ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH HOA
THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT LY HÔN
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS ĐOÀN NĂNG HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI VÀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI 8
1.1. Khái niệm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài và đặc điểm điều chỉnh pháp lý
quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài 8
1.1.1 Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài. 8
2.2.2 Các Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam với các nước 80
2.3. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam ………………………………… 91
Chƣơng 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN
GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 98
3.1. Thực trạng tình hình giải quyết ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài ở Việt Nam . 98
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố
nƣớc ngoài ở Việt Nam và các giải pháp đồng bộ 126
3.2.1 Hoàn chỉnh các tiêu chí xác định thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài 126
3.2.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể. 127
3.2.3 Ký kết hoặc tham gia và đảm bảo hiệu quả việc thực hiện các điều ước quốc
tế về tương trợ tư pháp trong việc xác định thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố
nước ngoài. 130
3.2.4 Cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Tòa án và Bộ Tư pháp, các cơ quan
đại diện ngoại giao của nước ta ở nước ngoài trong việc ủy thác tư pháp 132
3.2.5 Phân công các Thẩm phán chuyên trách giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu
tố nước ngoài. 134
3.2.6 Tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Tòa án am hiểu về Tư pháp quốc tế,
chuyên sâu về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 136
3.2.7 Cải thiện từng bước cơ sở vật chất và hoàn thiện tổ chức của ngành Tòa án.137
KẾT LUẬN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Danh sách các nước và loại giấy tờ được miễn hợp pháp hoá lãnh sự khi
sử dụng tại Việt Nam tính đến tháng 7 năm 2012 theo thống kê của Cục Lãnh sự Bộ
Ngoại Giao Việt Nam 84 Bảng 2.2: Danh sách các nước và loại giấy tờ được miễn hợp pháp hoá lãnh sự khi
sử dụng tại Việt Nam cho đến hết ngày 31/5/2012 theo thống kê của Cục Lãnh sự
Bộ Ngoại Giao Việt Nam. 90
Quan hệ pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam lần đầu được
quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày
29/12/1986 có hiệu lực thi hành từ ngày 03/01/1987. Tuy nhiên, trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986 đã không quy định như thế nào là ly hôn có yếu tố nước
ngoài và cũng không quy định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài theo thủ tục sơ thẩm, trình tự thủ tục giải quyết tại Tòa án cấp sơ
thẩm là như thế nào?
Trong thông tư liên ngành số 06/TTLN ngày 30/12/1986 của Tòa án nhân
dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp đã hướng dẫn về thẩm
quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân cấp tỉnh và hướng dẫn về thủ
2
tục trong quá trình giải quyết vụ án, theo đó Tòa án nhân dân tối cao còn có nhiều
văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết.
Trong Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày 09/6/2000
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001, được sửa đổi, bổ sung năm 2010, đã có
nhiều quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân Tối cao cũng đã ra Nghị quyết hướng dẫn về ly hôn có yếu tố nước ngoài. Bên
cạnh đó, tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định tương trợ
tư pháp với các nước về lĩnh vực này.
Tuy nhiên, thực tiễn sinh động luôn đặt ra cho người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng những vấn đề “mới” mà những vấn đề này lại chưa có hướng dẫn nên
còn có những ý kiến khác nhau về những vấn đề mới đó, dẫn đến việc áp dụng pháp
luật không thống nhất.
Thực tế xét xử ở nước ta và đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh những
năm gần đây cho thấy tình hình ly hôn có yếu tố nước ngoài tăng cao và diễn ra hết
sức phức tạp do việc mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu mọi mặt về kinh tế, văn
hóa, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm cho quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Cùng với việc gia tăng số lượng
các quan hệ hôn nhân là việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đã và đang ngày càng trở
cũng như cán bộ Tòa án hiện nay. Theo đó, trình độ kiến thức về Tư pháp quốc tế
của đội ngũ Thẩm phán cũng như cán bộ Tòa án sẽ được cải thiện và nâng lên đáng
kể.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Để đạt được mục tiêu tổng quát ở trên, tác giả cần làm rõ các vấn đề sau:
- Trước hết tác giả cần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng như lý luận cơ bản về thẩm quyền giải quyết ly
hôn có yếu tố nước ngoài, rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
- Tiếp theo tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật
Việt Nam và Điều ước quốc tế về phân định thẩm quyền trong lĩnh vực ly hôn có
yếu tố nước ngoài chung trên thế giới và ở Việt Nam.
4
- Bằng những vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cụ thể, tác giả phát hiện,
tổng hợp các vướng mắc, tồn tại trong việc xác định thẩm quyền giải quyết ly hôn
có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam.
3. Tình hình nghiên cứu luận văn:
Việc nghiên cứu thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm như sách chuyên khảo của TS. Nông
Quốc Bình và TS. Nguyễn Hồng Bắc về: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài. Những vấn đề lý luận và thực tiễn” NXB Tư Pháp 2011; luận văn thạc sĩ: “
Một số vấn đề pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh; luận văn thạc sĩ: “Vấn đề ly hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Bùi Thị
Minh Nhã hay luận văn thạc sĩ: “Thẩm quyền của Tòa án trong Tư pháp Quốc tế” của
tác giả Nguyễn Quốc Tuấn.
Các bài nghiên cứu này không đi chuyên sâu và toàn diện về thẩm quyền giải
quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và Điều ước
Tư pháp quốc tế là phạm trù điều chỉnh một số vấn đề liên quan đến quan hệ
dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Những vấn đề về Tư pháp quốc tế
trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài rất đa dạng và rộng lớn. Trong luận
văn này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật của một số
nước trên thế giới và Việt Nam về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh quan
hệ này.
Bằng những vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cụ thể tại Việt Nam, tác giả
phát hiện, khái quát những vướng mắc, tồn tại của quy định pháp luật Việt Nam về
thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam. Từ đó, tác
giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết ly
hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
6
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải,
suy luận logic, phương pháp hệ thống, kết hợp giữa lí luận và thực tiễn.
6. Dự kiến đóng góp về khoa học và thực tiễn:
- Luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng như lý luận cơ bản về thẩm quyền giải quyết ly
hôn có yếu tố nước ngoài, kinh nghiệm của một số nước.
- Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành của pháp
luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về phân định thẩm
quyền trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở đó, tác giả tìm ra
những tồn tại trong quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài. Theo đó, quyền lợi của các bên
8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI VÀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ
YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài và đặc điểm điều chỉnh pháp lý
quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1 Khái niệm ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài:
Hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người nam và một
người nữ trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện nhằm xây dựng cuộc sống
gia đình hạnh phúc, bền vững. Tại khoản 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 giải thích: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng
sau khi đã kết hôn”. Nhưng trên thực tế không phải cuộc hôn nhân nào cũng hạnh
Theo pháp luật Việt Nam, cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ hôn nhân
bằng việc ly hôn là một bản án hoặc quyết định của Tòa án. Điều 42 Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết việc ly hôn”; hoặc theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì: “ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do
Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai
vợ chồng”.
Tóm lại, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật trên cơ
sở tự nguyện của ít nhất một bên chủ thể hay cả hai bên (trong trường hợp thuận
tình ly hôn).
Ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 1986 (Quốc hội thông qua ngày 29/12/1986 có hiệu lực thi hành từ ngày
03/01/1987). Tuy nhiên, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã không quy
định như thế nào là ly hôn có yếu tố nước ngoài và cũng không quy định Tòa án nào
có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo thủ tục sơ thẩm, trình tự
thủ tục giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm là như thế nào?
10
Tại Thông tư liên ngành số 06/TTLN ngày 30/12/1986 của Tòa án nhân dân
tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp đã hướng dẫn về thẩm quyền
xét xử theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân cấp tỉnh và hướng dẫn về thủ tục
trong quá trình giải quyết vụ án. Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao còn có nhiều văn
bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết.
Trong Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua ngày 09/6/2000
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010 đã có
nhiều quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao cũng đã ra Nghị quyết hướng dẫn về ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo đó, vấn đề đặt ra là như thế nào là có yếu tố nước ngoài?
Vì trong Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định chung là có yếu tố
nước ngoài mà không quy định rõ có yếu tố nước ngoài là như thế nào. Về vấn đề
thể:
Về chủ thể: có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài. Theo sự trích
dẫn trên thì người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi mà họ đang
cư trú. Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể xảy ra trong các trường hợp:
- Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (giữa công dân Việt Nam
với công dân nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch);
- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam (người nước
ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư
trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam).
- Hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài. Ở đây, yếu tố chủ thể có ít nhất
một bên chủ thể là người nước ngoài không đặt ra mà chỉ xem xét về căn cứ xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài giữa các chủ thể là công
dân Việt Nam với nhau. Việc thừa nhận hệ quả pháp lý trong việc điều chỉnh quan
hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài là một đòi hỏi tất yếu
khách quan, phù hợp xu hướng hội nhập quốc tế và hơn hết đó là bảo vệ kịp thời
12
được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, việc thừa nhận hệ quả
pháp lý này không phải ở tất cả các trường hợp. Ví dụ, nếu việc kết hôn đó trái với
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam như vi phạm nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng, hoặc cố ý lẩn tránh pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và
những trường hợp cấm kết hôn, hoặc đương sự không hoàn tất thủ tục hợp pháp hóa
lãnh sự, thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký thì khi đương sự có yêu cầu ly hôn, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam sẽ không công nhận cuộc hôn nhân đó.
Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác
lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài và khi họ có yêu cầu
giải quyết ly hôn thì đây thuộc trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Hoặc quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan đến
dân Việt Nam với người không quốc tịch; giữa người nước ngoài với nhau thường
trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà có căn cứ để xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên
định cư ở nước ngoài; bản án, quyết định ly hôn của Tòa án hoặc cơ quan khác có
thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
Tóm lại, ly hôn có yếu tố nước ngoài là chấm dứt quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của
chồng hoặc cả hai vợ chồng.
Xoay quanh vấn đề “yếu tố nước ngoài” tác giả vừa phân tích ở trên, nhiều
cán bộ làm công tác thực tiễn có cách hiểu không thống nhất dẫn đến áp dụng luật
khác nhau. Đây là vấn đề rất quan trọng cần được xem xét, nghiên cứu thấu đáo vì
nó quyết định quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hay không sẽ dẫn đến việc
xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án thuộc một quốc gia và cấp Tòa án giải
quyết vụ việc cũng như pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ đó. Về vấn đề này, tác
giả xin phép quay trở lại tìm hiểu kỹ trong chương 3 của luận văn. 14
1.1.2 Đặc điểm điều chỉnh pháp lý quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài:
1.1.2.1 Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, khi các quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng mạnh về số lượng và xuất hiện ngày càng
nhiều vụ án ly hôn phức tạp, việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài mà đặc biệt là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài càng trở nên
cấp thiết. Từ đó, giao lưu dân sự quốc tế phát triển và bảo vệ kịp thời quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân các nước hữu quan.
Nguồn của pháp luật là hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm
pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội nhất định. Từ đây, có thể khái quát nguồn
hôn nhân và gia đình cũng đặt ra. Tại tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam từ Hiến
pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 (được sửa đổi vào năm 2001) đều ghi nhận
quyền về hôn nhân và gia đình là quyền cơ bản của công dân. Tại đây, việc điều
chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể chưa rõ nét nhưng từ các nguyên
tắc cơ bản này của Hiến pháp việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình mà đặc
biệt là quan hệ ly hôn đã được lan tỏa, quy định cụ thể hóa trong các văn bản pháp
luật khác và tất cả đều phải phù hợp với Hiến pháp.
Bộ luật dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006,
thay thế Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua 28/10/1995 và Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế ngày 29/9/1989. Bộ luật Dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực
pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của
các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh thương mại, lao động. Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự
bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong phạm vi đó, quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài mà cụ thể là
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được Bộ luật dân sự điều chỉnh trong phần
16
thứ bảy: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” kết hợp Điều 42 Bộ luật dân sự
quy định chung về quyền ly hôn: “Vợ chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Đây thực sự đã tạo thành các nguyên tắc cơ bản
trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung, quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng tại Việt Nam.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 được Quốc hội thông qua ngày
29/12/1986 có hiệu lực thi hành từ ngày 03/1/1987 đã quy định về ly hôn có yếu tố
nước ngoài. Tiếp theo, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi, bổ sung
năm 2010 đã có những quy định cụ thể hơn như dành toàn bộ chương XI quy định
thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai
hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ
thể của những văn kiện đó” [38, trg 87].
Một điều ước quốc tế được xem là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ nào là
phải căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của nó. Theo đó, các điều ước quốc tế có quy
phạm điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài chính là nguồn pháp luật điều
chỉnh quan hệ này.
Hiện nay, Việt Nam chưa ký kết hay tham gia một điều ước quốc tế đa
phương nào về hôn nhân. Tuy nhiên, Việt Nam đã ký kết 14 hiệp định tương trợ tư
pháp với các nước và ký kết hiệp định lãnh sự với một số nước. Theo đó, xung đột
thẩm quyền, xung đột pháp luật áp dụng đã được giải quyết tại các Hiệp định tương
trợ tư pháp này. Ví dụ Hiệp định Việt Nam – Liên xô cũ, Hiệp định Việt Nam –
Lào, Hiệp định Việt Nam – Bungary có đề cập tới vấn đề thống nhất quy định thẩm
quyền xét xử của Tòa án các nước ký kết. “Các nguyên tắc và quy định trong Hiệp
định tương trợ tư pháp về vấn đề hôn nhân và gia đình mà Việt Nam ký kết với các
nước là cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước ký kết thực hiện việc điều chỉnh
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có liên quan” [3, trg 122].
c, Tập quán quốc tế:
“Tìm hiểu nguồn của pháp luật là tìm hiểu hình thức tồn tại hay nơi ghi nhận
các quy phạm pháp luật. Thông thường các quy phạm pháp luật tồn tại trong các
18
văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, nhiều khi tồn tại ở dưới dạng tập quán
được Nhà nước chấp nhận và bảo đảm thi hành” [55, trg 21].
“Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự phổ biến được thừa nhận và áp
dụng rộng rãi ở một khu vực nhất định (tập quán khu vực) hoặc trên phạm vi toàn
cầu (tập quán toàn cầu). Tập quán quốc tế chỉ có thể trở thành nguồn của Tư pháp
quốc tế khi được pháp luật trong nước quy định áp dụng hoặc được các quốc gia
hữu quan quy định trong điều ước quốc tế hoặc được các bên chủ thể tham gia quan
hệ Tư pháp quốc tế thỏa thuận (với điều kiện việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp