Những vấn đề thực tiễn về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 32

A.

MỞ ĐẦU
Với chính sách “hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác

với tất cả các nước trên thế giới”, ở nước ta các quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển một cách đa dạng và phức
tạp. Việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân va gia đình co yếu tố nước ngoài
trở thành một yêu cầu hết sức cần thiết nhằm làm ổn định và phát triển giao
lưu quốc tế, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
các nước có liên quan. Trong phạm vi đề tài này, em xin trình bày một số
hiểu biết và quan điểm cá nhân về chủ đề: Kết hôn có yếu tố nước ngoài,
một số vấn đề lý luận và thực tiễn.

B.
I.
1.

NỘI DUNG

Cơ sở lý luận của vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Định nghĩa kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Trong Điều 8 (Giải thích từ ngữ) của Luật Hôn nhân và gia đình (năm

2000) có định nghĩa:
“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của
pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”
Về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, Điều 103 Luật HN&GD năm
2000 quy định:
“Điều 103. Kết hôn có yếu tố nước ngoài
1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên

2


Thông tư số 07/2002/TT-BTP Về việc hướng dẫn thi hành một số
điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có những quy định cụ thể
về việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
3.1 Về một số giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn.
Mỗi bên phải làm Tờ khai đăng ký kết hôn có dán ảnh (theo mẫu quy
định) có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền sau đây về việc hiện tại đương
sự là người không có vợ hoặc không có chồng:
- Đối với công dân Việt Nam thường trú ở trong nước, thì do cơ quan có thẩm
quyền xác nhận theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
- Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, thì do cơ quan có thẩm
quyền của nước nơi người đó định cư hoặc do cơ quan đại diện ngoại giao
hoặc cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước đó xác nhận.
- Đối với người nước ngoài thường trú ở nước ngoài, thì do cơ quan có thẩm
quyền của nước nơi người đó có quốc tịch và thường trú xác nhận. Nếu pháp
luật nước ngoài không quy định việc xác nhận vào tờ khai dăng ký kết hôn
hoặc không cấp giấy tờ xác nhận về tình trạng hôn nhân, thì thay thế bằng văn
bản tuyên thệ của người đó về việc hiện tại không có vợ hoặc không có chồng;
hình thức của việc tuyên thệ phải phù hợp với pháp luật của nước đó.
- Đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, thì do Uỷ ban nhân dân
cấp xã, nơi người đó thường trú xác nhận.
Giấy tờ xác nhận hiện tại đương sự không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc
bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức không có khả năng nhận thức được hành
vi của mình do tổ chức y tế chuyên khoa về tâm thần của Việt Nam từ cấp tỉnh

3


sơ, đề xuất việc đăng ký hoặc từ chối đăng ký kết hôn và chịu trách nhiệm về
hồ sơ kết hôn.
Về trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn, cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
Về thủ tục niêm yết việc kết hôn: Việc niêm yết kết hôn được tiến hành
trong 07 ngày liên tục tại trụ sở của Sở tư pháp và Uỷ ban nhân dân cấp xã,
nơi thường trú hoặc tạm trú của công dân Việt Nam hoặc nơi thường trú của
người nước ngoài. Văn bản niêm yết việc kết hôn phải gồm các thông tin về
hai bên nam nữ như họ và tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, nơi trường trú,
tạm trú, tình trạng hôn nhân (không có vợ/ chồng, có vợ/chồng nhưng đã ly
hôn hoặc người kia đã chết), dự kiến thời gian đăng ký kết hôn (nếu không có
khiếu nại, tố cáo việc kết hôn trái pháp luật).
Trong trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn, Uỷ ban nhân dân
cấp xã có trách nhiệm báo cáo ngay bằng văn bản cho Sở tư pháp. Nếu không
có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn, Uỷ ban nhân dân cấp xã không phải báo cáo
Sở tư pháp về kết quả niêm yết.
Trong quá trình thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn, nếu có khiếu nại, tố cáo
việc kết hôn trái pháp luật, việc kết hôn là giả tạo (kết hôn không nhằm mục
đích xây dựng gia đình, chỉ kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh ra nước ngoài),
Sở tư pháp tiến hành xác minh hoặc yêu cầu đương sự đến trụ sở của Sở để
phỏng vấn, làm rõ.
Trong trường hợp nghi ngờ hồ sơ kết hôn có giấy tờ giả mạo hoặc có
vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan Công an, Sở tư pháp có
công văn gửi cơ quan Công an cùng cấp yêu cầu xác minh, kèm theo 01 bộ hồ
sơ kết hôn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định, Cơ quan Công
an tiến hành xác minh và trả lời cho Sở tư pháp trong thời hạn 20 ngày, kể từ
ngày nhận được công văn yêu cầu của Sở tư pháp. Nếu hết thời hạn này mà cơ
5



được ban hành kèm theo Thông tư số 179/2002/TT-BQP ngày 22 tháng 1 năm
2001 của Bộ Quốc phòng)
2- Về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn
2.1- Tờ khai đăng ký kết hôn, được áp dụng chung theo mẫu dành cho công
dân Việt Nam ở trong nước theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
2.2- Thủ tục, nội dung niêm yết việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau
ở trong nước theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
2.3- Giấy chứng nhận kết hôn được áp dụng chung theo mẫu dành cho công
dân Việt Nam ở trong nước, theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
II. Thực trạng hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam:
1. Xu hướng kết hôn với người nước ngoài ngày càng tăng:
a. Thực trạng:

Hôn nhân với người nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh
toàn cầu hoá. Tuy nhiên, việc kết hôn với người nước ngoài cần được cân nhắc
kĩ, đã có rất nhiểu trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài gặp rủi ro (đặc biệt là phụ nữ).
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2008 cả nước có 22.745 trường
hợp, năm 2009 có 20.099 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài. Từ tháng
1-2005 đến hết năm 2009, Hà Nội (bao gồm cả tỉnh Hà Tây trước đây) đã tiếp
nhận và giải quyết 2402 trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài,
riêng năm 2010 cũng có đến 448 trường hợp, hầu hết các trường hợp kết hôn
này đều thông qua môi giới. Hình thức kết hôn thông qua môi giới dù đã bị
cấm nhưng vẫn được lén lút hoạt động. Trong những năm qua có nhiều vụ tổ
chức cho người nước ngoài “xem mặt” hàng trăm người có nhu cầu kết hôn
với người nước ngoài rồi lựa chọn. Điều này không chỉ hạ thấp danh dự, nhân
7


phẩm của người phụ nữ, mà còn xâm phạm nghiêm trọng thuần phong, mỹ

rộng giao lưu về nhiều mặt với các nước, người nước ngoài đến làm ăn, sinh
sống lâu dài ngày càng nhiều, bà con Việt kiều về nước thăm thân nhân họ
hàng, đầu tư kinh doanh đông hơn, kéo theo số lượng kết hôn có yếu tố nước
ngoài cũng ngày càng tăng. Trong khi đó, pháp luật về hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài còn nhiều sơ hở. Quy định về công nhận và ghi chú việc kết
hôn đã tiến hành ở nước ngoài còn lỏng lẻo, chưa cụ thể, thủ tục ghi chú khá
đơn giản. Đương sự chỉ cần xuất trình giấy tờ hộ tịch đã đăng ký hợp lệ tại cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận và ghi chú vào sổ hộ
tịch (tức là công nhận giá trị pháp lý giấy tờ hộ tịch đó tại Việt Nam). Trong
khi đó, pháp luật về hôn nhân gia đình của nhiều nước quy định rất
“thoáng”như Hàn Quốc, Đài Loan…Ví dụ: Khi người đàn ông Hàn Quốc
muốn kết hôn với phụ nữ Việt Nam, họ yêu cầu phía nữ gửi giấy xác nhận độc
thân, bản sao khai sinh, chứng minh nhân dân để kê khai việc kết hôn và được
nhập tên vào sổ hộ khẩu gia đình người chồng tại Hàn Quốc. Sau đó, họ tiếp
tục đến lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP. Hồ Chí Minh để được cấp giấy chứng
nhận không cản trở việc kết hôn theo luật pháp Hàn Quốc và đến Sở Tư pháp
làm thủ tục ghi chú. Điều đáng nói là suốt quá trình đó người phụ nữ Việt Nam
vẫn chưa từng đến Hàn Quốc, mọi thủ tục tại Hàn Quốc do bên nam thực
hiện.
2.

Một số quy định của Pháp luật Việt Nam về vấn đề kết hôn có yếu tố
nước ngoài chưa chặt chẽ:
Để tránh thủ tục chặt chẽ của Việt Nam, các đối tượng này đã lập, gửi

hồ sơ sang Hàn Quốc để đăng ký kết hôn ở đấy, sau đó mới về Việt Nam để
ghi chú kết hôn. Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ9


CP là hai văn bản hướng dẫn giải quyết vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Quy định hiện hành đúng là có một số sở hở và đã bị lợi dụng. Ví dụ
như quy định cho phép được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ ở Sở Tư
pháp để xin đăng ký kết hôn đã bị một số đối tượng lợi dụng để làm môi giới.
Hay như hiện nay quy định để được đăng ký kết hôn thì đôi nam nữ phải qua
phỏng vấn, nhưng trên thực tế điều này chỉ làm rất hình thức. Trong nhiều
trường hợp người môi giới đứng đằng sau hướng dẫn cách trả lời. Một ví dụ
nữa là quy định ghi chú ly hôn. Theo quy định, người nước ngoài đã ly hôn và
muốn kết hôn với người Việt Nam thì phải ghi chú ly hôn để chứng minh mình
độc thân. Thực tế, ở nước ngoài người ta đã ly hôn, có bản án, quyết định của
tòa án thật và đã kết hôn với người khác. Nhưng đến Việt Nam họ lại mang
bản án cũ ra để làm bằng chứng.
III. Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về kết hôn có
yếu tố nước ngoài:
Thứ nhất, phải quy định lúc nộp hồ sơ để làm đăng ký kết hôn, hai bên nam
nữ phải có mặt tại Sở Tư pháp, chứ không thể ủy quyền cho người khác.
Thứ hai, trong quy trình kết hôn có một thủ tục phỏng vấn đôi bên và phải có
nội dụng cụ thể, bao gồm: mục đích hôn nhân có đúng không; mức độ hiểu
biết nhau như thế nào, đặc biệt nhấn mạnh đôi bên phải hiểu nhau qua một
ngôn ngữ chung. Quy định này nhằm tránh tình trạng hiện nay các công dân
Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mà chẳng biết ngoại ngữ dẫn đến bất
đồng về ngôn ngữ. Sau quá trình phỏng vấn người phỏng vấn phải lập biên
bản, ký xác nhận vào đó, đề xuất ý kiến có nên cho kết hôn hay không và chịu
trách nhiệm cá nhân về việc này.
11


"Lỗ hổng" ghi chú ly hôn cũng phải được thay bằng quy định mới là trong hồ
sơ để làm thủ tục kết hôn phải có giấy chứng nhận của cơ quan thẩm quyền
nước sở tại rằng anh đang ở tình trạng độc thân (giấy có giá trị trong 6 tháng).
Thêm vào đó, để chống môi giới kết hôn bất hợp pháp, dự thảo quy định nếu

tố nước ngoài. Cũng cần phải nói thêm, chúng ta không có sự hỗ trợ cần
thiết từ các nước để có thể bảo vệ được công dân Việt Nam kết hôn với
người nước ngoài. Việc kí kết các hiệp định pháp lý của nước ta với các
nước thường gặp nhiều khó khăn do hệ thống Pháp luật nước ta vẫn đang có
những điểm chưa thực sự hợp lý. Do vậy, trước hết chúng ta phải từng bước
hoàn thiện các quy định của Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài đông
thời cũng phải có các biện pháp nhằm đảm bảo lợi ích cho công dân Việt
Nam trước nhửng rủi ro trong hôn nhân với người nước ngoài.
Em xin kết thúc bài luận tại đây. Do hiểu biết của em còn hạn chế nên
mong thầy cô đóng góp ý kiến để em hoàn thiện bài viết này!
Em xin chân thành cảm ơn!

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

“Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi
hành”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 2002.

13


2. “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Nxb Công An Nhân

Dân, Hà Nội 2009.
3. “Chỉ dẫn áp dụng Luật hôn nhân và gia đình”, Nxb Tư Pháp, Hà Nội

2006.
4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status