Bảo hộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong quá trình phát triển của xã hội, khi bắt đầu xuất hiện nền sản
xuất hàng hoá và kinh doanh trở thành một nghề độc lập, các thương nhân
cũng bắt đầu tích luỹ cho mình những kỹ năng, kinh nghiệm trong sản xuất,
kinh doanh (know – how) đồng thời cũng tìm tòi, sáng tạo những bí quyết,
những kỹ năng mới để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh
của mình. Tính cạnh tranh trong sản xuất và thương mại đòi hỏi mỗi thương
nhân phải có những ưu thế nhất định để cạnh tranh với các thương nhân khác.
Yêu cầu này đã dẫn đến việc các thương nhân phải giữ bí mật những kỹ năng,
kinh nghiệm đã tích luỹ được cũng như những bí quyết, kỹ năng mới mà họ
sáng tạo ra và chỉ truyền cho con cháu họ. Những kỹ năng, kinh nghiệm, bí
quyết được giữ bí mật này chính là bí mật kinh doanh mà chúng ta đang bàn
tới ngày nay.
Trong nền kinh tế hiện đại, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh ngày
càng khốc liệt. Lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn nằm chủ yếu ở tài
nguyên thiên nhiên hoặc lao động rẻ, mà nghiêng về tiềm lực tri thức và công
nghệ. Xu hướng này làm cho các nhà sản xuất ngày càng quan tâm đến việc
sản xuất ra các sản phẩm có hàm lượng khoa học – công nghệ cao và đòi hỏi
nhà nước phải có những định hướng, tác động và bảo hộ nhất định cho những
nhà sản xuất kinh doanh đầu tư, nghiên cứu, sáng tạo ra khoa học – công
nghệ.
Trên thế giới, các sản phẩm trí tuệ đã được bảo hộ từ lâu. Cùng với sự
phát triển của xã hội và tri thức, các nhà nước đã sử dụng nhiều hình thức
khác nhau để bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ khác nhau. Các sản phẩm trí tuệ
có liên quan đến kinh doanh và hoạt động kinh doanh có thể được bảo hộ
bằng cách cấp patent cho sáng chế, cho giải pháp hữu Ých trong sản xuất
hoặc cấp patent cho kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá. Tuy nhiên,
bên cạnh việc nhờ đến các hình thức bảo hộ của pháp luật để bảo vệ các sản
phẩm trí tuệ và lợi Ých của mình, các chủ thể kinh doanh cũng tự mình giữ bí
mật các sản phẩm trí tuệ khác bởi họ nhận thấy trong một số trường hợp việc

nghiên cứu một cách đồng bộ và toàn diện về bí mật kinh doanh với tư cách là
một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Các nghiên cứu về bí mật kinh
doanh mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài khía cạnh riêng lẻ của nó
đang trên các báo và tạp chí trong nước và trình bày trong hội thảo khoa học
về bí mật kinh doanh do Cục sở hữu trí tuệ tổ chức, bao gồm nghiên cứu của
các tác giả sau:
- Tác giả Nguyễn Thị Quế Anh có bài “Một số vấn đề về bảo hộ bí mật
kinh doanh và hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”
đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế –
Luật số 3 năm 2004. Trong bài viết này tác giả đã giới thiệu sơ lược về hệ
thống pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh trên thế giới và chỉ ra được các đặc
trưng của quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong mối
tương quan so sánh với các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp.
Trong bài viết này, tác giả cũng chỉ ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam.
- Tác giả Kiều Thị Thanh và Nguyễn Thị Hằng có bài viết “Quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh đăng trên Tạp chí luật học số
3/2002. Trong bài viết này hai tác giả đã căn cứ trên các quy định của pháp
luật về bí mật kinh doanh được quy định trong Nghị Định 54/2000/NĐ - CP
để phân tích và chỉ ra được một số hạn chế của pháp luật về bí mật kinh
doanh của Việt Nam theo quy định của trong Nghị định 54/2000/NĐ - CP.
- Nghiên cứu bí mật kinh doanh cùng với các đối tượng khác của nhiều
tác giả được thể hiện trong cuốn sách “Bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam –
một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Hồng Hạnh chủ
biên. Trong sách này các tác giả đã chỉ ra được sự không tương thích trong
pháp luật Việt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh với Hiệp định TRIPs và
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.
Như vậy, có thể thấy khoa học pháp lý về bảo hộ bí mật kinh doanh ở
Việt Nam mới đang phát triển ở những bước đầu tiên. Nghiên cứu của các tác
giả nói trên đã đóng góp vào khoa học pháp lý Việt Nam một số khía cạnh

biện pháp dân sự, hành chính, hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
nhằm giải quyết một số vấn đề lý luận cũng như thực trạng của pháp luật Việt
Nam trong việc bảo hộ đối tượng này.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đứng trên thế giới quan và phương
pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Mác - Lênin. Trong quá trình nghiên cứu, đối với từng vấn đề cụ thể của đề
tài, tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, so sánh, diễn dịch,
quy nạp để đạt được kết quả nghiên cứu.
5. Bố cục luận văn:
Ngoài phần Lời nói đầu, phần Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương và có kết cấu chi tiết
như sau:
Chương I: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh.
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh
1.2. Khái niệm bí mật kinh doanh, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh.
1.3. So sánh bí mật kinh doanh với các đối tượng khác của quyền sở
hữu trí tuệ.
Chương II: Những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
2.1. Các điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh
2.2. Căn cứ phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh
2.3. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
2.4. Bảo vệ bí mật kinh doanh theo quy định pháp luật Việt Nam
Chương III: Định hướng và những giải pháp hoàn thiện pháp luật
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.
3.1. Định hướng chung

tư để nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời làm cho các chủ thể khác tốn thời
gian và tiền bạc để nghiên cứu một vấn đề đã được nghiên cứu rồi.
Tuy nhiên, những người ủng hộ quan điểm trên cho rằng: sự độc quyền
ở một mức độ nhất định không thể kìm hãm sự nghiên cứu và sáng tạo. Bởi
lẽ, việc cho phép độc quyền sẽ tạo ra cho chủ sở hữu, chủ thể đã đầu tư sáng
tạo ra ý tưởng những lợi Ých vật chất nhất định, đủ để bù đắp và trả công
xứng đáng cho việc đầu tư và sáng tạo của họ, từ đó khuyến khích họ tiếp tục
nghiên cứu, sáng tạo để tạo ra các sản phẩm có giá trị cho xã hội, thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Mặt khác, sự độc quyền của chủ sở hữu đối với bí mật
kinh doanh không phải là sự độc quyền tuyệt đối, không có nghĩa là chủ sở
hữu bí mật kinh doanh là chủ thể duy nhất sử dụng bí mật kinh doanh. Những
người khác không phải là chủ sở hữu có thể sử dụng bí mật kinh doanh trên
cơ sở thiết lập các mối quan hệ tin cậy trên cơ sở hợp đồng với chủ sở hữu.
Việc bảo hộ bí mật kinh doanh là đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu, người
đã đầu tư tài sản hoặc trí tuệ để tạo ra hoặc có được bí mật kinh doanh, đồng
thời chống lại các hành vi bất hợp pháp của chủ thể khác xâm phạm quyền lợi
của chủ sở hữu.
Còng có quan điểm cho rằng để khuyến khích sự nghiên cứu và sáng
tạo, pháp luật bảo hộ sáng chế có tính ưu việt hơn. Bởi lẽ, pháp luật bảo hộ
sáng chế không chỉ đảm bảo sự độc quyền cho chủ sở hữu mà còn buộc chủ
sở hữu phải công khai thông tin trong khu vực công cộng nhằm thúc đẩy sự tự
do cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên thực tế chứng minh
rằng, không phải bất kỳ sản phẩm nào của trí tuệ cũng có thể được bảo hộ
theo pháp luật bảo hộ sáng chế. Truớc hết, bằng độc quyền sáng chế chỉ cấp
cho các sáng chế trong lĩnh vực công nghệ chứ không cấp cho những thành
tựu trong hoạt động thương mại, cung ứng dịch vụ hoặc quản lý kinh doanh…
Hơn nữa, một số phát minh hay thông tin kỹ thuật trong khi tạo ra một lợi thế
thương mại giá trị cho mét doanh nhân nào đó thì có thể lại thiếu tính mới
hoặc tính sáng tạo theo yêu cầu để có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế,
chõng nào mà thông tin chưa được tiết lé cho công chúng thì, chủ sở hữu

bằng việc cung cấp và buộc các thương nhân phải tuân thủ các nguyên tắc
kinh doanh công bằng và trung thực, ngay cả khi các nguyên tắc này không
được xác lập trong hợp đồng. Đi xa hơn nữa, việc bảo hộ bí mật kinh doanh
còn tạo ra mét khung pháp lý nhằm khuyến khích việc trao đổi thông tin tù do
giữa các chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động của các chủ thể này.
[14]
Lịch sử phát triển của pháp luật cũng chỉ ra rằng nhiều xã hội đã quan
tâm tới việc duy trì và nuôi dưỡng đạo đức kinh doanh bằng việc bảo hộ bí
mật kinh doanh trong nhiều tình huống và mối quan hệ khác nhau. Chẳng
hạn, trong thời kỳ La Mã cổ đại ghi nhận nguyên tắc servi corrupti [5, tr 195]
– một nguyên tắc cho phép chủ nô kiện người thứ ba về sự bất trung của nô
lệ. Nếu một người thứ ba xui khiến nô lệ bất trung bất trung gây thiệt hại cho
chủ nô thì chủ nô có quyền kiện yêu cầu người thứ ba bồi thường thiệt hại vì
sự bất trung của nô lệ. Mức bồi thường là gấp đôi thiệt hại thực tế đã được
gây ra do việc sử dụng hoặc tiết lé thông tin bí mật. Thiệt hại cũng bao gồm
sự bồi hoàn của người thứ ba cho chủ sở hữu về giảm sút giá trị của nô lệ
(trong sù so sánh với một nô lệ trung thành).
Khi cách mạng công nghiệp thay thế cho sản xuất nông nghiệp với máy
móc và sự gia tăng người lao động lưu động. Sự thay đổi này đã tạo ra khả
năng các nhà kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh bằng cách lợi dụng sự
bất trung của công nhân đối với chủ cũ của mình hoặc bằng cách đánh cắp các
tài liệu, giấy tờ liên quan đến bí mật trong sản xuất và kinh doanh của các nhà
kinh doanh khác.Vì vậy, các nhà nước ở Châu Âu bắt đầu quan tâm đến việc
duy trì và nuôi dưỡng sự trung thực trong kinh doanh. Từ giữa thế kỷ XIX,
Pháp và Bỉ đã có ghi nhận trong Luật hình sự các tội phạm về tiết lé bí mật
của các nhà máy. Tương tự, các chế tài dân sự cho người xâm phạm bí mật
kinh doanh cũng được quy định trong Luật cạnh tranh không lành mạnh 1909
ở Đức.
Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ cũng bảo hộ bí mật kinh doanh để tăng
cường sự trung thực trong thương mại. ở Anh, tuy không có văn bản luật để

chiếm hữu tài sản đó. Đặc tính vô hình của tài sản trí tuệ nói chung không cho
phép các chủ thể có thể chiếm hữu tài sản trí tuệ theo cách thức thông thường.
Chủ sở hữu các tài sản trí tuệ rất khó quản lý, kiểm soát hay ngăn cản người
khác sử dụng tài sản trí tuệ của mình vào nhiều mục đích khác nhau khi họ đã
biết đến nó. Đặc trưng này của tài sản trí tuệ nói chung đòi hỏi pháp luật phảI
đảm bảo cho chủ sở hữu trí tuệ quyền được công bố công khai hay không
công bố công khai tài sản trí tuệ do mình tạo ra hoặc do mình đầu tư để tạo ra.
Cho dù chưa xét đến khía cạnh thương mại của sự bảo hộ này thì việc giữ bí
mật tài sản trí tuệ do mình tạo ra hoặc do mình đầu tư tà sản để tạo ra vẫn là
một quyền dân sự cơ bản của cá nhân nhằm đảm bảo cho cá nhân được quyền
quản lý và kiểm soát tài sản trí tuệ của mình tránh các hành động chiếm đoạt
hoặc lợi dụng tài sản trí tuệ đó.[14]
1.1.4. Ý nghĩa thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh.
Ngoài các quan điểm lý luận trên đây, việc bảo hộ bí mật kinh doanh
còn bắt nguồn từ những ý nghĩa thực tiễn của việc bảo hộ.
Ngày nay, hàm lượng chất xám cần có trong hoạt động kinh doanh là
vô cùng lớn. Để có được hàm lượng chất xám trong hoạt động kinh doanh của
mình, các chủ thể kinh doanh phải không ngừng đầu tư nghiên cứu và sáng
tạo. Chính vì vậy, tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp rất đa dạng về loại
hình và mức độ giá trị. Cho nên, cần phải phát triển nhiều hình thức và cơ chế
bảo hộ nhằm tối đa hoá sự bảo hộ của nhà nước đối với các loại tài sản trí tuệ
của doanh nghiệp.
Ở một khía cạnh khác, sự bảo hộ tài sản trí tuệ trên thực tế rất phù hợp
với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự hạn chế về vốn dẫn đến sự hạn chế về phát
triển công nghệ dẫn đến việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể đủ sức
để tạo ra một tài sản trí tuệ được cấp bằng sáng chế cũng như khó có thể có đủ
tiền để trả chi phí cho việc nép đơn cấp bằng sáng chế. Cơ chế bảo hộ bí mật
kinh doanh tạo ra sự dễ dàng và Ýt tốn kém trong việc xác lập và kiểm soát
quyền vì vậy nó thích hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bảo vệ tài sản trí
tuệ của mình. [7]

dùng của khách hàng; đặc điểm của khách hàng thân thiết; phương án cung
ứng, lưu trữ chăm sóc khách hàng; kế hoạch, chiến lược kinh doanh, tiếp thị,
quảng cáo; ý tưởng kinh doanh; kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trường…
Đó cũng có thể là các thông tin tài chính: cấu trúc giá thành, phương án
đầu tư, chính sách hoa hồng, chi phí…
Ngoài ra, các bí mật về sơ suất hay thất bại của doanh nghiệp cũng
được coi là bí mật kinh doanh: nguyên nhân thất bại trong giải pháp khắc
phục kỹ thuật, nguyên nhân thất bại trong sản xuất một sản phẩm mới, kinh
nghiệm sai sót trong marketing, các khiếu nại, tranh chấp được xử lý kín…
Mặc dù rất đa dạng về loại hình nhưng các thông tin mà các nhà kinh
doanh coi là bí mật kinh doanh đều có các đặc điểm sau:
a) Đặc điểm về tính thông tin của bí mật kinh doanh.
Tính thông tin của bí mật kinh doanh thể hiện ở chỗ bí mật kinh doanh
phải mang đến cho những người có khả năng tiếp cận nó những nhận thức,
những hiểu biết nhất định về một sự vật, một hiện tượng nào đó trong thế giới
khách quan. Thông tin là bí mật kinh doanh có thể tồn tại hoặc được thể hiện
dưới những dạng vật chất hữu hình, cụ thể như tài liệu, sách vở chứa đựng
thông tin, mô hình, mẫu vật… nhưng bí mật kinh doanh không đồng nhất với
những vật chất đó. Bí mật kinh doanh, một mặt, là kết quả của hoạt động nhận
thức, trí tuệ của con người được thể hiện, tái tạo lại thông qua các vật chất
hữu hình nói trên, mặt khác, con người muốn biết, muốn nhận thức được bí
mật kinh doanh thì phải thông qua hoạt động nhận thức của trí tuệ. Chính vì
vậy, bí mật kinh doanh là một loại tài sản trí tuệ của người kinh doanh.
b) Đặc điểm về tính bí mật của thông tin.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất và có tính chất quyết định của bí mật kinh
doanh. Nếu một loại thông tin mà không có tính bí mật thì không thể được
xem là bí mật kinh doanh được cho dù nó có thể có chức năng thông tin, có
thể có giá trị đối với hoạt động kinh doanh.
Thông tin có tính chất bí mật nghĩa là phạm vi những người biết đến
thông tin rất hạn chế. Mặt khác, những người quan tâm đến thông tin cũng

hiện ở mức độ đầu tư thời gian, công sức để tạo ra hoặc thu thập thông tin.
Giá trị của thông tin cũng có thể thể hiện ở những khoản lợi mà chủ sở hữu
thu được khi biết và sử dụng thông tin. Đôi khi, giá trị của thông tin là bí mật
kinh doanh còn thể hiện ở sự mất mát, thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịu
hoặc khoản lợi mà người không phải là chủ sở hữu được hưởng nếu thông tin
đó bị tiết lé, bị người khác biết hoặc sử dụng.
d) Đặc điểm về khả năng sử dụng của thông tin.
Thông tin là bí mật kinh doanh phải là thông tin có khả năng được sử
dụng bởi chủ sở hữu hoặc người khác. Một thông tin được thu thập, lưu giữ
nhưng không có khả năng được sử dụng bởi chính chủ sở hữu hoặc người
khác thì không được coi là bí mật kinh doanh và cũng không được chủ sở hữu
giữ bí mật.
Nh vậy, trên thực tế, bí mật kinh doanh là loại thông tin có tính chất bí
mật, có giá trị và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.
Ở nước ta, sự bảo hộ chính thức của pháp luật đối với bí mật kinh
doanh bắt đầu từ năm 2000, trong Nghị Định 54/2000/NĐ - CP. Tại Nghị
định này ghi nhận “bí mật kinh doanh là thành quả đầu tư dưới dạng thông
tin” và phải thoả mãn các điều kiện mà pháp luật qui định. Với cách quy định
này thì thực chất pháp luật chưa đưa ra được khái niệm của bí mật kinh doanh
mà chỉ mới đề cập đến các điều kiện để một thông tin được bảo hộ như là một
bí mật kinh doanh.
Luật SHTT ra đời đánh dấu một sự phát triển mới trong khoa học pháp
lý về bí mật kinh doanh ở Việt Nam. Luật SHTT đã đưa ra khái niệm đầu tiên
về bí mật kinh doanh. Theo khoản 23 - Điều 5 – Luật SHTT thì : “bí mật kinh
doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư, tài chính, trí tuệ, chưa được
bộc lé và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.
Khái niệm bí mật kinh doanh nói trên đã phản ánh được những đặc
điểm mang tính bản chất của bí mật kinh doanh nh tính thông tin, tính bí mật
và khả năng được sử dông .
Trên thực tế, ngoài ba đặc điểm này, bí mật kinh doanh còn mang tính

Thứ nhất, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh là một
quyền có tính thực tế của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật
kinh doanh. Cơ sở của quyền này là sự độc quyền thực tế của chủ thể quyền
đối với một tập hợp thông tin nhất định. Mặt khác, sự bảo vệ quyền chủ thể
gần như phụ thuộc vào sự toàn diện và hiệu quả của các biện pháp mà chủ thể
quyền áp dụng để bảo vệ sự độc quyền của mình. Sự bảo vệ quyền có tính
pháp lý thông thường chỉ được áp dụng khi có sự xâm phạm của chủ thể khác.
Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh không bị
hạn chế về thời hạn bảo hộ. Quyền của chủ thể đối với bí mật kinh doanh
được bảo hộ khi độc quyền thực tế của chủ thể đối với thông tin còn tồn tại và
thông tin đó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do pháp luật quy định. Đặc điểm này
làm cho việc lùa chọn phương thức bảo hộ đối tượng với bí mật kinh doanh
trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà kinh doanh, đặc biệt là khi mà nguyên tắc
bảo hộ có thời hạn không làm thoả mãn lợi Ých kinh doanh của họ.
Thứ ba, với tư cách là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ – quyền sở hữu
trí tuệ với bí mật kinh doanh không đòi hỏi sự công nhận chính thức khả năng
được bảo hộ, không đòi hỏi việc đăng ký thông qua các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, không đòi hỏi việc thực hiện bất cứ một thủ tục mang tính chất
hình thức hay việc trả lệ phí. Điều này cũng có ý nghĩa đối vơí việc lùa chọn
phương thức bảo hộ bí mật kinh doanh cho đối tượng là kết quả của hoạt động
sáng tạo của con người
1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA BÍ MẬT KINH DOANH VÀ CÁC ĐỐI
TƯỢNG KHÁC CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ.
Khi chóng ta phân tách một cách rõ ràng các loại tài sản trí tuệ để bảo
hộ và và từ đó thiết lập từng cơ chế bảo hộ riêng rẽ cho mỗi đối tượng thì sẽ
phát sinh vấn đề là thực tế có những tài sản trí tuệ có thể là các đối tượng
khác nhau của quyền sở hữu trí tuệ hoặc một tài sản trí tuệ nhưng có thể được
bảo hộ bằng các hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khác nhau. Đặt trong
phạm vi nghiên cứu của luận văn về bí mật kinh doanh, phần này sẽ tập trung
làm rõ mối tương quan giữa bí mật kinh doanh với các đối tượng sở hữu trí

sáng chế kể cả trong trường hợp người khác tìm ra sáng chế, thiết kế bố trí từ
việc phân tích các sản phẩm được bán hợp pháp trên thị trường.
Đối với sáng chế hoặc bố trí thiết kế đang trong quá trình nép đơn xin
cấp văn bằng bảo hộ mà bị xâm phạm thì được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ bí
mật kinh doanh.
Nh vậy, theo pháp luật hiện hành mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh
và sáng chế hoặc thiết kế bố trí đã khá rõ ràng và đã có cơ chế để giải quyết
sự giao thoa giữa chúng.
1.3.2. Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với nhãn hiệu, kiểu
dáng công nghiệp.
Theo quy định tại Điều 4 - Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng
để phân biệt hàng hoá dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
“Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được
thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố
này.”
Cả nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp đều là yếu tố bên ngoài sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ nhưng nó đều thể hiện sự sáng tạo của trí tuệ con
người nhằm làm nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp muốn được bảo hộ đều phải đáp ứng
những điều kiện nhất định và phải được cấp bằng bảo hộ. Kể từ khi được bảo
hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp phải mô tả công khai
các thông tin liên quan đến nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp đã được bảo
hộ và được bảo hộ bằng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp.
Hiện nay luật thực định và thực tiễn pháp lý Việt Nam chưa có quy
định còng nh án lệ để về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp đang trong quá
trình nghiên cứu thử nghiệm. Theo tác giả, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp
đang trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm có thể được coi là bí mật kinh
doanh của doanh nghiệp nếu được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần
thiết. Trong trường hợp có hành vi thu thập, bộc lé hoặc sử dụng nhãn hiệu,
hoặc kiểu dáng công nghiệp của chủ thể khác một cách hợp pháp thì có thể

kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực. Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
được coi là hành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đực kinh doanh.
Vì vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh cũng cho phép các chủ thể
chống lại hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm mục đích cạnh tranh
không lành mạnh.
Như vậy, có thể nói, cả quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh
doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạng đều ghi nhận cho chủ sở
hữu quyền chống lại hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm mục đích
cạnh tranh không lành mạng. Sự bảo hộ như vậy có thể dẫn đến một vướng
mắc: trong trường hợp có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh và nhằm mục
đích cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng cơ chế bảo hộ nào để giải quyết:
theo Luật SHTT hay theo Luật cạnh tranh.
Pháp luật thực định Việt Nam chưa giải quyết vấn đề này một cách rõ
ràng, thống nhất. Điều 130 – Luật SHTT khi quy định về các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp đã không liệt kê
hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhưng trong Luật cạnh tranh lại ghi
nhận hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Cả hai văn bản này đều là văn bản luật nên có giá trị pháp lý ngang
nhau, vì vậy, người áp dụng sẽ lúng túng không biết áp dụng theo luật nào.
Theo tác giả, về mặt lý thuyết, một hành vi xâm phạm bí mật kinh
doanh nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh (hành vi xâm phạm bí mật
kinh doanh của đối thủ cạnh tranh) có thể bị áp dụng cả cơ chế xử lý của Luật
SHTT và Luật cạnh tranh.
1.3.4. Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với các đối tượng của
quyền tác giả.
Quyền tác giả theo nghĩa rộng bảo gồm cả quyền tác giả và quyền liên
quan đến quyền tác giả. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tác phẩm do mình tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm cả chương trình máy tính và
cơ sở dữ liệu. Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể tích
luỹ cho mình nhiều loại thông tin (kể cả thông tin thu được trên thị trường và
thông tin do mình tạo ra) nhằm đảm bảo cho công việc kinh doanh đạt hiệu
quả cao nhất. Các thông tin mà các thương nhân tích luỹ được có thể có giá trị
hoặc không có giá trị đối với công việc kinh doanh của họ. Tuy nhiên, lẽ
thường là các thương nhân chỉ giữ lại những thông tin có lợi cho công việc
của mình. Sự tích luỹ thông tin này có thể có hoặc không đi kèm với sự bảo
mật thông tin. Tuy nhiên, không phải thông tin nào có giá trị, có Ých đối với
công việc kinh doanh của chủ sở hữu cũng được bảo hộ với tư cách là bí mật
kinh doanh.
Với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bí mật kinh
doanh chỉ được bảo hộ khi nó là sản phẩm của hoạt động trí tuệ. Hơn nữa, sản
phẩm trí tuệ này không phải là hiểu biết thông thường, có nghĩa là biết mà
một người có kiến thức trung bình trong lĩnh vực đó không thể biết được. Mặt
khác, để biết được thông tin đó con người phải đầu tư về thời gian, nổ lực,
kinh nghiệm và cả tiền bạc mới có thể tạo ra thông tin.
Với nghĩa nh vậy kiến thức chung và kiến thức phổ thông có trong các
sách giáo khoa, giáo trình hoặc các sách báo có bán rộng rãi trên thị trường
không phải là bí mật kinh doanh.
Kiến thức mà bất kỳ một người nào quan tâm đến kiến thức đó cũng có
thể dễ dàng tìm thấy trong các nguồn thông tin, tư liệu công cộng cũng không
phải là bí mật kinh doanh.
Tuy nhiên, một kiến thức mới được tạo ra từ những kiến thức chung
hoặc kiến thức phổ thông hoặc tạo ra từ nhiều nguồn thông tin, tư liệu công

Trích đoạn Xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh bằng biện pháp hình sự. Tăng cường hợp tác quốc tế và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước về bảo hộ bí mật kinh doanh. Hoàn thiện quy định về các căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh. Hoàn thiện các quy định về việc xác định hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Kết hợp giữa pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh với một số lĩnh vực pháp luật khác.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status