Áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại tòa án nhân dân thành phố hà nội - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------

LƢU THỊ THƢƠNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------

LƢU THỊ THƢƠNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp

HN&GĐ:

Hôn nhân và gia đình

NĐ:

Nghị định

TAND TP:

Tòa án nhân dân thành phố

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TTDS:

Tố tụng dân sự

UTTP:

Ủy thác tƣ pháp


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..............................................................................................
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................

2.2.2.1. Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với
công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài ......................................................... 35
2.2.2.2. Đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước
ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn. ................. 39
2.2.2.3. Đối với trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người
nước ngoài mà việc kết hôn đó được công nhận tại Việt Nam, nay người Việt
Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn ................................................ 40
2.2.2.4. Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với
người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài .................................................. 41
2.2.3. Giải quyết hậu quả pháp lý .................................................................. 41
2.2.3.1. Quan hệ nhân thân ............................................................................. 42
2.2.3.2. Phân chia tài sản và xác định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và
chồng………………………………………………………………………...42
2.2.3.3. Xác định quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng .............................. 57
2.3. Một số vấn đề khó khăn trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội................................... 60
2.3.1. Khó khăn trong vấn đề ủy thác tư pháp (UTTP) .............................. 61
2.3.1.1. Việc ủy thác thu thập chứng cứ .......................................................... 61
2.3.1.2. Về thời gian thực hiện ủy thác tư pháp .............................................. 63
2.3.1.3. Về địa chỉ đương sự ở nước ngoài ..................................................... 63
2.3.2. Khó khăn về thời hạn giải quyết.......................................................... 66
2.3.2. Khó khăn trong việc áp dụng quy định pháp luật .............................. 67
2.3.4. Một số khó khăn bất cập khác ............................................................. 68
2.4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài ...................................................................................................... 69
2.4.1. Kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện pháp luật ................................. 69
2.4.1.1. Đối với Bộ luật TTDS ......................................................................... 69


2.4.1.2. Đối với Luật Hôn nhân và gia đình ................................................... 69

thi hành và các Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp với các nƣớc có những quy định
mới phù hợp với thực tiễn xét xử đã góp phần giải quyết một lƣợng lớn vụ
việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại Việt Nam trong những năm vừa qua.
Tuy vậy, thực tiễn xét xử đã phát sinh một số vƣớng mắc, bất cập nhƣ vấn đề
ủy thác tƣ pháp, xác định thẩm quyền xét xử, việc giải thích các thuật ngữ
pháp lý vẫn chƣa thống nhất khiến cho vụ việc kéo dài, không bảo đảm quyền
lợi của các đƣơng sự. Khi áp dụng vào thực tế công tác xét xử còn nhiều quan
điểm trái ngƣợc nhau nên đã xảy ra tình trạng không nhất quán trong cách


2

hiểu cũng nhƣ cách giải quyết. Bên cạnh đó cũng có nhiều vấn đề trong quan
hệ này mà pháp luật chƣa điều chỉnh kịp thời dẫn đến trong công tác xét xử
của ngành Tòa án trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, vƣớng mắc.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, với thực trạng nền kinh tế
thị trƣờng và xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vấn đề ly
hôn có yếu tố nƣớc ngoài ở Việt Nam ngày càng phong phú và cũng nảy sinh
nhiều tranh chấp phức tạp. Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn xét xử các vụ
án ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại TAND TP Hà Nội trong thời gian qua cho
thấy, hàng năm Tòa án này đã thụ lý và giải quyết hàng trăm vụ việc ly hôn
có yếu tố nƣớc ngoài. Nhiều vụ án phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục
chƣa cao, có những bản án, quyết định của Toà án vẫn bị coi là chƣa "thấu
tình, đạt lý", có nhiều vụ án còn để kéo dài. Sở dĩ còn tồn tại những bất cập
trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Xuất phát từ những vấn đề trên, ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài cần đƣợc
quan tâm nghiên cứu, phân tích và làm sáng tỏ để tìm ra biện pháp giải quyết
hiệu quả nhất. Với tất cả lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp
luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội” để làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình.

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật Việt Nam và
thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại TAND
TP Hà Nội hiện nay để từ đó đƣa ra phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nƣớc
ngoài ở nƣớc ta trong thời gian tới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các quy định hiện hành của pháp luật Việt
Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài ở
TAND TP Hà Nội hiện nay. Đối với các vấn đề khác nhƣ thủ tục công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nƣớc
ngoài, việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài, công tác thi hành án dân sự đối với
các bản án ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài tác giả không đề cập nghiên cứu trong
luận văn này.


4

4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ thêm một số vấn
đề trong thực tiễn áp dụng giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài, thực trạng
nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam, thực trạng ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài ở Việt Nam hiện nay và đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn có yếu
tố nƣớc ngoài ở nƣớc ta nói chung và tại TAND TP Hà Nội nói riêng trong
thời gian tới.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu khái lƣợc các quy định của pháp luật Việt Nam, một số Điều
ƣớc Quốc tế về vấn đề ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài mà Viêt Nam ký kết và

luận văn gồm 2 chƣơng sau đây:
Chƣơng 1: Khái quát chung về ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài theo quy định
của pháp luật Việt Nam
Chƣơng 2: Áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại
TAND TP. Hà Nội và một số kiến nghị.


6

Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
"Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân. Nếu kết hôn là hiện tượng bình
thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình
thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan
hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ"1. Pháp luật Việt Nam ghi nhận và tôn trọng
quyền ly hôn của cá nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ly hôn gắn liền
với thủ tục, thẩm quyền, và sự kiểm soát giải quyết việc ly hôn của cơ quan
nhà nƣớc. Thẩm quyền tài phán nói chung, thẩm quyền giải quyết ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài nói riêng đƣợc xác định dựa trên cơ sở các nguyên tắc về
chủ quyền tài phán quốc gia.
Ở Việt Nam, vấn đề ly hôn đƣợc quy định tại nhiều văn bản pháp luật
khác nhau. Khoản 1 Điều 39 của BLDS 2015 quy định “Cá nhân có quyền kết
hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con,
quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân
khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các
thành viên gia đình”. Tuy nhiên, chế định ly hôn chỉ có trong Luật HN&GĐ,
khái niệm ly hôn đƣợc quy định rõ tại khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm
2014, theo đó “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết

1.1.2. Đặc điểm quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Với khái niệm trên thì có thể xác định vụ việc ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
nếu có một trong bốn đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể:
Khoản 25 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích: “Quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất
một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài”. Để xác định tƣ cách chủ thể trong ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài ta căn
cứ vào quốc tịch của các bên chủ thể. Khi có ít nhất một bên chủ thể là ngƣời
nƣớc ngoài thì vụ việc ly hôn đó đƣợc xác định là có yếu tố nƣớc ngoài.
Tại Việt Nam, khái niệm ngƣời nƣớc ngoài đƣợc quy định tại khoản 1
Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cƣ trú của ngƣời nƣớc ngoài tại


8

Việt Nam năm 2014: “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định
quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá
cảnh, cư trú tại Việt Nam.” Tại Điều 3 Luật quốc tịch năm 2008 tuy không
đƣa ra khái niệm Ngƣời nƣớc ngoài nhƣng Luật có giải thích: 1.Quốc tịch
nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt
Nam; 2. Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và
cũng không có quốc tịch nước ngoài. Nhƣ vậy, theo pháp luật Việt Nam
ngƣời nƣớc ngoài là ngƣời không có quốc tịch Việt Nam; có thể là ngƣời có
một hoặc nhiều quốc tịch nƣớc ngoài; cũng có thể là ngƣời không có quốc
tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nƣớc ngoài. Ví dụ, ly hôn giữa
công dân Việt Nam với công dân Hàn Quốc tại Việt Nam thì công dân Hàn
Quốc tại Việt Nam đƣợc gọi là ngƣời nƣớc ngoài và đây là quan hệ ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài.
Thứ hai, về nơi cƣ trú:

d) Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt
Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc
dân sự.
Nhƣ vậy, mặc dù Nghị quyết này không còn hiệu lực do Bộ luật TTDS
năm 2004 đã hết hiệu lực nhƣng về cơ bản hƣớng dẫn nội dung “đương sự ở
nước ngoài” vẫn phù hợp, làm cơ sở cho việc xác định những vấn đề liên
quan. Dấu hiệu nơi cƣ trú của đƣơng sự đƣợc hiểu là đƣơng sự (ngƣời nƣớc
ngoài hay ngƣời Việt Nam) cƣ trú ở đâu thì tòa án ở đó có thẩm quyền giải
quyết: Vụ án ly hôn đƣợc xác định có yếu tố nƣớc ngoài khi đƣơng sự là
ngƣời nƣớc ngoài không định cƣ, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam hay
đƣơng sự là ngƣời Việt Nam định cƣ, làm ăn, học tập, công tác ở nƣớc ngoài
có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý; đƣơng
sự là ngƣời nƣớc ngoài định cƣ, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam hay
đƣơng sự là ngƣời Việt Nam định cƣ, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam
nhƣng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý thì Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết.
Thứ ba, về sự kiện pháp lý:


10

Để xác định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài theo dấu
hiệu sự kiện pháp lý, khoản 25 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích:
quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam
nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Với quy định trên, có thể hiểu trong một số
trƣờng hợp nhất định, pháp luật Việt Nam thừa nhận việc phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau
phát sinh tại nƣớc ngoài, theo pháp luật nƣớc ngoài. Ví dụ, theo pháp luật
Anh, điều kiện kết hôn do pháp luật của nƣớc nơi đƣơng sự đang cƣ trú quyết

lƣu ý rằng nếu tài sản đó là bất động sản ở nƣớc ngoài thì sẽ phải tuân theo
pháp luật nơi có bất động sản (Khoản 3 Điều 127 Luật HN&GĐ năm 2014).
Ngoài ra, có thể thấy rằng, yếu tố “tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc
ngoài” không chỉ xảy ra giữa công dân Việt Nam với nhau mà còn tồn tại
trong cả quan hệ giữa công dân Việt Nam với ngƣời nƣớc ngoài. Trong quan
hệ này, chỉ cần xét đến dấu hiệu chủ thể chúng ta có thể xác định đây là quan
hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài; mặc dù vậy, đối với từng dấu hiệu và từng
quan hệ sẽ có cách giải quyết khác nhau, do đó cần phải phân tích kỹ để áp
dụng pháp luật giải quyết đƣợc đúng đắn.
Nhƣ vậy, pháp luật Việt Nam đã liệt kê các quan hệ HN&GĐ có yếu tố
nƣớc ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài nói riêng. Với quy định
của pháp luật hiện hành, ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài vẫn chƣa đƣợc liệt kê
đầy đủ và kịp thời để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trên thực tế (Chẳng
hạn nhƣ vụ việc ly hôn giữa hai công dân Việt Nam với nhau tại Tòa án Việt
Nam nhƣng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở nƣớc ngoài thì đƣợc xác
định và giải quyết nhƣ thế nào?,…). Chúng ta có thể đƣa ra kết luận: vụ việc
ly hôn khi có một trong bốn dấu hiệu: chủ thể, nơi cƣ trú, sự kiện pháp lý,
khách thể ở nƣớc ngoài thì sẽ đƣợc giải quyết theo pháp luật về ly hôn có yếu
tố nƣớc ngoài.
1.2 Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nƣớc ngoài
1.2.1. Hệ thống pháp luật trong nước
Hiến pháp


12

Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống
pháp luật Việt Nam, trong đó quy định những nguyên tắc cơ bản về mặt pháp
lý đối với tất cả những vấn đề quan trọng của đất nƣớc. Hiến pháp không có

chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại Việt Nam nói riêng.
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Bộ luật TTDS năm 2015 đã dành riêng phần thứ năm quy định thủ tục
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nƣớc ngoài, công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nƣớc ngoài và
phần thứ tám quy định thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nƣớc
ngoài. So sánh với Bộ luật TTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011),
điểm nổi bật là các điều luật trong phần thứ năm Bộ luật TTDS năm 2015 cơ
bản đƣợc giữ nguyên. Điều này chứng tỏ sự quan tâm từ rất sớm của Nhà
nƣớc ta đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài, trong đó có quan hệ
về ly hôn.
Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành
Là Luật chuyên ngành nên Luật HN&GĐ 2014 quy định khá rõ ràng về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài tại chƣơng VIII với mƣời
điều luật (Từ Điều 121 đến Điều 130). Vấn đề ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
đƣợc quy định cụ thể tại Điều 127 và bổ sung tại các điều còn lại quy định ở
chƣơng VIII Luật HN&GĐ 2014. Ngoài ra, một số văn bản pháp luật khác
cũng góp phần điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố nƣớc ngoài nói chung
và ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài nói riêng nhƣ: Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa
đổi, bổ sung năm 2014); Luật Tƣơng trợ tƣ pháp năm 2007; Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Bình đẳng giới năm 2006;…
Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài thì các văn
bản hƣớng dẫn thi hành giữ vị trí vô cùng quan trọng nhƣ Nghị định số
126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số
01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc
giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình; Thông tƣ liên
tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/6/2016 hƣớng dẫn áp



pháp lý nhƣ: Đƣợc hình thành lâu đời và áp dụng liên tục; nội dung cụ thể, rõ


15

ràng, không trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; đƣợc các quốc gia
thừa nhận và có giá trị pháp lý bắt buộc…
Ở Việt Nam, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế đƣợc quy định Điều
666 BLDS năm 2015, theo đó, Tập quán quốc tế sẽ đƣợc áp dụng để điều
chỉnh quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài, nếu pháp luật
trong nƣớc và Điều ƣớc quốc tế có liên quan không có quy định điều chỉnh;
đồng thời việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.3. Pháp luật Việt Nam về giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.3.1. Giải quyết xung đột pháp luật trong việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chúng ta biết rằng, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia
có sự khác nhau nên pháp luật của mỗi nƣớc cũng sẽ có những quy định khác
nhau về giải quyết ly hôn. Do đó, dẫn đến hiện tƣợng xung đột pháp luật
trong khi giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài. Xung đột pháp luật là hiện
tƣợng pháp luật của hai hay nhiều nƣớc khác nhau cùng có thể đƣợc áp dụng
để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nƣớc ngoài2.
Việc giải quyết xung đột trong lĩnh vực này là một yêu cầu đầu tiên và
quan trọng trong đời sống dân sự quốc tế. Giải quyết xung đột pháp luật đƣợc
hiểu là việc các quốc gia lựa chọn một hệ thống pháp luật có liên quan để áp
dụng giải quyết một quan hệ pháp luật phát sinh. Nhìn chung, trong việc giải
quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài, luật pháp các nƣớc áp dụng nguyên tắc
luật quốc tịch, luật nơi cƣ trú, luật của nƣớc có Tòa án hay áp dụng phối hợp
các nguyên tắc này để giải quyết ly hôn.
Ở Việt Nam, việc giải quyết xung đột pháp luật trong ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài tuân theo nguyên tắc luật quốc tịch kết hợp với luật nơi cƣ trú của

Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.” Nhƣ vậy,
pháp luật nƣớc ngoài đƣợc áp dụng để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài, đây là điều hết sức cần thiết. Việc áp dụng pháp luật nƣớc nào
không phải do ý chí chủ quan của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền mà do sự
dẫn chiếu của quy phạm xung đột.
Theo 127 Luật HN&GĐ năm 2014, ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài đƣợc giải
quyết nhƣ sau:


17

“1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người
nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt
Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp
luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi
thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân
theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
Quy định trên thể hiện rõ sự tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân Việt Nam cũng nhƣ ngƣời nƣớc ngoài khi họ xin ly hôn tại Tòa
án có thẩm quyền Việt Nam; đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Để giải
quyết xung đột pháp luật, Việt Nam đã áp dụng các hệ thuộc luật nhƣ: Luật
nơi thƣờng trú chung của vợ, chồng (Khoản 1, khoản 2 Điều 127 Luật
HN&GĐ năm 2014); Luật nơi có bất động sản (Khoản 3 Điều 127 Luật
HN&GĐ năm 2014).
Ngoài ra, theo các HĐTTTP, để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc
ngoài, Việt Nam còn áp dụng hệ thuộc Luật Quốc tịch (Ví dụ: Khoản 1 Điều
26 Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hòa

năm 2000, đây là quy định mới, hoàn toàn phù hợp và tránh trùng lặp với quy
định của Bộ luật TTDS.
Thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài đã đƣợc quy định chi tiết tại Bộ luật TTDS. Điều 35 Bộ luật
TTDS năm 2015 quy định:
“3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho
cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài,
cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản
4 Điều này.
4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc
kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status