
tham gia giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân
biệt:
- Nếu B chỉ được A thuê lái xe ôtô và được trả tiền công, có nghĩa B
không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ôtô đó mà A vẫn chiếm hữu,
sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại.
- Nếu B được A giao xe ôtô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có
nghĩa A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ôtô đó mà B là người chiếm
hữu, sử dụng hợp pháp; do đó B phải bồi thường thiệt hại. Nếu trong
trường hợp này được sự đồng ý của A, B giao xe ôtô cho C thông qua hợp
đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe
ôtô đó; do đó, C phải bồi thường thiệt hại.
Thực tế cho thấy, mục đích của nhà làm luật tách riêng các qui định
về Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thành một
người” hay “tác động của vật” có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Những trường hợp thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ
nhưng do “tác động của con người”, do hành vi của con người gây ra thì
chỉ cần áp dụng nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Hầu hết các vụ tai nạn, thiệt hại đều có sự tham gia của vật với vai trò trung
gian như là công cụ, phương tiện mà con người sử dụng để gây thiệt hại
như: đặt mìn để gây thiệt hại cho người khác, để đánh cá; dùng súng sát
thương người khác; lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn; dùng chất độc
13
để đầu độc người khác; dùng nguồn điện để gài bẫy trộm; nhốt người vào
chuồng hổ cho con thú tấn công… Những trường hợp này thiệt hại hoàn
toàn do hành vi có chủ ý của con người chứ không phải do tự thân nguồn
nguy hiểm cao độ gây thiệt hại.
Trường hợp thiệt hại xảy ra do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm
cao độ, hoàn toàn độc lập và nằm ngoài sự quản lý, kiểm soát của con
người thì sẽ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra như: xe ô tô đang chạy với tốc độ cao đột nhiên mất phanh,
mất lái hoặc nổ lốp gây ra thiệt hại; cháy, chập đường dây tải điện; cháy nổ
trong nhà máy do trục trặc kỹ thuật…
Một điểm cần lưu ý là hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm
cao độ phải có tính trái pháp luật. Hoạt động của xe cần trục, xe ủi… khi
phá dỡ các công trình xây dựng trái phép không thể coi là trái pháp luật. Có
nhiều trường hợp do đặc tính của nguồn nguy hiểm cao độ mà việc gây
thiệt hại của những phương tiện này không bị coi là trái pháp luật. Ví dụ,
để bảo đảm an toàn giao thông đường sắt, những thiệt hại trên đường sắt do
tàu hỏa gây ra cho các chủ thể khác không bị coi là trái pháp luật và ngành
đường sắt không có trách nhiệm bồi thường.
Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra cũng loại trừ các trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của
thiệt hại do tài sản của mình gây ra. Đối với người bị thiệt hại trong khi sử
dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động, họ sẽ được hưởng
bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chỉ được đặt ra khi nguồn nguy hiểm
cao độ gây thiệt hại cho những “người xung quanh”- là những người khi
xảy ra thiệt hại không có quan hệ lao động hoặc sở hữu liên quan đến
nguồn nguy hiểm cao độ nhằm để bảo vệ quyền được bồi thường cho
những người này.
Do đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản có khả
năng gây ra thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng chúng, thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ có thể là những thiệt hại về tài sản, tính
mạng, sức khỏe. Thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm – là những thiệt
hại chỉ có thể phát sinh do hành vi của con người nên không thuộc phạm vi
tác động của nguồn nguy hiểm cao độ.
c) Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của
nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra
Điều kiện này đòi hỏi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là
nguyên nhân tất yếu, nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại
và thiệt hại xảy ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ.
Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, điểm mấu chốt quan trọng là
16
xác định thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây ra. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ được áp dụng
d) Điều kiện lỗi đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra
Theo quan điểm cổ điển, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng chỉ đặt ra khi có điều kiện lỗi. Lỗi là một trong bốn điều kiện làm
phát sinh trách nhiệm bồi thường. Chỉ khi nào một người do lỗi của mình
mà gây thiệt hại, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khác thì mới
phải bồi thường. Cơ sở để người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường là họ phải
do hành vi của con người, không liên quan đến các loại nguồn nguy hiểm
cao độ thì áp dụng nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Việc xác định trách nhiệm theo quan điểm này có ưu điểm bảo vệ được
quyền lợi cho nạn nhân nhưng lại có khuynh hướng đè nặng trách nhiệm
cho người sở hữu, người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ, bởi lẽ có
nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật, do lỗi của
người khác. Ví dụ: Do có mối thù với A, B đã bí mật tháo phanh xe ô tô
của A với mục đích gây tai nạn cho A. Khi A đang lái xe trên đường, do xe
mất phanh nên A gây tai nạn cho C là người đang tham gia giao thông.
Trong trường hợp này, A là chủ sở hữu đồng thời là người đang chiếm hữu
nguồn nguy hiểm cao độ nên theo quan điểm trên, A có trách nhiệm bồi
thường. Cách xác định trách nhiệm bồi thường như vậy là không hợp lý và
xác định không chính xác người phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường.
18
Quan điểm thứ hai cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách nhiệm hoàn toàn loại trừ yếu tố lỗi
của người sở hữu, người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ. Nếu thiệt hại
do nguồnnguy hiểm cao độ gây ra nhưng có một phần lỗi của người đang
trông giữ, vận hành, quản lý nguồn nguy hiểm cao độ thì áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn không
có lỗi của con người thì mới áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trên thực tế rất khó xác định thiệt hại xảy
ra hoàn toàn không có lỗi của con người và như vậy, dường như quy định
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra khó
có thể áp dụng trên thực tế.
Quan điểm thứ ba theo hướng dung hòa hai quan điểm trên. Nếu như
các trường hợp bồi thường thiệt hại thông thường dựa trên sự suy đoán lỗi
thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dựa
trên sự suy đoán trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn
nguy hiểm cao độ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
3.1 Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường.
Trước hết, phải khẳng định chỉ xác định được ai đó có là chủ thể và
đảm bảo điều kiện trong trường hợp đó họ được xác lập tư cách đương
sự trong tố tụng dân sự thì mới bàn đến việc người đó có lỗi hay không
có lỗi, (giống như trong hình sự, mặt dù có hành vi vi phạm pháp luật
hình sự, có hậu quả xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại, có mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả nhưng chủ thể chịu trách nhiệm hình
20
sự không có tư cách thì không truy cứu trách nhiệm hình sự (bị cáo dưới
14 tuổi, bị cáo phạm tội khi bị tâm thần ) do vậy khi một người không
được xác lập tư cách là chủ thể có nghĩa vụ bồi thường trong các dạng
phân tích dưới đây thì đương nhiên họ không có nghĩa vụ bồi thường,
không cần xét thêm yếu tố lỗi. Đây lại là một sự hạn chế nữa trong quy
định của pháp luật Dân sự Việt Nam.
Có các loại chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra, gồm:
+ Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ (thoả mãn 3 điều kiện):
a. Đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ:
Chủ sở hữu đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm là đang
thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý nguồn
nguy hiểm cao độ nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ nguồn nguy hiểm cao độ, khi
nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường, cả
khi không có lỗi gây ra tai nạn.
Ví dụ: Nguyễn Tấn Đạt dùng xe môtô của mình biển số 61F4-2362
chở Hoàng Thanh Bình đi bán nắp chai bia. Khi Đạt vào quán bán nắp
chai thì Bình ngồi trên xe, do Đạt không rút chìa khoá nên khi Đạt quay
trở ra thì Bình nói là để Bình đèo đạt về. Trên đường về Bình gây tai nạn
chết một người.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 318/HSST của TAND tỉnh B. về phần
căn bản về quyền và nghĩa vụ của chủ thể (chiếm hữu là nắm giữ, quản lý
tài sản; sử dụng là khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức). Một chủ
22
thể có quyền chiếm hữu nhưng có thể hạn chế quyền sử dụng (theo
phạm vi ủy quyền, giao dịch), nhưng cũng có chủ thể chỉ có quyền sử
dụng mà không có quyền chiếm hữu. Do vậy, trên thực tiễn đã có sự nhận
thức không thống nhất. Có quan điểm cho rằng: “ giao cho người khác
chiếm hữu, sử dụng “ có nghĩa là một trong hai quyền, hoặc là giao chiếm
hữu, hoặc là giao sử dụng. Quan điểm khác cho rằng đây là sự sai sót của
nhà làm luật, lẽ ra dấu phẩy giữa từ chiếm hữu và từ sử dụng phải được
thay bằng từ “và” (chiếm hữu và sử dụng). Cần hiểu rõ rằng, quyền của
người được giao chiếm hữu tài sản và quyền của người được giao sử
dụng mặc dù phải tuân thủ phạm vi nội dung giao dịch, nội dung uỷ
quyền nhưng trong nhiều trường hợp diễn biến ngang nhau, khó phân
biệt. Do đó, để xác định nghĩa vụ bồi thường phải nhận thức rõ là khi chủ
thể được giao quyền chiếm hữu thì đã phát sinh nghĩa vụ bồi thường
tương ứng với nội dung uỷ quyền hoặc nội dung giao dịch, còn chỉ được
giao quyền sử dụng nhưng không có quyền chiếm hữu thì không phát
sinh nghĩa vụ bồi thường đối với người sử dụng (trừ trường hợp các chủ
thể có thoả thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội).
Ví dụ: Anh Nguyễn Văn Anh giao xe môtô của mình cho chị
Nguyễn Thị Kim Phượng (có giấy phép lái xe) mượn. Chị Phượng đưa xe
này cho chị Thu điều khiển chở chị Phượng phía sau và gây tai nạn làm
anh Điền bị thương 61 %.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST của TAND huyện P.về
phần dân sự đã buộc chị Thu bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Điền.
Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 24/HSPT của TAND tỉnh Q. đã
huỷ phần dân sự của bản án số 07 nói trên. Tại bản án Hình sự sơ thẩm
23
được giao nguồn nguy hiểm cao độ nhưng đang sử dụng nó trong tầm
quản lý, nắm giữ của chủ sở hữu (không có quyền chiếm hữu) nếu gây
thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường.
Ví dụ : A thuê B lái xe trả tiền lương cho B hằng tháng, B gây tai nạn
thì A phải bồi thường
c. Chủ sở hữu có lỗi trong việc trông coi, vận chuyển, quản lý, sử
dụng để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật
thì phải chịu bồi thường liên đới với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật cả khi chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng không có lỗi
trong việc gây tai nạn.
Tùy theo mỗi loại nguồn nguy hiểm cao độ mà mức độ, phạm vi, biện
pháp trông coi, quản lý, vận chuyển, sử dụng khác nhau. Do vậy để nhận
định thế nào là có lỗi trong việc trông coi, vận chuyển, sử dụng phải căn
cứ vào các qui định liên quan đến việc trông coi, bảo quản, vận chuyển,
sử dụng một đối tượng nguồn nguy hiểm cao độ cụ thể (Xe máy thì bảo
quản, trông coi theo qui định Luật giao thông đường bộ; thuốc nổ, vũ khí
thì trông coi, bảo quản theo quy định của Nghị định 175 của Hội đồng
25