Thực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay - Pdf 94

ĐẶT VẤN ĐỀ
Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc
tế ngày càng được mở rộng, giao lưu giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài ngày càng phát triển, đặc biệt là các quan hệ về hôn nhân và gia đình của
công dân Việt Nam với người nước ngoài. Trong đó, quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội thu hút sự quan
tâm của nhiều người. Để có cái nhìn cụ thể hơn, nhóm chúng em sẽ tìm hiểu đề
tài: “Thực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.1.1. Khái niệm nuôi con nuôi
Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác
lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận
làm con nuôi, đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”. Luật nuôi con nuôi năm
2010 cũng đã giải thích cụ thể tại khoản 1 Điều 3: “Nuôi con nuôi là việc xác lập
quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con
nuôi”. Hai khái niệm trên đây chính là khung pháp lý quan trọng nhằm xác lập
mối quan hệ giữa cha mẹ và con nuôi và là cơ sở để phát sinh quyền và nghĩa vụ
giữa họ với nhau.
1.1.2. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo Khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi, nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa
người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với
nhau mà một bên định cư ở nước ngoài. Theo các trường hợp trên, quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được mở rộng, không chỉ là quan hệ nuôi con
nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ
1
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài và quan hệ nuôi
con nuôi giữa người nước ngoài với nhau ở Việt Nam.

1. Trẻ em dưới 16 tuổi;
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a. Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b. Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi;
3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả
hai người là vợ chồng;
4. Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác.
1.3.2. Điều kiện với người nhận con nuôi
Để được nhận con nuôi, người nhận con nuôi phải thuộc một trong các đối
tượng sau đây:
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở
nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam
nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở
nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:
a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;
b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;
d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
khác làm con nuôi;
đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian
ít nhất là 01 năm.
3. Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm
con nuôi.
4. Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.
Về điều kiện với người nhận con nuôi, Điều 29 luật nuôi con nuôi quy định:
3
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở
nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo

Việt Nam làm con nuôi nhiều nhất là Pháp và Mỹ.Việc cho trẻ em Việt Nam làm
con nuôi người nước ngoài đã cơ bản giải quyết được những khó khăn về đời
sống cho một số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đồng thời, đáp ứng
mục tiêu cơ bản của việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Theo thông báo của các địa phương, cả nước có 91/378 cơ sở nuôi dưỡng
có quyền cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài. Đây là những cơ sở nuôi dưỡng
được thành lập hợp pháp, chủ yếu do Sở Lao động Thương binh và Xã hội quản
lý, là nơi tiếp nhận các dự án hỗ trợ nhân đạo từ các tổ chức con nuôi nước
ngoài. Việt Nam là một quốc gia có số lượng trẻ em làm con nuôi của người
nước ngoài khá cao. Số liệu thống kê từ các cơ quan con nuôi ở cấp Trung ương
cho thấy số lượng con nuôi đi từ Việt Nam là tương đối nhiều và nhìn chung
tăng trong những năm gần đây, đặc biệt tăng với những nước có quan hệ gần gũi
và đã ký Thoả thuận song phương với Việt Nam.
Bảng 1: Con nuôi từ Việt Nam đến các nước nhận nuôi từ năm 2002 – 2008
Nước

Năm
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tổng số
Canada 84 45 6 5 34 54 45 189
Đan Mạch 75 19 13 72 44 51 39 313
Pháp 61 234 363 790 742 268 284 2742
Ailen 81 39 16 92 68 130 181 607
Ý 90 59 6 140 238 263 313 1109
Thuy Điển 86 32 6 80 67 54 45 370
Thụy Sỹ 24 47 31 4 3 5 5 119
Hoa Kỳ 766 382 21 7 163 828 751 2918
Tổng số 1183 857 462 1190 1359 1648 1658 8357
Việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của người nhận con nuôi; tăng cường
mối quan hệ gắn bó với Việt Nam; phần nào giảm bớt gánh nặng về kinh tế, nhất

6
Hầu hết các tỉnh, thành phố đều đã có cơ sở nuôi dưỡng để có thể đảm
nhiệm việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em và là cơ sở để thực hiện việc giới thiệu
trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Cụ thể, hiện nay cả nước có 120 trung tâm
bảo trợ xã hội do ngành Lao động, Thương binh – Xã hội quản lý. Hiện cả nước
có 91/378 cơ sở nuôi dưỡng có quyền cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài.
Nhà nước cho phép các tổ chức con nuôi nước ngoài được hoạt động tại
Việt Nam; góp phần giải quyết cho người nước ngoài nhận con nuôi và phần nào
hạn chế được tình trạng môi giới trung gian, bất hợp pháp. Việc thực hiện các dự
án hỗ trợ nhân đạo từ hoạt động hợp tác nuôi con nuôi quốc tế tạo điều kiện cho
cơ sở nuôi dưỡng trở nên khang trang hơn, điều kiện chăm sóc trẻ em tốt hơn.
3. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT THỰC TRẠNG NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
3.1.Thành tựu
3.1.1. Về mặt xã hội
a. Tìm được mái ấm gia đình, đem lại hạnh phúc cho trẻ em và gia đình nhận
con nuôi
Trong 5 năm qua đã có trên 6.000 trẻ em tìm được mái ấm gia đình thay thế,
theo cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa Việt Nam và nước nhận. Điều này góp phần
đem lại hạnh phúc cho trẻ em và các gia đình cha mẹ nuôi. Đây là việc làm nhân
đạo, góp phần tăng cường sự hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước; thiết
lập mối quan hệ thân thiện. Nhiều trẻ em khuyết tật, tàn tật, mắc bệnh hiểm
nghèo được các tổ chức đưa ra nước ngoài chữa trị và được giải quyết cho làm
con nuôi. Điều đó góp phần giảm bớt chi phí, thời gian và thể hiện sự cải cách
đáng kể các thủ tục hành chính.
b. Đời sống của trẻ em tại nhiều cơ sở nuôi dưỡng được cải thiện
Các dự án hỗ trợ nhân đạo quốc tế đã tạo điều kiện cho nhiều cơ sở nuôi
dưỡng trở nên khang trang; điều kiện chăm sóc trẻ em tốt hơn. Mức hỗ trợ nuôi
dưỡng nhiều nơi đạt khoảng 1 triệu đồng/1 trẻ/tháng. Nhiều cơ sở có hệ thống
7

định rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ hơn. Cơ quan có thẩm quyền tăng cường kiểm
tra chặt chẽ đối với hồ sơ của trẻ em, dần tạo ra sự minh bạch hơn về nguồn gốc
trẻ em. Điều này góp phần hạn chế các hành vi làm sai lệch nguồn gốc trẻ em,
góp phần bảo vệ tốt hơn quyền của trẻ em. Các thông tin về trẻ em được theo
dõi, quản lý khá thống nhất từ địa phương đến trung ương.
Thứ tư, công tác xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định
hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế đã được Bộ Tư pháp và các Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh đặc biệt quan tâm. Cụ thể, Luật nuôi con nuôi 2010 ra đời
đã quy định cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó
còn có các Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi.
b. Trình tự, thủ tục giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài
được cải tiến
Chương 3 Luật nuôi con nuôi 2010 đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục,
điều kiện giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Thời hạn giải
quyết việc nuôi con nuôi quốc tế cũng như thời gian xử lý ở từng khâu của các
cơ quan liên quan được quy định rõ ràng, hợp lý hơn; các giấy tờ được thiết kế
theo mẫu dễ dàng cho việc thực hiện. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước được
quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn ở từng khâu trong toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ
của người xin con nuôi và hồ sơ của trẻ em.
c. Công tác kiểm tra, thanh tra được tăng cường
Công tác kiểm tra, thanh tra được đặc biệt quan tâm; Luật nuôi con nuôi đã
quy định cụ thể vấn đề này trong chương 4 (Trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước về nuôi con nuôi). Điều này góp phần uốn nắn kịp thời những lệch lạc, xử
lý các vi phạm, nâng cao ý thức pháp luật và tinh thần trách nhiệm của những
người hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Hàng năm, Bộ Tư pháp
đều phối hợp cùng các cơ quan khác ở trung ương tiến hành kiểm tra tình hình
nuôi con nuôi quốc tế ở các địa phương và kiểm tra định kì các văn phòng nuôi
con nuôi nước ngoài. Nội dung các cuộc kiểm tra khá toàn diện, đặc biệt về việc
9
xác minh nguồn gốc trẻ em; việc bảo đảm các thủ tục, hồ sơ, giấy tờ; việc sử

gia đình nước ngoài khác cũng muốn đến Việt Nam để xin con nuôi. Họ cho rằng,
thủ tục giải quyết nuôi con nuôi ở Việt Nam không mất nhiều thời gian như ở nhiều
nước; cơ quan nhà nước đều bảo đảm sự thuận lợi, an toàn và họ rất có thiện cảm
với trẻ em Việt Nam. Chính điều này đã làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, như: cò
mồi, môi giới trung gian, trục lợi… gây khó khăn cho hoạt động quản lí.
d. Chưa bảo đảm ưu tiên việc nuôi con nuôi trong nước trước khi cho trẻ em
làm con nuôi ở nước ngoài
Trước khi Luật nuôi con nuôi được ban hành, ở Việt Nam vẫn thiếu các quy
định đảm bảo sự gắn kết giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế
theo hướng ưu tiên nuôi con nuôi trong nước; nuôi con nuôi nước ngoài chỉ được
coi là biện pháp thay thế cuối cùng khi không thể tìm được mái ấm cho trẻ em ở
trong nước. Tuy nhiên, các cơ quan và cơ sở nuôi dưỡng trẻ em chưa thực sự
quan tâm đến việc này, chỉ chú ý vào việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở
nước ngoài nếu có hồ sơ mà chưa chú ý đến việc thu xếp mái ấm gia đình cho trẻ
em ở trong nước.
3.2.2. Về quy định của pháp luật và công tác triển khai thực hiện
a. Chưa quản lý chặt chẽ hoạt động của các Văn phòng con nuôi nước ngoài
tại Việt Nam
Hiện tại, trên phạm vi cả nước có 69 Văn phòng con nuôi nước ngoài được
cấp phép hoạt động, trong đó 42 văn phòng của Hoa Kỳ. Nhiều tổ chức con nuôi
sang Việt Nam mang tính tự phát, không có sự kiểm soát và giới thiệu của cơ
quan trung ương. Việc số đông các tổ chức con nuôi vào Việt Nam hoạt động đã
tạo ra sự cạnh tranh, làm cho tình hình càng trở nên phức tạp, khó kiểm soát.
Pháp luật về nuôi con nuôi, trình tự cấp phép và quản lý tổ chức nuôi con
nuôi của các nước lại rất khác nhau. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan của
nước ta trong việc đánh giá, xem xét cấp phép và quản lý.
b. Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi còn bất cập
11
Thứ nhất, về thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi: Việc quản lý các dữ liệu
về trẻ em có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi do cơ sở nuôi dưỡng trực

trong công tác hỗ trợ nhân đạo cũng còn nhiều hạn chế. Cần tạo ra sự minh bạch
hoá trong vấn đề này để bảo đảm việc sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo đúng
mục đích vì lợi ích của trẻ em
e. Công tác báo cáo chưa thực hiện nghiêm túc, gây khó khăn trong việc
thống kê, hoạch định chính sách. Công tác kiểm tra, thanh tra chưa thường
xuyên, đồng bộ.
f. Tình trạng ứ đọng hồ sơ xin con nuôi và quá tải trẻ em tại các trung tâm
bảo trợ xã hội địa phương
Nhiều trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ xã hội địa phương đang ở tình trạng quá
tải, gặp nhiều khó khăn trong việc đón nhận và chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Trong khi đó, rất nhiều hồ sơ của người nước ngoài xin nhận con nuôi lại đang ứ
đọng. Chính điều này đã làm chậm cơ hội có mái ấm gia đình của nhiều trẻ em
bất hạnh trong khi hiện tại chúng ta không có đủ điều kiện và khả năng tạo dựng
cho các em cuộc sống ổn định trong nước.
g. Hạn chế về cơ sở vật chất tại cơ sở nuôi dưỡng
Hiện nay, phần lớn các cơ sở nuôi dưỡng trẻ đều gặp khó khăn về cơ sở vật
chất, cán bộ, kinh phí nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Vì vậy, việc tiếp nhận trẻ bị
bỏ rơi vào các trung tâm này còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ yêu cầu. Hơn nữa,
các cháu được nuôi dưỡng tại các trung tâm này hoặc là có sức khỏe yếu, hoặc bị
tàn tật, một số trẻ có sức khỏe bình thường thì không đủ điều kiện về mặt thủ tục
pháp lý để cho làm con nuôi người nước ngoài. Bên cạnh đó, có rất nhiều gia
đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, có nguyện vọng cho con làm con nuôi
nước ngoài nhưng không thể được giải quyết và các trung tâm bảo trợ xã hội
cũng không tiếp nhận những đối tượng này.
4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VÀ HOÀN THIỆN
4.1. Các giải pháp tổ chức – kỹ thuật
13
Cần có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của
Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước
ngoài tại Việt Nam để tìm hiểu rõ các quy định pháp luật của các nước về các

Các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường kiểm tra, thực hiện đúng các
quy định về việc xác định nguồn gốc của trẻ em, nhất là trẻ bị bỏ rơi, chống mọi
biểu hiện làm sai lệch nguồn gốc trẻ em, ngăn ngừa sự cấu kết, tiếp tay với
những người môi giới bất hợp pháp để đưa trẻ em có nguồn gốc không rõ ràng
vào cơ sở nuôi dưỡng để cho làm con nuôi người nước ngoài.
Mở rộng việc kí kết hiệp định song phương về hợp tác nuôi con nuôi với
các nước để có cơ chế hợp tác quốc tế nhằm bảo vệ trẻ em Việt Nam được làm
con nuôi, tránh cho trẻ em Việt Nam mọi rủi ro không đáng có khi làm con nuôi
ở nước ngoài và tạo điều kiện cho công dân các nước được nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi.
Nhà nước cần xem xét để sớm thành lập thêm các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em,
đồng thời hỗ trợ kinh phí, tăng cường trang bị cơ sở vật chất cho các trung tâm
nuôi dưỡng trẻ mồ côi suy dinh dưỡng để các trung tâm này có đủ điều kiện tiếp
nhận trẻ vào trung tâm, đảm bảo “đầu ra” cho công tác giải quyết cho người
nước ngoài nhận con nuôi.
KẾT LUẬN
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong pháp
luật hôn nhân và gia đình, không chỉ trong pháp luật quốc gia mà có trong pháp
luật quốc tế. Trong thời gian qua,Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong
việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn
xuất hiện những bất cập, những hạn chế cần phải xử lí, loại bỏ. Hoàn thiện và
kiện toàn về quy định pháp luật, về công tác tổ chức thực hiện đang là một điểm
nóng cần lưu tâm nhằm giải quyết triệt để những hạn chế này.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
***
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam, Nxb. CAND, 2011;
2. Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000;
3. Luật nuôi con nuôi năm 2010;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status