LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã có từ lâu trong lịch sử. Song, những
năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 trở lại đây, hiện tượng này mới thực sự phổ biến và
diễn biến phức tạp, nhiều tiêu cực không đảm bảo được nguyên tắc hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ, đi ngược lại với giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Hàng
năm có khoảng 10.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, chủ yếu là với
người Đài Loan và Hàn Quốc. Hình ảnh hàng chục, thậm chí là hàng trăm cô gái đứng
xếp hàng để những người đàn ông Hàn Quốc, Đài Loan xem xét, lựa chọn như một món
“hàng hóa” như những bài báo phản ánh đã không còn lạ lẫm với nhiều người hay những
vụ án giết người đau lòng như việc cô dâu Huỳnh Mai bị chồng người Hàn Quốc hành hạ
cho đến chết rồi giấu xác, vụ cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc bị người chống Hàn Quốc
giết chỉ sau 7 ngày chung sống…Thực trạng trên đòi hỏi Nhà nước ta cần có những giải
pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân của nước mình.
Trong thời gian gần đây, nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật điều
chỉnh vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung và kết hôn có yếu tố nước ngoài
nói riêng như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ), Nghị định
68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 07 năm 2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ( sau
đây gọi tắt là Nghị định 68/2002/NĐ-CP); Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng
07 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10
tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn
nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ( sau đây gọi tắt
là Nghị định 69/2006/NĐ-CP); Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg ngày 25/02/2005 tăng cường
quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;…Các văn bản
pháp luật này góp phần tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền
và lợi ích tốt hơn cho các công dân nước mình, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên,
trong quá trình thực thi các quy định pháp luật này thì còn gặp một số bất cập, vướng
mắc do những nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Trước thực trạng trên thì việc lựa chọn nghiên cứu một cách tổng thể những quy
định pháp luật hiện hành, tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, NXB Tư pháp, Hà Nội,
2
2006…Tuy cùng một vấn đề nhưng các công trình nghiên cứu trên lại nhìn nhận vấn đề ở
những mức độ khác nhau và có những đóng góp ý nghĩa.
Với đề tài “ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam”, tác giả hy vọng có những
đóng góp mới trên cơ sở : Phân tích những quy định về vấn đề kết hôn có yếu tố nước
ngoài; đánh giá tổng thể thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về kết hôn có yếu tố
nước ngoài để từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của
pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Bố cục của đề tài.
Ngoài Lời cám ơn, Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo thì bố cục khóa
luận được chia thành 3 chương
Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 2. Những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành
về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Chương 3. Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và một số kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam hiện nay.
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU
TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1. Khái niệm kết hôn
Gia đình là tế bào của xã hội, là khởi nguồn nền tảng của mọi mối quan hệ xã hội
phát sinh giữa con người với con người và hôn nhân chính là cơ sở nền tảng tạo nên một
gia đình. Để tiến tới hôn nhân thì kết hôn chính là sự kiện pháp lý có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc xác lập hôn nhân giữa một nam và một nữ. Trong khoa học pháp lý
nói chung và khoa học Luật HN &GĐ nói riêng thì hiểu được thế nào là kết hôn có ý
nghĩa rất quan trọng.
Trong hệ thống pháp luật HN & GĐ thì khái niệm kết hôn được các nhà làm luật
của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân”[1].
Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ, chồng. Sự kiện này
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác lập thời điểm làm phát sinh quan hệ vợ
chồng, là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên theo quy định pháp luật.
1.1.2. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Khoản 14, Điều 8 Luật HN & GĐ năm 2000 thì quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
- Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan
hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài[10].
Ngoài ra thì Khoản 4, Điều 100 Luật HN & GĐ năm 2000 còn có quy định: “ Các
quy định của chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa
công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài” [10].
Theo đó thì yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được xác định
dựa vào các dấu hiệu sau :
Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân này phải có ít nhất một bên chủ thể là
người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài.
5
Thứ hai, sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó ở
nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài.
Thứ ba, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài.
Quan hệ kết hôn là một bộ phận của quan hệ hôn nhân do đó mà để xác định yếu tố
nước ngoài của quan hệ kết hôn ta dựa vào các dấu hiệu để xác định yếu tố nước ngoài
trong quan hệ hôn nhân. Như vậy, có thể xác định kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc
nam, nữ xác lập quan hệ vợ, chồng thuộc những trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất, kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài :
Trong trường hợp này thì một bên nam hoặc nữ là người nước ngoài. Dấu hiệu để xác
định người nước ngoài chính là quốc tịch. Theo đó thì người nước ngoài ở đây được hiểu
thường trú tại Việt Nam; Giữa hai công dân Việt Nam với nhau kết hôn ở nước ngoài,
theo pháp luật nước ngoài; Giữa công dân Việt Nam với nhau mà tại thời điểm đăng
ký kết hôn có ít nhất một bên đang định cư ở nước ngoài.
1.2. Khái quát sự phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về kết
hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 thì Việt Nam là nước thuộc địa
nửa phong kiến. Mặc dù trong giai đoạn này có không ít các cuộc kết hôn giữa người
Việt Nam với người nước ngoài, đặc biệt là người Pháp những chưa có một quy định nào
có liên quan điều chỉnh vấn đề này. Các quan hệ hôn nhân trong giai đoạn này được điều
chỉnh bởi các quy phạm trong Bộ dân luật được áp dụng cho từng khu vực như Bộ dân
luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936, Bộ dân luật giản yếu năm 1883
ở Nam kỳ[24, tr23]. Các bộ Luật này có đề cập đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng
thực chất là các quy định liên quan đến vấn đề quốc tịch. Không có các quy định trực tiếp
điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 thì pháp luật Việt Nam
còn bỏ ngỏ các quy định liên quan đến vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Đây là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng
Tám thành công, ngày 2/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước mới
ra đời, còn non trẻ nên phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thù trong giặc
ngoài. Nhiệm vụ đặt ra trước mắt là phải đưa đất nước vượt qua tình cảnh khó khăn nên
7
hầu như trong giai đoạn này không ban hành các văn bản pháp luật mới nào kể cả luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân.
Ngày 10/10/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh quy định tạm giữ các luật lệ hiện
hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới trừ những quy
định đi ngược lại với độc lập dân tộc hoặc lợi ích của người dân. Theo đó, đến trước
tháng 5/1950 thì các vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự ( trong đó có quan hệ HN &
nằm dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn. Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài
được ghi nhận tại Điều 24, Điều 25, Điều 70 quy định về điều kiện, thủ tục về tính hợp
pháp của hôn thú được xác lập ở nước ngoài giữa người Việt Nam với nhau hoặc giữa
người Việt Nam với người nước ngoài.
Tháng 11/1963, Chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chính quyền bù nhìn lên
ngôi đã ban hành Sắc lệnh 15/64 thay thế Luật Gia đình nhưng nhìn chung thì nội dung
không có gì thay đổi mà chỉ thay đổi về mặt cấu trúc [22].
Ngày 20/12/1972, Bộ Dân luật được ban hành thay thế Sắc lệnh 15/64. Các quan hệ
hôn nhân từ 12/1972 đến 30/04/1975 đều chịu sự điều chỉnh của Bộ Dân luật 1972. Bộ
luật này có quy định về điều kiện, thủ tục của một hôn thú được lập ở nước ngoài có giá
trị tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ tại Điều 125. Tuy nhiên, trong giai đoạn này ở
miền Nam chưa có một quy định nào trực tiếp, cụ thể điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố
nước ngoài.
1.2.4. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
Ngày 30/04/1975 đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử dân tộc, đất nước hoàn
toàn được giải phóng, cả nước chung tay xây dựng đất nước. Theo đó, nhiều chính sách
pháp luật mới được ban hành. Trong giai đoạn này cũng đánh dấu sự thay đổi, phát triển
mới của pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Cụ thể :
Giai đoạn từ 1975 đến trước năm 1986 : Quan hệ hôn nhân và gia đình chịu sự
điều chỉnh của Luật HN & GĐ năm 1959. Năm 1980, Hiến pháp thứ 3 ra đời với nhiều
điểm tiến bộ trong đó có quy định ghi nhận “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau
về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình”, “Hôn nhân theo nguyên tắc tự
nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”[7]. Quy định này cùng với Luật
HN & GĐ năm 1959 đã tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh vấn đề kết hôn nói chung và vấn đề
kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, các quy định này chỉ dừng lại ở việc
ghi nhận quyền chứ chưa có quy định cụ thể, trực tiếp nào điều chỉnh vấn đề kết hôn có
yếu tố nước ngoài. Trong giai đoạn này, Việt Nam cũng tăng cường ký kết các hiệp định
9
tương trợ tư pháp ( HĐTTTP) quy định về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài như
HĐTTTP Việt Nam- Liên Xô (cũ) năm 1981, HĐTTTP Việt Nam- Tiệp Khắc (cũ) năm
quan đến vấn đề HN & GĐ giữa Việt Nam với một số nước được ký kết như HĐTTTP
Việt Nam - Ba Lan ngày 22/03/1993, HĐTTTP Việt Nam - Liên Bang Nga ngày
25/08/1998, HĐTTTP Việt Nam - Pháp ngày 24/02/1999…
Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2000, pháp luật điều chỉnh vấn đề
kết hôn có yếu tố nước ngoài đã trở thành một hệ thống, dần được hoàn thiện, tạo cơ sở
pháp lý cho việc thực thi trên thực tế.
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay : Đây là giai đoạn nước ta bước vào thời kỳ hội
nhập quốc tế với nhiều sự thay đổi nhanh chóng trên các mặt của đời sống kinh tế- xã
hội. Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng ít nhiều chịu tác động. Vì vậy cần phải có
những quy định pháp luật cụ thể, chi tiết để điều chỉnh. Chính vì điều này mà Luật HN &
GĐ năm 2000 ra đời. Luật đã dành riêng một chương để quy định về vấn đề quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài và quy định về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại các
Điều 100, Điều 101, Điều 102, Điều 103. Ngoài ra thì Chính phủ còn ban hành các Nghị
định hướng dẫn chi tiết vấn đề này như Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng
07 năm, Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 07 năm 2006 Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 ….Và hiện nay, Luật
Hộ tịch đang được soạn thảo và dự kiến sẽ được thông qua vào năm 2013, trong đó có
một số điều luật quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài trở thành tâm điểm chú ý của
dư luận như thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, thời hạn tiến hành đăng
ký kết hôn có yếu tố nước ngoài…
Như vậy, từ năm 2000 trở lại đây thì pháp luật điều chỉnh về vấn đề kết hôn có yếu
tố nước ngoài đã trở thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, tạo cơ sở pháp lý cho việc
thực thi trên thực tế, đáp ứng được yêu cầu đang đặt ra trong thời kỳ hội nhập quốc tế
hiện nay.
1.3. Ý nghĩa của việc quy định vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài
Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài được hình thành từ rất lâu trong xã hội Việt
Nam nhưng pháp luật điều chỉnh vấn đề này thì chỉ mới xuất hiện trong những năm gần
đây. Trong những năm trở lại đây, kết hôn có yếu tố nước ngoài này trở thành vấn đề
“nóng”, “nhạy cảm” của xã hội nên cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để
điều chỉnh vấn đề này. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định điều chỉnh vấn
ngoài, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế. Việc xây dựng các quy định pháp luật điều
chỉnh vấn đề này một cách hoàn thiện góp phần tăng cường thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác
về mọi mặt pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam với các quốc gia khác; đồng
12
thời củng cố, tăng cường quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các quốc gia khác, các
vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế.
Thứ năm, pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài được hình thành còn có ý
nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam hiện nay. Mặc dù,
hiện nay vấn đề này có nhiều tiêu cực nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng
hôn nhân được hình thành từ kết hôn có yếu tố nước ngoài đã tạo ra những thế hệ tương
lai khỏe mạnh, chiều cao được tăng cường. Hơn thế, việc công dân Việt Nam kết hôn với
người nước ngoài tạo thành các gia đình đa quốc tịch, đa văn hóa trở thành cầu nối giữa
văn hóa Việt Nam và các nước trên thế giới; tiếp nhận giá trị văn hóa mới và có sự giao
thoa về văn hóa giữa các dân tộc với nhau. Giúp chúng ta phát triển du lịch, giới thiệu với
các nước khác về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, phong cảnh, phong tục tập
quán cũng như con người Việt Nam thân thiện.
Tóm lại, những quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quan trọng
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể thi
hành pháp luật giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật. Đồng thời
làm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng hệ thống, đồng bộ, minh bạch,
cụ thể
13
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HN & GĐ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật trong nước mà
còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài. Do vậy phải đặt ra nguyên tắc áp dụng luật
nhằm điều chỉnh có hiệu quả vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Về điều kiện kết hôn
có yếu tố nước ngoài được quy định tại Khoản 1, Điều 103 Luật HN & GĐ theo đó pháp
luật Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật nhân thân ( gồm hệ thuộc luật quốc tịch và luật nơi
cứ trú) của đương sự để xác định điều kiện kết hôn. Về nguyên tắc chọn luật trong nghi
các điều kiện kết hôn tại Điều 9 và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn tại Điều 10
Luật HN & GĐ năm 2000. Bên cạnh đó thì người nước ngoài còn phải đáp ứng các điều
kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nước mình mang quốc tịch hoặc nơi cư trú ( đối
với người không quốc tịch ). Theo đó, điều kiện kết hôn mà các bên phải đáp ứng khi tiến
hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam
là về độ tuổi, về sự tự nguyện của hai bên nam, nữ và không thuộc các trường hợp cấm
kết hôn. Cụ thể:
Điều kiện về tuổi kết hôn
Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ kết hôn xem độ tuổi là điều kiện tiên
quyết để xác định đó có phải là cuộc hôn nhân hợp pháp hay không. Một người muốn kết
hôn thì phải đạt một độ tuổi nhất định theo luật định. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9
Luật HN & GĐ năm 2000 có quy định về độ tuổi kết hôn như sau : “ nam từ hai mươi
tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” [10]. Trong các trường hợp kết hôn có yếu tố
nước ngoài thì công dân Việt Nam hay người nước ngoài đều phải đáp ứng điều kiện về
15
độ tuổi là nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám thì mới được
phép tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Bên cạnh đó thì người nước ngoài khi tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài việc phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi kết hôn theo
pháp luật HN & GĐ Việt Nam thì còn phải đáp ứng điều kiện về tuổi kết hôn theo pháp
luật của nước mà mình mang quốc tịch hoặc cư trú ( đối với người không quốc tịch). Về
điều kiện độ tuổi kết hôn thì mỗi nước có những quy định khác nhau, phụ thuộc vào đặc
điểm tâm sinh lý của con người ở mỗi nước như Angola (12 tuổi), Nga (16 tuổi),
Malaysia (16 tuổi), Bồ Đào Nha (14 tuổi), Pháp (độ tuổi kết hôn của nữ là 15 tuổi, độ
tuổi kết hôn của nam là 18 tuổi), ở Đức nam là 21 tuổi và nữ là 16 tuổi, Thụy Sĩ thì nam
là 20 tuổi, nữ là 18 tuổi thì đủ điều kiện kết hôn…
Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi để kết hôn như vậy là rất hợp lý bởi đối với
con người Việt Nam thì ở độ tuổi này, tâm lý và sinh lý đã có sự phát triển ổn định, bền
vững và đã bắt đầu đạt đến sự hoàn thiện cả về thể chất, tâm hồn để có thể chăm sóc, bảo
vệ cho bản thân và người thân của họ. Đặc biệt là khi một trong hai bên nam hoặc nữ là
đăng ký kết hôn thì các bên ( bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài) phải có
giấy “ xác nhận tình trạng kết hôn” trong hồ sơ đăng ký kết hôn. Đây là quy định hợp lý
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, đặc biệt là công dân Việt Nam khi
không thể biết được tình trạng hôn nhân của bên kia liệu đã có vợ hay có chồng vào thời
điểm đăng ký kết hôn hay chưa.
Cấm kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự
Người mất năng lực hành vi dân sự được hiểu là khi một người do bị bệnh tâm thần
hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo
yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng
lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định [2, Điều 22]. Theo quy định
của Luật HN & GĐ năm 2000 thì người bị mất năng lực hành vi dân sự không được phép
kết hôn. Tuy nhiên, quy định này đã trở thành một vướng mắc khi áp dụng pháp luật về
kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Đặc biệt là các trường hợp người có
nhu cầu kết hôn nhưng từng bị các bệnh về thần kinh dẫn đến không thể nhận thức làm
chủ được hành vi của mình, nhưng khi kết hôn thì đã điều trị hoặc uống thuốc nên vào
thời điểm đăng ký kết hôn vẫn được cơ sở y tế xác nhận là có đủ điều kiện sức khỏe để
kết hôn, mặt khác, họ cũng không thuộc trường hợp bị tòa án tuyên bố là người mất năng
lực hành vi dân sự nên họ vẫn được phép kết hôn. Tuy nhiên, sau một thời gian chung
17
sống thì người kia mới phát hiện ra. Thực tế này đã dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc như
vụ án liên quan đến cô gái Thạch Thị Hồng Ngọc bị chồng là ông Jang Du Hyo- công
dân Hàn quốc giết chết sau 7 ngày chung sống. Theo phía Cảnh sát cho biết người đàn
ông này đã được điều trị 57 lần vì bệnh tâm thần từ tháng 7-2005 tại Hàn Quốc nhưng
không hiểu lý do tại sao vẫn được kết hôn. Thậm chí trước ngày kết hôn 5 ngày người
đàn ông này cũng đã nhập viện vì lý do có vấn đề về thần kinh[27].
Cấm kết hôn đối với những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những
người có họ trong phạm vi ba đời
Xuất phát từ việc bảo vệ giống nòi và truyền thống của dân tộc, pháp luật HN & GĐ
Việt Nam quy định cấm kết hôn : “Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa
những người có họ trong phạm vi ba đời”[10, Khoản 3, Điều 10]. Quan điểm của nhà
giữa nam và nữ. Tuy nhiên, cũng có một số nước công nhận việc kết hôn đồng giới như
Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy ,Thụy Điển, Đan Mạch, Iceland, Ar-
gentina và năm tiểu bang ở Hoa Kỳ, Iowa, thủ đô Mexico, Connecticut Vermont, New
Hampshire, Massachusetts …[32]. Quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới
tính được đa số các nước tán thành trong đó có Việt Nam. Quy định này được ghi nhận
tại Khoản 5, Điều 10 Luật HN & GĐ năm 2000: “ cấm kết hôn giữa những người cùng
giới tính” [10]. Sở dĩ pháp luật Việt Nam quy định như bởi hiện tượng này trái với thuần
phong mỹ tục của nước ta, hơn nữa, xét về mặt khoa học nó không đảm bảo được chức
năng của gia đình là tái sản xuất con người để duy trì nòi giống.
Tuy nhiên, hiện nay một số quốc gia dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới nhưng
cũng có quy định cho phép họ cùng chung sống. Điều này đòi hỏi Việt Nam cũng cần có
quy định cho phép người đồng tính được cùng chung sống và đưa ra những quy định để
giải quyết tài sản khi họ không còn chung sống.
Đối với người nước ngoài khi kết hôn với nhau hoặc kết hôn với công dân Việt Nam
tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài đáp ứng các điều kiện kết hôn trên
theo pháp luật Việt Nam thì còn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn theo pháp luật của
nước mà mình mang quốc tịch hoặc cư trú để đảm bảo giá trị pháp lý của các cuộc kết
hôn đó cũng như như bảo vệ được quyền và lợi ích của mình.
Bên cạnh đó thì đối với công dân Việt Nam làm việc trong các cơ quan liên quan
đến bí mật và an ninh quốc gia thì khi kết hôn có yếu tố nước ngoài họ còn phải tuân theo
các quy định của ngành để đảm bảo không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật an ninh
quốc gia như điều kiện về dân tộc, tôn giáo…
19
Như vậy, hầu hết các điều kiện kết hôn trong kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy
định của pháp luật HN & GĐ Việt Nam hiện nay tương đối phù hợp với bối cảnh kinh tế-
xã hội Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.2. Trường hợp công nhận việc kết hôn có yếu tố nước ngoài đã đăng ký
trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
Theo quy định tại khoản 7, Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 07
năm 2006 sửa đổi bổ sung Điều 20 của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 07
kết hôn theo pháp luật HN & GĐ Việt Nam thì mới được công nhận là hôn nhân hợp
pháp tại Việt Nam.
Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn
nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi phạm đó đã
được khắc phục hoặc công nhận việc kết hôn đó là có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi của
phụ nữ và trẻ em thì hôn nhân đó cũng được công nhận tại Việt Nam
Theo quy định trên thì đối với những trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài đăng
ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài mà tại thời điểm
đăng ký kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam vẫn sẽ được công
nhận hợp pháp tại Việt Nam nếu hậu quả của sự vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc
công nhận việc kết hôn đó là có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Quy
định này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của công dân Việt Nam ( đặc biệt là đối với
phụ nữ và trẻ em) khi tiến hành đăng ký kết hôn ở nước ngoài.
Tuy nhiên, việc quy định như vậy đã làm nảy sinh một thực tế là trường hợp phụ nữ
Việt Nam yêu cầu công nhận hôn nhân của họ với nam công dân nước ngoài đều được
công nhận mặc dù trước đó vi phạm điều kiện kết hôn [20]. Quy định này của pháp luật
Việt Nam chưa chặt chẽ nên dễ bị các đối tượng lợi dụng để hợp pháp hóa hôn nhân trái
pháp luật được tiến hành ở nước ngoài. Hiện nay, pháp luật của một số nước còn khá đơn
giản và lỏng lẻo. Chẳng hạn, Hàn Quốc cho phép kết hôn có thể vắng mặt một bên. Kẽ
hở này đã làm nảy sinh hoạt động môi giới kết hôn với nhiều hình thức trá hình, tinh vi
để trục lợi, hoặc lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ qua biên giới. Nhiều trường
hợp tổ chức cho người nước ngoài xem mặt những phụ nữ Việt Nam có nhu cầu kết hôn
với người nước ngoài để lựa chọn nhưng do thiếu chuẩn bị hoặc thiếu tế nhị, dẫn đến tình
trạng hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng
tới thuần phong, mỹ tục, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia, trở thành hiện tượng nhức nhối
của xã hội. Để tránh những thủ tục chặt chẽ của Việt Nam, các đối tượng này đã lập, gửi
21
hồ sơ sang Hàn Quốc để đăng ký kết hôn, sau đó mới về Việt Nam để xin công nhận hôn
nhân hợp pháp tại Việt Nam.
Như vậy, pháp luật HN & GĐ Việt Nam về việc công nhận giá trị pháp lý đối với
hiện sự quan tâm của nhà nước đối với đồng bào Việt Kiều ở nước ngoài khi đăng ký kết
hôn.
Hiện nay, dự thảo Luật Hộ tịch năm 2012 đang trong quá trình lấy ý kiến, dự thảo
cũng có quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn tại Điều 46, theo đó thẩm quyền đăng
ký kết hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được chuyển về UBND cấp xã đối với những trường
hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa công dân Việt Nam
với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài hoặc hai công dân Việt Nam cùng định cư ở
nước ngoài kết hôn với nhau hoặc giữa người nước ngoài kết hôn với nhau. Theo quan
điểm của tác giả việc quy định phân cấp thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước
ngoài theo tinh thần của Dự thảo Luật Hộ tịch có nhiều điểm bất cập. Vấn đề này được
nhìn nhận đánh giá trên các khía cạnh sau: Thứ nhất, về điều kiện về cơ sở vật chất- kỹ
thuật, điều kiện con người như trình độ am hiểu pháp luật trong nước và pháp luật nước
ngoài, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, đặc biệt là vùng miền núi, biên giới nên sẽ rất khó
khăn để đáp ứng được yêu cầu phức tạp của công việc này. Bên cạnh đó thì hiện nay khối
lượng công việc mà UBND xã gánh vác là rất lớn trong khi số lượng cán bộ, công chức
để đáp ứng được công việc lại rất hạn chế nên việc phân cấp thẩm quyền đăng ký kết hôn
như vậy sẽ không đảm bảo được hiệu quả thực thi cũng như sự chuyên trách của chủ thể
có thẩm quyền. Thứ hai, theo quy định tại Điều 47 Dự thảo Luật Hộ tịch thì sau khi nhận
hồ sơ đăng ký kết hôn, Hộ tịch viên nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và báo cáo Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã. Uỷ ban nhân dân cấp xã gửi văn bản, hồ sơ cho Phòng Tư pháp
huyện, Phòng Tư pháp kiểm tra, thẩm định hồ sơ và báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
cấp huyện, sau khi duyệt lại chuyển về cho UBND xã để đăng ký. Việc quy định như vậy
sẽ làm phát sinh thêm thủ tục, thời gian và khó xác định được trách nhiệm của cơ quan
nào nếu có vi phạm. Thứ ba, theo quy định tại Khoản 2, Điều 46 Dự thảo thì UBND xã
có thẩm quyền đăng ký kết hôn đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài kết hôn
với nhau. Việc quy định như vậy là không hợp lý bởi muốn kết hôn với nhau thì công dân
Việt Nam phải về nước để đăng ký kết hôn, tốn chi phí đi lại, thời gian. Đối với trường
hợp này thì nên áp dụng quy định cũ là cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam tại nơi
công dân Việt Nam cư trú có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, phải thừa nhận là
việc chuyển thẩm quyền về UBND xã sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân hơn trong
kết hôn với người nước ngoài không ảnh hướng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc
không trái với quy định của ngành đó.
24
Trường hợp đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên
giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì
ngoài những loại giấy tờ quy định chung thì hai bên đương sự khi nộp hồ sơ đăng ký kết
hôn cho UBND cấp xã nơi thường trú của công dân Việt Nam tại khu vực biên giới còn
phải xuất trình thêm một số loại giấy tờ được quy định tại Khoản 3, Điều 69 Nghị định
68/2002/NĐ-CP. Đấy là những giấy tờ chứng minh công dân Việt Nam và công dân
nước láng giềng với Việt Nam là thường trú ở khu vực biên giới để được hưởng một số
quyền ưu tiên khác mà pháp luật dành cho họ.
2.3.2. Thủ tục nộp, nhận hồ sơ
Thủ tục nộp và nhận hồ sơ được quy định cụ thể tại Điều 14 Nghị định
68/2002/NĐ-CP. Theo đó khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn, cả hai bên đương sự phải có
mặt, trường hợp có lý do khách quan mà một bên đương sự không thể có mặt được thì
phải có đơn xin vắng mặt và ủy quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ. Không chấp nhận việc
nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thông qua người thứ ba.
Khi nhận hồ sơ đăng ký kết hôn, Sở Tư pháp hoặc cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt
Nam kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của các giấy tờ trong hồ sơ, nếu hồ sơ chưa đầy đủ
hoặc chưa hợp lệ thì hướng dẫn đương sự hoàn thiện hồ sơ.
2.3.3. Trình tự giải quyết
Trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định cụ thể
tại Khoản 4, Khoản 5, Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Điều 16 và
Điều 18 Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Theo đó thì trong vòng 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ
hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm “ thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ
sở Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của
họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của
nhau. Việc phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến
đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn” [14]. Đây là một thủ tục mới so với
Nghị định 68/2002/NĐ-CP, quy định này đảm bảo cho thủ tục đăng ký kết hôn chặt chẽ