Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay - Pdf 33

A.LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa, “mở của hội nhập” như hiện nay, nhiều hoạt
động đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hình thành các quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài là điều tất yếu, và quan hệ hôn nhân và gia đình cũng
không phải là ngoại lệ. Chính vì thế mà nhu cầu muốn kết hôn với người nước
ngoài hay người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam có nhu cầu kết hôn với
công dân Việt Nam ngày càng tăng. Nhưng không phải ai cũng hiểu biết rõ về
luật pháp Việt Nam, mà một khi đã ít hiểu biết về pháp luật thì dễ xảy ra
những hiểu lầm, có thể dẫn tới những hậu quả xấu. Một thực trạng đang xảy
ra trong những năm gần đây, các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà
chủ yếu là với người Đài Loan, Hàn Quốc tăng nhanh và ngày càng trở nên
phức tạp. Thực tế cho thấy những người phụ nữ lấy chồng Đài Loan, Hàn
Quốc thường có tuổi đời từ 18 đến 25, phần lớn là phụ nữ nông thôn hoặc dân
nghèo thành thị và đa phần muốn đổi đời nhanh chóng. Không ít cha mẹ gả
con hoặc chính chị em quyết định kết hôn trong điều kiện khó khăn, muốn có
ngay khoản tiền phụ giúp gia đình. Trước thực trạng này, nhóm chúng em sẽ
thực hiện bài luận về vấn đề “Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam hiện nay “.


B.NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Khái niệm và các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo khoản 14 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 thì:
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tô nước ngoài là quan hệ hôn nhân và
gia đình:
- Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi và
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới
quan hệ đó ở nước ngoài .”

định: "Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được
ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở".
Để các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài đảm bảo được nguyên tắc
tự nguyện khi kết hôn, pháp luật Việt Nam cũng quy định về việc phỏng vấn
hai bên nam nữ trươc khi làm thủ tục đăng kí kết hôn. Đây là một khâu quan
trọng giúp cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thẩm tra sự tự nguyện của
các bên, phát hiện ngay từ giai đoạn đầu việc sai phạm điều kiện kết hôn để
có thể kịp thời xử lý các tình huống xấu có thể xảy ra. Từ đó, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp cho các bên nam nữ. Theo quy định tại Nghị định số
69/2006/NĐ-CP thì Sở Tư pháp tiến hành -phỏng vấn trực tiếp để làm rõ sự
tự nguyện kết hôn của hai bên, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và
mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau.
2.3. Các trường hợp cấm kết hôn
Theo pháp luật hiện hành, có năm trường hợp cấm kết hôn:
- Cấm kết hôn đối với người đang có vợ hoặc có chồng;
- Cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự;
- Cấm kết hôn đối với người có cùng dòng máu về trực hệ; giữa những
người có họ trong phạm vi ba đời;


- Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là
cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng
với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
- Cấm kết hôn đối với người cùng giới tính.
Đây là những trường hợp luật quy định về kết hôn nói chung, nên cũng sẽ
phải được áp dụng đối với kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, quan hệ
kết hôn có yếu tố nước ngoài thực tế khá phức tạp, vì vậy mà ngoài việc xem
xét các cặp nam nữ muốn kết hôn có thuộc vào 5 trường hợp trên không, mà
quá trình phỏng vấn của Sở Tư pháp và quá trình xác minh của Công an về
tính xác thực của hồ sơ giấy tờ đăng ký kết hôn còn cần phải xác định được

hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc nguời chồng đó đã chết hoặc
bị tuyên bố là chết thì tuỳ truờng hợp cụ thể, đương sự còn phải xuất trình bản
án, quyết dịnh đã có hiệu lực pháp luật về việc ly hôn hoặc giấy chứng tử của
người vợ hoặc người chồng đó.
3.2. Thủ tục nộp, nhận hồ sơ
Khi nộp hồ sơ đăng kí kết hôn, cả hai bên đương sự phải có mặt. Trong
trường hợp có lý do khách quan mà một bên không thể có mặt được thì phải
có đơn xin vắng mặt và uỷ quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ. Không chấp
nhận nộp hồ sơ đăng kí kết hôn qua người thứ ba.
Khi nhận hồ sơ đăng kí kết hôn, Sở Tư pháp kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ
của các giấy tờ trong hồ sơ; nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ thì
hướng dẫn đương sự hoàn thiện hồ sơ.
3.3. Trình tự giải quyết
Trình tự giải quyết việc đăng kí kết hôn có yếu tố nuớc ngoài tại Việt Nam
được quy định chi tiết tại khoản 4, khoản 5 Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐCP sửa đổi, bổ sung Điều 16, Điều 18 Nghị định 68/NĐ-CP.
3.4. Lễ đăng kí kết hôn
Lễ đăng kí kết hôn được pháp luật quy định tại Điều 17 Nghị định 68/2002/
NĐ-CP và khoản 6 Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP.
3.5 Nghi thức kết hôn


Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 11, Điều 14 Luật HN&GĐ Việt Nam
năm 2000, khoản 1 Điều 11 Nghị định 68/2002/NĐ-CP thì việc kết hôn phải
đựợc đăng kí và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi
thức do pháp luật quy định, mọi nghi thức kết hôn không tuân theo quy định
của pháp luật về đăng kí kết hôn đều không có giá trị pháp lý. Như vậy, ở
nước ta, nghi thức kết hôn duy nhất làm phát sinh quan hệ hôn nhân là nghi
thức dân sự. Đối với các trường hợp kết hôn có yếu tố nuớc ngoài, nghi thức
kết hôn được xác định theo pháp luật của nới tiến hành kết hôn. Do đó, việc
kết hôn có yếu tố nước ngoài nếu tiến hành ở Việt Nam thì phải thực hiện

lớn, tuy nhiên, ở các cặp vợ chồng Đài -Việt, tuổi kết hôn của các cô gái Việt
Nam thường rất trẻ, độ tuổi chênh lệch lớn. Về dân tộc, gần một nửa phụ nữ
Việt Nam kết hôn với Đài Loan thuộc dân tộc Hoa (có tỷ lệ cao hơn tỷ lệ
chung).
Bên cạnh những trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài đạt được mục
đích hôn nhân, trở thành cầu nối văn hóa, hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc,
quốc gia, thì thực tế cho thấy, việc kết hôn có yếu tố nước ngoài nói chung,
việc phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài còn rất nhiều hiện tượng xấu,
gây dư luận không tốt cho xã hội. Cụ thể như sau :
1.1 Môi giới hôn nhân bất hợp pháp:
Đây là hiện tượng nhiều tổ chức móc nối, “cò” trong việc tổ chức xem
mặt, tuyển chọn các cô gái Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa kinh
tế khó khăn, điển hình là ở miền Tây phía Nam nước ta, các tổ chức này còn
có quan hệ làm ăn với các tổ chức môi giới hôn nhân nước ngoài.
“Việc nghiêm cấm hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn hoặc
lợi dụng việc môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài đã được các Nghị định 68
và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp đề cập tới. Tuy
nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp dịch vụ môi giới hôn nhân vẫn tiếp tục
hoạt động dưới nhiều hình thức trá hình, tinh vi để lẩn tránh pháp luật và có
sự móc nối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động môi giới hôn nhân


(vì luật pháp Hàn Quốc, Đài Loan cho phép cá nhân, tổ chức được hoạt động
môi giới hôn nhân hợp pháp)”1.
Phần nào các tổ chức này vẫn còn tiếp tục hoạt động là do chế tài chưa
đủ mạnh, theo Nghị định 150/2005/NĐ –CP về xử phạt hành chính trong lĩnh
vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì hành vi môi giới hôn nhân bất hợp pháp
sẽ bị phạt từ 1 đến 2 triệu, mức phạt quá ít so với số tiền mỗi lần môi giới hôn
nhân thành công kiếm được.
1.2 Hôn nhân không tự nguyện và không dựa trên tình yêu thực sự:

quan, tổ chức có thẩm quyền giúp đỡ, nên không còn cách nào khác ngoài
việc điện thoại hay thư từ kêu cứu về gia đình mình tại Việt Nam.
Nhiều người không chịu được đã ly hôn, trở về nước, số khác chịu đựng, đau
lòng hơn, là trường hợp của Võ Thị Minh Phương, người Hậu Giang, lấy
chồng Hàn Quốc được 8 năm và có 2 con, sau khi lấy chồng, cô đã tự học
tiếng Hàn và công việc ổn định ở Hàn Quốc, nhưng do bất đồng trong cuộc
sống gia đình, lại bị bạo hành, đánh đập nhiều do chồng vũ phu, ghen tuông,
nên đã cùng cả 2 con nhảy lầu tự tử hồi giữa tháng 11/2012.
1.4. Mua bán phụ nữ qua biên giới mang danh kết hôn có yếu tố nước ngoài:
Có không ít tổ chức, cá nhân mang danh môi giới hôn nhân để che giấu việc
mua bán người qua biên giới. Bản thân việc môi giới hôn nhân đã là trái pháp
luật, việc buôn bán người lại càng vi phạm pháp luật ở mức độ nghiêm trọng
hơn, và còn xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người.
Cũng trong vụ việc ở Cần Thơ, nhiều gia đình đã làm đơn gửi tới Cơ quan
Công an và các tổ chức bảo vệ phụ nữ nhờ can thiệp để cứu con gái trở về
nhà. Các cô gái lấy chồng nước ngoài cùng đợt đó tại Cần Thơ, ai may mắn
còn được trở thành vợ của một người, ai bất hạnh thì trở thành món hàng hóa
đem bán qua bán lại, làm vợ của nhiều người, hoặc bị ép làm việc ở các ổ mại
dâm dọc biên giới Việt Nam – Trung Quốc.
1.5. Từ phía cơ quan nhà nước : có sự gây khó dễ trong thủ tục đăng ký kết
hôn có yếu tố nước ngoài:
“Theo tổng kết của Vụ Hành chính tư pháp, khi giải quyết việc kết hôn có yếu
tố nước ngoài, cán bộ hộ tịch của các Sở Tư pháp có rất nhiều cách hiểu khác
nhau, dẫn đến việc áp dụng các quy định về thủ tục không thống nhất. Cùng


một việc, nhưng địa phương này giải quyết dễ dàng, địa phương khác lại gây
khó khăn, thậm chí không giải quyết, dẫn đến bức xúc trong dư luận. Chính vì
vậy, đã có trường hợp, đương sự phải làm động tác chuyển hộ khẩu từ địa
phương này sang địa phương khác mới được công nhận việc kết hôn.”2

kinh tế, ... thì vẫn có rất nhiều cuộc hôn nhân xuất phát từ tình yêu thực sự,
nên các cán bộ tư pháp cần có cái nhìn đúng đắn để giải quyết phù hợp từng
trường hợp, không nên có cái nhìn quá cứng nhắc về mọi trường hợp lấy
chồng nước ngoài nói riêng, kết hôn có yếu tố nước ngoài nói chung.
III. NHỮNG ĐỀ XUẤT ĐỂ GIẢI QUYẾT THỰC TRẠNG TRÊN:
Thứ nhất, cần quan tâm hơn đến việc xây dựng các hiệp định hỗ trợ
tư pháp giữa các quốc gia với Việt Nam điều chỉnh về vấn đề kết hôn có yếu
tố nước ngoài, tạo nên một cơ chế bảo vệ chế độ hôn nhân cả trong và ngoài
lãnh thổ quốc gia. Về điều kiện kết hôn luật cũng cần phải quy định chặt chẽ
và đưa ra các điều kiện phù hợp hơn và mang tính đặc thù chứ không thể
giống như điều kiện kết hôn quy định trong Luật hôn nhân và gia đình hiện
nay áp dụng đối với trường hợp phụ nữ Việt lấy chồng nước ngoài.
Thứ hai, phải có các biện pháp thiết thực để bảo vệ người phụ nữ trong
quan hệ kết hôn với người nước ngoài :
+ Thay đổi mức phạt nặng hơn đối với hành vi môi giới hôn nhân, để
ngăn chặn thực trạng môi giới tràn lan như hiện nay.
+ Quá trình phỏng vấn của Sở tư pháp khi giải quyết yêu cầu kết hôn
cần có sự kết hợp với việc tuyên truyền pháp luật về hôn nhân gia đình và tìm
hiểu về mục đích kết hôn để có thể đưa ra lời khuyên đúng lúc cho các cô gái
người Việt hiểu lầm về việc lấy chồng nước ngoài là cơ hội để đổi đời.
+ Hoạt động của Cơ quan công an cần được tăng cường ngay từ giai
đoạn xác thực hồ sơ yêu cầu đăng ký kết hôn, có như vậy mới có thể ngăn
chặn những rủi ro sau khi kết hôn mà các cô gái Việt Nam đang gặp phải như
hiện nay.
+ Có sự quan tâm của các tổ chức xã hội bảo vệ phụ nữ và cơ quan
công an sau khi lễ kết hôn được tổ chứ

MỤC LỤC



1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Đinh Thị Mai Hương, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam năm 2000, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2004.
3. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 và các văn bản liên quan
4. />5. Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại thành
phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và phương hướng đổi mới” của Sở Tư
pháp thành phố Hồ Chí Minh năm 2003, Nguyễn Thu Giang, Phó Giám
đốc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh chủ nhiệm đề tài.
6. Đề tài cấp cơ sở “Đánh giá thực trạng tình hình phụ nữ Việt Nam kết
hôn với người Đài loan và giải pháp “- Viện Khoa học Pháp lý- TS.
Nguyễn Thuý Hiền, Cục trưởng Cục đăng ký giao dịch bảo đảm, Bộ Tư
pháp chủ nhiệm đề tài




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status