nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Pdf 28

Bài làm.
A, Mở đầu.
Nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi là quyền tự do của cá nhân,
nhằm đáp ứng các nhu cầu tự nhiên của con người. Việc nuôi con nuôi thể hiện
bản chất nhân ái của con người, những giá trị nhân văn mà con người hướng tới
và mong muốn đạt được. Việc nuôi con nuôi chịu sự chi phối của các điều kiện
kinh tế, xã hội, biểu hiện qua tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức,
qua mỗi thời kỳ lịch sự đều có đặc điểm riêng. Song việc nuôi con nuôi luôn
biểu hiện sự kết hợp lợi ích của các bên, đồng thời ảnh hưởng tới lợi ích chung
của nhà nước và xã hội. Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, việc cho nhận
con nuôi ngày càng phát triển về quy mô và số lượng, ở trong cũng như ngoài
nước, điều đó tạo cho trẻ em có cơ hội được sống trong mái ấm gia đình, nhưng
cùng với nó cũng đặt ra những thách thức đòi hỏi phải hoàn thiện các thiết chế
và pháp luật về nuôi con nuôi nhằm giải quyết quyết tốt việc cho nhận con nuôi,
đảm bảo lợi ích cho trẻ em được nhận nuôi.
B, Nội dung
I. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi là bảo đảm cho người được nhận làm con
nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã
hội và bảo đảm cho người nhận nuôi con nuôi được quan tâm, chăm sóc khi già
yếu, ốm đau, bệnh tật. Xuất phát từ ý nghĩa xã hội và mục đích nhân đạo của
việc nuôi con nuôi, chúng ta có thể hiểu “nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ
cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi (cha mẹ nuôi) với người được nhận làm
con nuôi” (theo Từ điển Luật học ) (1)
Page | 1
Hiện nay, cho và nhận nuôi con nuôi không chỉ còn là vấn đề của từng
quốc gia mà cũng được rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam,
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chính là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngoài. Quan hệ này đã được pháp luật quy định tại Điều 758 –
BLDS2005 (2), và được cụ thể hóa tại Khoản 5 – Điều 3 – Luật nuôi con nuôi
2010, theo đó : “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa

thể vấn đề nuôi con nuôi, giảm bớt được những rào cản về trình tự, thủ tục, giấy
tờ, cũng như tăng cường cơ chế bảo vệ trẻ em. Trong năm 2003, Chính phủ Việt
Nam đã điều chỉnh quy định về nuôi con nuôi, thành lập Cục Con nuôi quốc tế
thuộc Bộ Tư pháp để xét duyệt việc nhận con nuôi và đưa ra những yêu cầu đối
với nước nhận nuôi để ký kết thoả thuận song phương với Việt Nam. Các thoả
thuận song phương đã được ký với Pháp (năm 2000), và các nước khác như Đan
Mạch (2003), Ý (2003), Thuỵ Điển (2004), Ailen (năm 2004), Canada (năm
2005), tỉnh bang Québec (năm 2005), Mỹ (năm 2005), Thuỵ Sĩ (năm 2005), và
Tây Ban Nha (năm 2009). Các nước nhận con nuôi trong khuôn khổ Hiệp định
song phương đã uỷ quyền cho một số tổ chức con nuôi quốc tế phát triển hoạt
động con nuôi ở Việt Nam. Vào giữa năm 2008 có gần 70 tổ chức con nuôi
nước ngoài.
+ Trên thực tế, còn thiếu sự gắn kết giữa nuôi con nuôi trong nước và
nuôi con nuôi quốc tế theo hướng ưu tiên nuôi con nuôi trong nước; nuôi con
nuôi nước ngoài chỉ được coi là biện pháp thay thế cuối cùng khi không thể tìm
được mái ấm cho trẻ em ở trong nước. Đây là một yêu cầu quan trọng của Công
ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi quốc tế mà Việt Nam
đang chuẩn bị ký. Nhưng hiện nay yêu cầu này chưa được bảo đảm thực thi
nghiêm túc ở nước ta, do còn thiếu các biện pháp kiên quyết và hữu hiệu.
Theo Nghị định 68/2002/NĐ-CP, trước khi giải quyết cho làm con nuôi
người nước ngoài, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm thông báo 30 ngày trên
phương tiện thông tin đại chúng cấp tỉnh (trên báo chí, đài phát thanh, truyền
Page | 3
hình) về việc tìm mái ấm gia đình trong nước cho trẻ em. Nhưng trên thực tế,
nhiều nơi chỉ làm một cách hình thức, chiếu lệ, không bảo đảm đích thực của
việc tìm mái ấm gia đình trong nước cho trẻ em. Thậm chí có nơi chỉ nộp giấy
xác nhận đã thông báo trên đài phát thanh hoặc trên vô tuyến truyền hình, còn
thực tế có thông báo hay không, lại không có sự kiểm tra, xác thực chính xác.
+ Còn tồn tại một số điểm không rõ ràng, thiếu minh bạch trong hồ sơ
của trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi người nước ngoài. Những công bố

thực hiện của từng địa phương. Như vậy, việc thiếu nhất quán trong quá trình
điều tra và thiếu rõ ràng về việc ai sẽ là người chịu trách nhiệm đã dẫn tới tình
huống không đảm bảo rằng nguồn gốc của đứa trẻ đã được điều tra kỹ càng.
+ Trên thực tế, có rất ít hồ sơ xin nuôi con nuôi đảm bảo được đúng thời
hạn quy định. Theo quy định tại Nghị đinhh 68/2002/NĐ-CP, thời hạn giải
quyết hồ sơ là 4 tháng. Tuy nhiên, có những hồ sơ kéo dài đến hàng năm do
nhiều nguyên nhân khác nhau. Điều này khiến cho không ít giấy tờ hết giá trị
khiến đương sự phải đi làm lại (Ví dụ như giấy khám sức khỏe, luật chỉ quy
định cho thời hạn có giá trị là 6 tháng…).
+ Pháp luật còn thiếu các quy định minh bạch về phí, lệ phí và các vấn
đề tài chính có liên quan khác trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài. Thực tế cho thấy, rất nhiều khoản chi phí cần phải có để làm
những thủ tục cần thiết như khám sức khỏe của trẻ em, xét nghiệm… Những
khoản chi phí này không được cấp từ ngân sách mà do các cơ sở nuôi dưỡng tự
xoáy sở. Mặt khác, khi không có sự quy định minh bạch về tài chính sẽ tạo cơ
hội cho các bên có thể thỏa thuận ngầm với nhau với những mức giá nhất đinh
nhằm có được trẻ để nhận nuôi. Điều đó sẽ làm biến dạng việc nuôi con nuôi,
làm nảy sinh việc cạnh tranh không lành mạnh và thúc đẩy hành vi môi giới trục
lợi trong lĩnh vực này. Ví dụ như Một trong nhiều trường hợp (xem dưới đây)
có thể lấy làm ví dụ cho thực tế trên là tổ chức Bàn tay Trợ giúp của Ai-len,
được thành lập vào tháng 5/2006 để chuyên quản lý tất cả các trường hợp nhận
Page | 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status