Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 10

Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của
pháp luật Việt Nam

Phạm Thị Ngoan

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Vũ Quang
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Trình bày những vấn đề lý luận chung về tập trung kinh tế và kiểm soát
bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh
tranh kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh
với pháp luật cạnh tranh ở một số nước trên thế giới. Đưa ra phương hướng và một số
giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế để đảm bảo
tính hệ thống, đồng bộ với các quy định của pháp luật hiện hành về cạnh tranh và hài
hòa với pháp luật quốc tế.

Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật kinh tế; Doanh Nghiệp

Content
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Tập trung kinh tế là một hiện tượng bình thường trong đời sống kinh tế, là hành vi của doanh
nghiệp. Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường xuất phát điểm từ một nền sản xuất nhỏ
đi lên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng chủ yếu thì việc các doanh nghiệp đó tìm
cách liên kết, tập trung lại với nhau là một điều tất yếu và rất cần thiết. Mặt khác, trong bối cảnh
chúng ta đang tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, đã xuất hiện các công ty đa quốc gia, với tiềm
lực mạnh mẽ về kinh tế các công ty đa quốc gia này đã, đang và sẽ tiến hành các vụ tập trung kinh
tế nhằm hình thành vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền dẫn đến một bộ phận doanh nghiệp Việt Nam
bị loại khỏi thương trường, gây tác hại tiêu cực đến nền kinh tế thị trường non trẻ Việt Nam. Rõ

khi xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh điều chỉnh vấn đề
này. Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế.
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế.
Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế
ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với pháp luật cạnh tranh ở một số nước trên thế giới.
Đưa ra phương hướng và một số giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm
soát tập trung kinh tế để đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ với các quy định của pháp luật hiện
hành về cạnh tranh và hài hòa với pháp luật quốc tế.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Mặc dù người viết có tinh thần quyết tâm cao muốn tìm hiểu việc pháp luật kiểm soát
hành vi tập trung kinh tế trong tổng thể các mối quan hệ pháp luật khác nhau nhưng theo yêu
cầu và giới hạn của luận văn tốt nghiệp cao học luật, người viết không thể có tham vọng
nghiên cứu sâu tất cả các vấn đề pháp luật liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế mà chỉ ở
một số các quy định trong Bộ luật dân sự, luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật chứng khoán.
Nhưng chủ yếu tác giả nghiên cứu cụ thể và luận giải bằng hệ thống các quy phạm trong Luật
cạnh tranh. Hy vọng một ngày không xa tác giả sẽ được quay trở lại nghiên cứu đề tài mà
mình yêu thích này ở mức độ hoàn thiện, toàn diện hơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh luật
học kết hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đồng thời quán
triệt sâu sắc các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để giải quyết những mục đích, nhiệm vụ do đề tài đặt
ra.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn đã lý giải được cơ sở khoa học về sự ra đời của tập trung kinh tế, làm rõ đặc
điểm pháp lý của tập trung kinh tế và ảnh hưởng của tập trung kinh tế đến nền kinh tế.

3
Luận văn đã phân tích khá toàn diện quá trình kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật

1980 đã diễn ra hàng loạt những vụ hợp nhất bắt đầu từ các công ty hoạt động trong ngành
công nghiệp, sau đó lấn sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn ra toàn thế giới.
Việt Nam hình thức tập trung kinh tế xuất hiện đầu tiên là các Tổng công ty nhà nước
được thành lập theo Quyết định số 90 và 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/3//1994
(gọi tắt là Tổng công ty 90 và 91). Song thực chất, việc tính thành các Tổng công ty 90 và 91
lại là sự liên minh, sáp nhập theo thể thức hành chính chứ không mang bản chất của hành vi tập
trung kinh tế theo quy định của hệ thống pháp luật cạnh tranh.
Khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với sự ra
đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật doanh
nghiệp nhà nước 1995 đã xuất hiện các vụ sáp nhập, hợp nhất, liên doanh Trong suốt thời
gian qua trước khi có Luật cạnh tranh 2004, chúng ta đã giảm số lượng từ trên 13000 doanh

4
nghiệp nhà nước xuống còn trên 3000 doanh nghiệp thông qua việc hợp nhất các doanh
nghiệp lại với nhau
1.1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế ở Việt Nam được xem xét theo ba cách tiếp cận cơ bản:
Thứ nhất: Với tính chất là quá trình gắn liền với hơn hình thành và thay đổi của cấu trúc
thị trường, tập trung kinh tế được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập
cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc
thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất.
Thứ hai: Với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập
trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này
thu hút một tư bản khác
Thứ ba: Dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định các hành vi được coi
là tập trung kinh tế. Theo đó, khoản 3 Điều 3 quy định tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành
vi hạn chế cạnh tranh. Chỉ có các trường hợp tập trung kinh tế tạo ra trên 50% thị phần kết
hợp trên thị trường liên quan mới tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh,
1.1.3. Các hình thức tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế bao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập

Kiểm soát tập trung kinh tế nhằm tăng cường lợi ích và hạn chế mặt tiêu cực của nó đối với thị trường.
1.2 Kiểm soát bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế.
1.2.1. Các luận cứ cho việc kiểm soát tập trung kinh tế
Thứ nhất: Tập trung kinh tế để các doanh nghiệp phát triển kinh doanh
Thứ hai: Tập trung kinh tế để thống lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
Vai trò của Nhà nước trong kiểm soát tập trung kinh tế là rất quan trọng. Cạnh tranh là
cuộc chạy đua để xác định những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất, nhà nước có vai trò
đảm bảo trật tự chung và chỉ nên can thiệp vào cạnh tranh một cách hạn chế. Để bảo vệ lợi ích
của người tiêu dùng, các cơ quan kiểm soát độc quyền (trong đó có kiểm soát tập trung kinh
tế) nên xem xét ảnh hưởng của hành vi độc quyền dưới hai tiêu chí cơ bản:
- Đối với sự phân bổ có hiệu quả của mọi nguồn lực kinh tế;
- Đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3. Những yếu tố chi phối hoạt động về kiểm soát tập trung kinh tế
Cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó nhà nước tác
động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động đến các mục tiêu đã định. Cơ chế
quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước do đó nó mang tính chủ quan. Cơ chế
kinh tế là phương thức vận động của nền kinh tế, nó mang tính khách quan. Nhà nước tác
động vào nền kinh tế thông qua cơ chế kinh tế chứ không trực tiếp tác động vào nền kinh tế.
Thị trường mà nhà nước không can thiệp vào gọi là thị trường tự do. Và người ta coi "bàn tay
vô hình" là các quy luật kinh tế khách quan sẽ chi phối nền kinh tế. Thị trường tự do cho phép cá
nhân theo đuổi lợi ích riêng của mình mà không có sự khống chế nào của chính phủ. Lúc này hiện
tượng tập trung kinh tế diễn ra phổ biến nhưng dựa trên nền tảng "tự do được nuôi dưỡng bởi tự
do" nên không có sự điều tiết và kiểm soát từ nhà nước, đương nhiên sẽ không thể có pháp luật
điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế.
1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế một số nước
trên thế giới và Việt Nam
Quy chế 139/2004 đã được Ủy ban Châu Âu ban hành ngày 20/2004 tại Điều 3 định
nghĩa về hoạt động tập trung kinh tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế:
Liên bang Nga không có khái niệm riêng về tập trung kinh tế. Theo Luật về cạnh tranh

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh…
Kiểm soát tập trung kinh tế đã được coi là một trong những nhiệm vụ cơ bản của pháp luật
cạnh tranh hiện đại. Tất cả các quốc gia đang phát triển thị trường đều đặt ra cơ chế phối hợp giữa
pháp luật cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp để kiểm soát việc tập trung kinh tế Theo đó,
pháp luật về doanh nghiệp sẽ thừa nhận quyền được tập trung kinh tế của doanh nhân, quy định về
thủ tục pháp lý để họ thực hiện các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại và góp vốn để bảo đảm
trật tự pháp lý trong kinh doanh. Pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hiện tượng tập trung kinh tế
có khả năng đe dọa đến trật tự cạnh tranh của thị trường bằng hai cơ chế, đó là:
- Cấm đoán các trường hợp tập trung kinh tế làm tổn hại đến tình trạng cạnh tranh;
- Kiểm soát các trường hợp có khả năng tổn hại đến cạnh tranh.
- Các trường hợp tập trung kinh tế được tự do thực hiện; Các trường hợp tập trung kinh tế
được thực hiện sau khi được cơ quan nước có thẩm quyền xem xét chấp nhận; Cho hưởng
miễn trừ đối với một số trường hợp tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm.
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
2.1. Các quy định về tập trung kinh tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều luật và văn bản dưới luật có các quy định
liên quan đến tập trung kinh tế.
* Bộ Luật Dân sự: Điều 94, 95 Bộ luật Dân sự 2005
* Luật Doanh nghiệp: Các quy định trong Luật Doanh nghiệp có thể được sử dụng làm căn
cứ pháp lý để làm rõ khái niệm và phạm vi của các hoạt động tập trung kinh tế. Chẳng hạn để xác
định khái niệm mua lại doanh nghiệp, khi thực thi cơ quan quản lý cạnh tranh có thể dẫn chiếu
đến Luật Doanh nghiệp. Vấn đề mấu chốt để xác định hơn mua lại là quyền chi phối và kiểm soát
doanh nghiệp bị mua lại, theo đó, nếu hơn mua tài sản chưa đủ tạo nên quyền chi phối, kiểm
soát doanh nghiệp bị mua lại thì chưa cấu thành hiện tượng tập trung kinh tế. Pháp luật cạnh
tranh xác định hai trường hợp tạo nên quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp khác là:

7
- Dành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ chiếm được trên 50%

Luật Cạnh tranh có nhiều điều khoản tạo hành lang pháp lý cho phép các cơ quan quản lý
nhà nước kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế. Cụ thể là:
*Được tự do tập trung kinh tế (khoản 1 Điều 20): Tất cả những trường hợp tập trung kinh
tế mà có thị phần kết hợp dưới 30% thì không bị cấm và cũng không phải có nghĩa vụ thông
báo; Những trường hợp tập trung kinh tế mà có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% cũng không
bị cấm và không cần thông báo, nếu căn cứ vào sức mạnh cụ thể của doanh nghiệp trong thị
trường mà chúng vẫn được xếp vào loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp
luật.
* Được xem xét chấp nhận tập trung kinh tế: Đây là những trường hợp tập trung kinh tế
chưa bị mặc nhiên cấm nhưng có thể được xem xét đồng ý sau khi làm thủ tục thông báo tại
Cơ quan quản lý cạnh tranh. Khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh quy định: "Các doanh nghiệp
tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện

8
hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi
tiến hành tập trung kinh tế".)
* Tập trung kinh tế được miễn trừ: Các trường hợp tập trung kinh tế được miễn trừ Ở Việt
Nam được ghi nhận tại Điều 19 Luật cạnh tranh. Đó !à các trường hợp tập trung kinh tế bị
cấm theo quy định tại điều 18 của Luật cạnh tranh nhưng có thể được xem xét miễn trừ khi:
Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể lâm vào tình
trạng phá sản. Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản đối
với trường hợp này
* Tập trung kinh tế bị cấm: Luật Cạnh tranh có quy định cấm thực hiện tập trung kinh tế
đối với các trường hợp trong đó thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh
nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan và doanh nghiệp hình thành sau
hoạt động tập trung kinh tế không thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp
luật (Điều 18, Luật Cạnh tranh). Tuy nhiên, các vụ việc tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm
cũng có thể được xem xét và miễn trừ trong hai trường hợp:
- Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm
vào tình trạng phá sản;

Trình tự, thủ tục xem xét một vụ tập trung kinh tế ở Việt Nam được quy định trong Luật
cạnh tranh gồm các bước sau:
Bước 1: Thông báo tập trung kinh tế
Khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định: Các doanh nghiệp tập trung kinh tế
có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các
doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung
kinh tế. Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp
hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung
kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải
thông báo.
Bước 2: Thụ lý hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
Bước 3: Trả lời thông báo
2.4. Tố Tụng cạnh tranh (vụ việc tập trung kinh tế)
2.4.1. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh khác với tố tụng trong các hoạt động tư pháp. Tố tụng cạnh tranh là
hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh gồm cơ
quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh. Tuy nhiên Luật cạnh tranh Việt Nam đã tách
hai chức năng điều tra và xử lý vụ việc tập trung cho hai cơ quan này:
Cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ thụ lý, điều tra các vụ việc liên quan đến cạnh tranh và
kiểm soát quá trình tập trung kinh tế, đó !à Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại đã
được thành lập theo Nghị định số 06/CP của Chính phủ ngày 9/1/2006.
Cùng ngày 9/1/2006. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 05/CP về việc thành lập
và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh:
Theo đó, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập có chức năng
xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Cụ thể: Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý,
giải quyết khiếu nại đối với vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.
2.4.2. Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về tập trung kinh tế) ở Việt Nam
Bước 1: Khiếu nại về vụ việc cạnh tranh
Bước 2: Thụ lý hồ sơ khiếu nại
Bước 3: Điều tra vụ việc cạnh tranh

lại, liên doanh.
Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước…) thực hiện chức năng thẩm định, cấp phép đối với các trường hợp tập
trung kinh tế trong lĩnh vực chuyên ngành theo pháp luật.

Chương 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
3.1. Một số căn cứ cho việc đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tập
trung kinh tế ở Việt Nam
Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm quy mô doanh nghiệp tuyệt đại đa số là nhỏ bé, các vụ giao
dịch quy mô nhỏ và vừa vẫn chiếm đại đa số thì các vụ tập trung kinh tế chịu sự điều chỉnh của
pháp luật cạnh tranh chưa nhiều.
Thứ hai, đa số các vụ tập trung kinh tế có quy mô đáng kể đều do các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thực hiện,
Thứ ba Các vụ tập trung kinh tế nằm trong ngưỡng phải thông báo hoặc bị cấm đã bắt đầu
xuất hiện và có xu hướng gia tăng.
Thứ tư, cần thống nhất một khái niệm và cách hiểu đúng về "kiểm soát tập trung kinh tế",
đây là khái niệm được đưa ra dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh và là một chức năng của
Cục quản lý cạnh tranh.
3.2. Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế ở
Việt Nam
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế
Từ năm 2004 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật cạnh tranh, sửa đổi bổ sung
Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và một số Nghị định hướng dẫn Luật cạnh
tranh điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế.
Nghị quyết của Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã ghi nhận cơ chế thị trường
đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. cạnh
tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí nguồn lực,
thôn tính lẫn nhau.

xây dựng quy trình cho việc kiểm soát tập trung kinh tế.
Để việc kiểm soát tập trung kinh tế được chủ động và hiệu quả, cơ quan quản lý cạnh
tranh nên có những nghiên cứu và dự đoán trước những thị trường, những lĩnh vực kinh tế có
nguy cơ xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế, thậm chí những doanh nghiệp có khả năng thực
hiện hành vi thâu tóm thị trường bằng hình thức tập trung kinh tế.
Không phải mọi lĩnh vực kinh tế khi xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế đều thuộc phạm
vi kiểm soát của pháp luật cạnh tranh. Các cuộc sáp nhập, mua lại…ở những thị trường có qui
mô đầu tư nhỏ, phân tán sẽ không gây ảnh hưởng đến cơ cấu cạnh tranh của thị trường và
thường không thuộc phạm vi kiểm soát của pháp luật về tập trung kinh tế. Phần lớn các vụ tập
trung kinh tế có tác động lớn đến thị trường cạnh tranh xảy ra ở những khu vực thị trường
đang có mức độ tập trung kinh tế đáng kể hoặc có vị trí tương đối trong nền kinh tế. Những
dự báo khi kết hợp với chính sách phát triển chung giúp cơ quan có thẩm quyền
Để việc kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan
quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước chuyên
ngành

12
Việc kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan
quản lý cạnh tranh đối với cộng đồng doanh nghiệp
3.2.3. Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
Hiệu lực và sức mạnh của một đạo luật phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực thi của Nhà
nước và thái độ đón nhận của xã hội" Vì thế phải có các giải pháp nhằm xây dựng một cơ chế
thực thi pháp luật cạnh tranh đủ mạnh để kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo
nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực thi Luật cạnh tranh.
Chương 2 luận văn đã đề cập đến cơ quan thực thi Luật cạnh tranh của Việt Nam bao
gồm hai cơ quan là: Hội đồng cạnh tranh là Cục quản lý cạnh tranh. Hội đồng cạnh tranh là cơ
quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh.
Cục quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ công thương. Khi giải quyết một vụ tập trung
kinh tế, Cục quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ thụ lý, điều tra vụ việc; còn Hội đồng cạnh tranh
là cơ quan có quyền xử lý vụ việc (có thẩm quyền tổ chức phiên điều trần và quyết định xử lý

chính những nội dung kiến thức kinh tế và pháp lý để nhận biết và kiểm soát các hành vi tập
trung kinh tế.

13
Về cơ chế kháng cáo quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh. Có hai lý do kiến nghị
khi xây dựng các quy định của pháp luật để xác định cơ quan có thẩm quyền nào sẽ xem xét
các quyết đính của cơ quan cạnh tranh khi những quyết định này bị khiếu nại:
Thứ nhất: Việc giải quyết các vụ việc cạnh tranh đòi hỏi những người có chuyên môn giỏi
về kinh tế và pháp lý, không phải tòa án nào cũng có thẩm phán giỏi để xem xét lại các quyết
định của Hội đồng cạnh tranh. Vì vậy ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt nên trao thảm
quyền xét lại các khiếu nại của đương sự cho Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu đương sự không đồng ý với quyết định của Tòa
Kinh tế thì có thể tiếp tục khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, quyết định
của Tòa này là chung thẩm. Tất nhiên vẫn có các thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thứ hai: Vì quyết định của Hội đồng cạnh tranh là quyết định hành chính nên về nguyên tắc,
doanh nghiệp vẫn có thể khiếu nại về quyết định đó lên Tòa hành chính. Và như vậy, đội ngũ
thẩm phán ở Tòa hành chính phải được đào tạo kỹ càng các kiến thức kinh tế, pháp lý liên quan
đến việc xem xét, giải quyết vụ việc tập trung kinh tế vì "Chừng nào Tòa hành chính còn chưa đủ
mạnh thì chừng đó vẫn còn có thể xuất hiện nguy cơ lợi ích của doanh nghiệp bị xâm hại do một
quyết định hành chính không khách quan".

KẾT LUẬN
Tập trung kinh tế là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng. Tập trung kinh tế có những tác
động tích cực đến nền kinh tế, song mặt bên kia của tập trung kinh tế lớn lại chính là nguy cơ
hình thành độc quyền, triệt tiêu cạnh tranh. Vì vậy, các quốc gia với phương châm phòng thủ
từ xa đã ban hành pháp luật cạnh tranh - một đạo luật không thể thiếu của nền kinh tế thị
trường để kiểm soát các vụ tập trung kinh tế.
Nhìn chung các nước có nền kinh tế thị trường phát triển kiểm soát tập trung kinh tế là một
công việc thường nhật của các cơ quan quản lý cạnh tranh. Ngược lại đây là một nhiệm vụ mới

kinh tế một cách hữu hiệu nhất.

References
1. Nguyễn Thị Bảo Ánh (2006), Một số vấn đề pháp lý về tập trung kinh tế theo luật cạnh
tranh Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Bộ Công thương (2009), Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam - Hiện trạng và dự báo,
Hà Nội.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003), Báo cáo tổng kết Luật Doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội.
4. Bộ Thương mại (2003), Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật cạnh tranh Việt Nam và các
văn bản hướng dẫn thi hành, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội.
5. Bộ Thương mại (2003), Tài liệu tham khảo khuôn khổ pháp lý đa phương điều chỉnh hoạt
động cạnh tranh và Luật cạnh tranh của một số nước và vùng lãnh thổ, Hà Nội.
6. Bộ Thương mại (2004), Tờ trình Chính phủ về dự án Luật cạnh tranh, ngày 6/1, Hà Nội.
7. Chính phủ (2005), Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật cạnh tranh, Hà Nội.
8. Chính phủ (2005), Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9 quy định về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội.
9. Chính phủ (2006), Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01 về việc thành lập và quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh, Hà
Nội.
10. Chính phủ (2006), Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01 quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh, Hà Nội.

15
11. Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh
tế hiện hành Ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 7 khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

28. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự, Hà Nội.
29. Quốc hội (2005), Luật đầu tư, Hà Nội.
30. Quốc hội (2005), Luật doanh nghiệp, Hà Nội.
31. Quốc hội (2006), Luật chứng khoán, Hà Nội.
32. Nguyễn Thiết Sơn (2004), Giáo trình: Các công ty xuyên quốc gia, Nxb Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh.
33. Nguyễn Ngọc Sơn (2006), "Kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh và vấn
đề của Việt Nam", Nghiên cứu lập pháp, (79).
34. Lê Viết Thái, Hành vi tập trung kinh tế và vấn đề kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam.
35. Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp Quốc (2003), Luật mẫu về cạnh tranh, Loạt
công trình nghiên cứu của UNCTAD về các vấn đề được đề cập trong luật và chính sách
cạnh tranh.
36. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2004), Báo cáo số 265/UBTVQH 11 ngày 13/10 giải trình
tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật cạnh tranh trình Quốc hội, Hà Nội.
37. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc. tế (2005), Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh
tranh của Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2005), Các vấn đề pháp lý và thể chế về
chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status