Một số vấn đề pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HOÀNG THÙY DƯƠNG NGỌC ANH

\ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS N ÔNG

HÀ NỘI – 2007 1
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2
Chƣơng 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 7
1.1. KHÁI NIỆM. 7
1.1.1. Ly hôn 7
1.1.2. Ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài. 10
1.2. NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM. 13
1.2.1. Quan hệ về nhân thân. 14
1.2.3. Quan hệ về tài sản sau ly hôn. 15
1.3. ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM. 16
1.3.1. Nguồn pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
16
1.3.2. Phƣơng pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài. 26
Chƣơng 2 42
PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 42

2
3.3.1. Xây dựng một số chế định phù hợp với thực tế của đời sống quốc tế trong
lĩnh vực ly hôn. 102
3.3.2. Những giải pháp nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích chính đáng của
đƣơng sự khi tham gia tố tụng tại Toà án. 106
3.3.3. Tăng cƣờng ký kết, tham gia và đảm bảo hiệu quả việc thực hiện các
ĐUQT về vấn đề hôn nhân gia đình, trong đó có ly hôn với các nƣớc trên thế
giới. 109
3.3.4. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ. 110
3.3.5. Tăng cƣờng cơ sở vật chất. 111
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2000 có hiệu lực từ ngày 01.01.2001 giải thích từ ngữ về
ly hôn tại Điều 8.8 như sau: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà
án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả
hai vợ chồng”. Như vậy, ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật
theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên vợ chồng. Nếu như kết hôn là cơ sở để
hình thành một quan hệ vợ chồng dựa trên sự tự nguyện của các bên chủ thể,
thì ly hôn là sự tự nguyện của ít nhất một bên chủ thể làm cơ sở pháp lý để cơ
quan có thẩm quyền của nhà nước xem xét cho phép ly hôn.
Khi bàn về vấn đề ly hôn, Lê-nin đã khẳng định: “Ly hôn không có
nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình, mà ngược lại, nó củng cố
những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể
có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [71, tr.335], hay theo Ănghen:

mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia. Các quan hệ giữa các quốc gia càng
phát triển thì yếu tố nước ngoài càng xâm nhập mạnh mẽ vào đời sống hôn
nhân và gia đình. Trước đây, do chưa ý thức được tầm quan trọng của yếu tố
nước ngoài trong quan hệ hôn nhân, gia đình và “chưa phải là nhiệm vụ cấp
bách, nên Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa điều chỉnh các quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” [55, tr.134]. LHNGĐ năm 1986 4
được coi là văn bản pháp lý trong nước đầu tiên của Việt Nam ghi nhận các
quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên chỉ gói
gọn trong Chương IX với ba Điều (các Điều 52, 53 và 54), trong đó chỉ quy
định một số nguyên tắc giải quyết và đối tượng là công dân Việt Nam với
người nước ngoài, thì LHNGĐ năm 2000 đã dành đến 07 Điều trong Chương
XI (các Điều từ 100 đến 106), ngoài ra còn được điều chỉnh rải rác tại khoản 2
Điều 2, Điều 7, khoản 14 Điều 8, để quy định về vấn đề này. Trên cơ sở các
quy định này, các văn bản pháp luật quan trọng về ly hôn có yếu tố nước
ngoài lần lượt ra đời. Bên cạnh đó, tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã
ký kết 14 Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) với các nước về lĩnh vực
này. Nói chung, những vấn đề pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển xã hội. Nếu
những vấn đề pháp lý về ly hôn không phù hợp sẽ làm cho xã hội hỗn loan và
hậu quả của nó là làm cho xã hội bị suy yếu. Ngược lại, nếu phù hợp thì
không những làm cho xã hội ổn định mà còn làm cho xã hội vững mạnh. Bởi
vì, như đã trình bày ở trên, ly hôn cũng có những điểm tích cực trong việc
thúc đẩy sự phát triển một xã hội dân chủ, văn minh.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống xã hội và
thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam hiện nay, lĩnh vực này vẫn cần được nghiên cứu, làm sáng
tỏ về những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng nhằm đạt hiệu quả hơn nữa.

Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để tìm ra những
mặt tích cực và chưa tích cực, từ đó đưa ra những kiến nghị về hoàn thiện
pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, cũng như yêu cầu các
cấp có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể hơn nữa những vấn đề liên quan đến ly
hôn có yếu tố nước ngoài trong thực tiễn xét xử của Toà án.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Những vấn đề về Tư pháp Quốc tế trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố
nước ngoài là rất đa dạng và rộng lớn. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi 6
sâu nghiên cứu về các vấn đề pháp lý có liên quan tới ly hôn có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam. Nội dung của Luận văn bao gồm những vấn đề cơ bản
như khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển, nội dung và thực trạng của
pháp luật về vấn đề này, đồng thời đưa ra một số quy định tương ứng của
pháp luật nước ngoài so sánh với các quy định của pháp luật trong nước,
nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu:
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật.
- Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: lịch sử, phân tích, tổng
hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và phương pháp xã hội học để làm sáng
tỏ những vấn đề nghiên cứu.
6. Dự kiến đóng góp về khoa học và thực tiễn:
- Luận văn nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về lý luận và thực
tiễn một số vấn đề pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam;
- Tìm ra những điểm còn tồn tại trong quy định của pháp luật về ly hôn
có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam;

chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị xã hội đều thông qua nhà nước và
bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân nói chung, ly hôn nói riêng phù hợp
với lợi ích của giai cấp mình. Ở hầu hết các nước tư bản, với quan điểm cho
rằng quan hệ hôn nhân là một quan hệ hợp đồng, khi một trong các bên vi
phạm hợp đồng hoặc không muốn duy trình quan hệ hợp đồng đó dẫn đến
việc ly hôn. Ngược lại, với nhiều nước theo đạo giáo, với quan điểm cho rằng
hôn nhân là do Đấng bề trên tạo dựng, cho nên vợ chồng đã lấy nhau thì phải
sống với nhau suốt đời, do đó vấn đề ly hôn không được đặt ra.
Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, quyền ly hôn chỉ dành cho người
chồng, còn người vợ không có được quyền này. Ngày nay, dưới chế độ xã hội 8
dân chủ và văn minh, quyền được tự do ly hôn của phụ nữ luôn được tôn
trọng. Lê-nin đã từng khẳng định về vấn đề này như sau:“Người ta không thể
là một người dân chủ và xã hội chủ nghĩa ngay từ bây giờ, không đòi quyền
hoàn toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với
giới bị áp bức, đối với phụ nữ” [71, tr.163].
Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, pháp luật không thể cưỡng
ép họ yêu nhau phải kết hôn với nhau và cũng không thể bắt buộc họ phải
chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa và mục đích của hôn
nhân không thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ
hôn nhân đã thực sự tan vỡ, nhằm giải phóng cho vợ chồng, con cái thoát khỏi
mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống gia đình, bảo đảm lợi ích của gia đình, lợi
ích của nhà nước và xã hội.
Theo LHNGĐ các nước xã hội chủ nghĩa quy định giải quyết việc ly
hôn theo đúng thực chất vấn đề, hoàn toàn không dựa vào lỗi của vợ chồng
trên cơ sở nhìn nhận đánh giá khách quan đúng thực chất quan hệ hôn nhân đã
hoàn toàn tan vỡ. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền tự do ly hôn khi
quan hệ hôn nhân thực chất không còn tồn tại:

“1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên
bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.
Theo quy định trên, ta thấy trong ly hôn không có yếu tố lỗi, tức là khi
xem xét quyết định cho ly hôn, Toà án chỉ căn cứ vào bản chất của cuộc hôn
nhân mà không xem xét đến yếu tố lỗi của vợ, chồng. Như đã phân tích ở Phần
mở đầu, đơn giản một điều, hôn nhân không thể duy trì được nếu không đạt
được mục đích ban đầu của nó. “Hôn nhân đích thực là điều kiện vun đắp tình
yêu giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nếu sau một thời gian chung
sống, tình yêu không những không được vun đắp, mà còn bị mài mòn và sự mài
mòn không thể cứu chữa” [62] thì hôn nhân là giải pháp hữu hiệu cho cả đôi
bên. 10
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly hôn được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự (BLDS), LHNGĐ. Điều 42 BLDS Việt
Nam năm 2005 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà
án giải quyết việc ly hôn”, hoặc theo quy định tại Điều 8 LNHGĐ năm 2000
thì “ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do toà án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ chồng hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”.
Tóm lại, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật trên
cơ sở sự tự nguyện mà ít nhất một bên chủ thể, đôi khi là cả hai bên (đối với
trường hợp thuận tình ly hôn).
1.1.2. Ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
LHNGĐ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2000 lần
đầu tiên đưa ra khái niệm “quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài”, điều mà trước đây chưa từng một văn bản pháp luật nào về hôn nhân

đăng ký hộ tịch (sau đây gọi là Nghị định 83/CP) về quyền đăng ký kết hôn
giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam. Bởi theo Nghị định 83/CP thì
việc đăng ký kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, bao gồm
cả thường trú và tạm trú, trong đó có thể hiểu là cả những người nước ngoài
vào du lịch, công tác…, nếu có yêu cầu đều sẽ được cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam thực hiện các thủ tục về hôn nhân và gia đình. LHNGĐ năm
2000 quy định chỉ quan hệ ly hôn phát sinh giữa những người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam (nghĩa là có thời gian nhất định chịu sự điều chỉnh
của pháp luật Việt Nam) mới được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài.
- Thứ hai, căn cứ để chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước
ngoài. Nói cách khác, sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra
ở nước ngoài. Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể là công dân nước
ngoài và người không quốc tịch không được đặt ra. Nghĩa là, trong trường
hợp các bên chủ thể tham gia đều là công dân Việt Nam, nhưng nếu sự kiện
pháp lý là chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài, thì quan hệ đó là
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Thứ ba, là tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài. Cũng
giống như yếu tố thứ hai, mặc dù chủ thể của quan hệ là công dân Việt Nam
nhưng tài sản liên quan đến quan hệ không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở 12
nước ngoài, thì quan hệ đó cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài.
Ngoài ra, cũng theo quy định của LNHGĐ năm 2000, tại Điều 104 về
chọn luật áp dụng cho quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì:
1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam
được giải quyết theo quy định của Luật này.

gia đình đã mất hết ý nghĩa.
Cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ vợ chồng bằng việc ly hôn theo
pháp luật Việt Nam là một bản án hay quyết định của Toà án. Điều này được
khẳng định tại Điều 42 BLDS như sau: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có
quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn”; hoặc Điều 8 LHNGĐ giải thích
từ ngữ thì “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do toà án công nhận hoặc
quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Do vậy,
có thể khẳng định, chỉ Toà án mới có quyền ghi nhận một cuộc hôn nhân là
“đã chết”, dựa trên các căn cứ nhất định (Điều 89 LHNGĐ).
Về vấn đề quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn, pháp luật nước
ta công nhận quyền tự do kết hôn, đồng thời cũng công nhận quyền ly hôn của
vợ chồng (khoản 1 Điều 85 LHNGĐ), tuy nhiên phải tuân theo một số điều
kiện cụ thể về việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong
trường hợp người vợ mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi
(khoản 2). Quy định này thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và xuất phát từ
nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Có một ngoại lệ là quy định này không áp
dụng đối với người vợ nếu người đó muốn ly hôn. Việc pháp luật Việt Nam
đặt ra vấn đề hạn chế quyền ly hôn bởi lẽ hậu quả pháp lý của việc ly hôn
không chỉ đụng chạm đến lợi ích riêng tư của vợ chồng, mà còn ảnh hưởng
sâu sắc đến lợi ích của con cái, lợi ích về tài sản.
Nếu kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tài
sản giữa vợ và chồng thì ly hôn chính là cơ sở pháp lý để chấm dứt các quan 14
hệ đó. Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong ly
hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế giữa
Việt Nam với nước ngoài thường được giải quyết theo pháp luật của nước nơi
đương sự mang quốc tịch hoặc nơi đương sự cư trú, trừ trường hợp quan hệ ly
hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì việc giải quyết

ly hôn… đều được pháp luật quy định cụ thể và chặt chẽ tại Điều 56 và các
Điều từ 92 đến 94 LHNGĐ.
1.2.3. Quan hệ về tài sản sau ly hôn.
Tương tự như đối với quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và
chồng cũng chấm dứt kể từ sau khi bản án, quyết định của Toà án về việc ly
hôn có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề chia tài sản sau ly hôn là vấn đề
hết sức phức tạp, từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định tài
sản riêng trong thời kỳ hôn nhân… Không những vậy, việc giải quyết quan hệ
tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa bởi việc
xác định khối tài sản ở nước ngoài, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong
trường hợp tài sản là bất động sản ở nước ngoài. Do đó, khi giải quyết vấn đề
tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam phải vận
dụng linh hoạt các văn bản pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán
quốc tế, đôi khi cả pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật
nước ngoài để giải quyết quan hệ tài sản trong ly hôn tại Toà án Việt Nam
trên thực tế chưa được áp dụng, vấn đề này xin được giải quyết ở Chương III
của Luận văn.
Từ những phân tích ở trên cho thấy, pháp luật điều chỉnh việc ly hôn
nói chung, ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng “đóng một vai trò quan
trọng trong việc xây dựng và phát triển xã hội. Nếu pháp luật điều chỉnh ly
hôn không phù hợp sẽ làm cho xã hội hỗn loạn và hậu quả của nó là làm cho
xã hội bị suy yếu. Ngược lại, nếu pháp luật điều chỉnh ly hôn phù hợp thì
không những làm cho xã hội ổn định mà còn làm cho xã hội vững mạnh” [43,
tr.35]. Bởi vì, như đã trình bày ở trên, ly hôn cũng có những điểm tích cực
trong việc thúc đẩy sự phát triển một xã hội dân chủ, văn minh. 16
1.3. ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU
TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status