BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TẠ TÙNG HOA
VẤN ĐỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60380108
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Vũ Thị Phƣơng Lan
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao
chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình.
Các thông tin được sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ.
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn.
Tác giả
Tạ Tùng Hoa
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
4. Phương pháp nghiên cứu
5.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6. Đóng góp của luận văn
7. Kết cấu của luận văn
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY
1.1. Khái quát về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1.Một số khái niệm
1.1.2. Xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.2. Giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.1. Phương pháp giải quyết xung đột
1.2.2. Giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài
theo pháp luật một số nước
3.1. Thực trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài giai
đoạn 2002 - 2012
3.1.1. Tình hình kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Đài Loan,
Hàn Quốc
3.1.2. Tình hình kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Trung
21
21
27
41
41
42
44
44
46
51
Quốc
3.1.3. Nguyên nhân
3.2. Khó khăn, vướng mắc
3.2.1. Khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luật về hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài
3.2.2. Khó khăn trong thực tiễn
3.3. Đề xuất, kiến nghị
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật
3.3.2.Những đề xuất, kiến nghị khác
KẾT LUẬN…………………………………………………………….
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn ký kết rất nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp
(HĐTTTP) với các nước để giải quyết vấn đề về kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Có thể nói, đây là một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn
chỉnh điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, từ luật, các văn bản
hướng dẫn và các HĐTTTP. Các văn bản pháp luật này điều chỉnh toàn diện
vấn đề HN&GĐ từ kết hôn, ly hôn, quan hệ pháp lý giữa vợ chồng, quan hệ cha
mẹ và con, vấn đề nuôi con nuôi, giám hộ, xung đột pháp luật và xung đột thẩm
quyền. So với giai đoạn trước đó (giai đoạn trước năm 1986), pháp luật còn đơn
giản, chưa có hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ. Có thể thấy, lý do
một phần là trình độ lập pháp, một phần do hoàn cảnh lịch sử nước ta khi đó
mới đang dần củng cố quan hệ với các nước sau khi đất nước thoát khỏi chiến
2
tranh, các mối quan hệ quốc tế này cũng mới chỉ đặt ra với các nước cùng chế
độ Xã hội chủ nghĩa, quan hệ với các nước tư bản hầu như chưa có.
Luật HN&GĐ năm 2000 đã dành hẳn một chương (chương XI) quy định
về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, trong đó xác định rõ nguyên tắc,
cách giải quyết xung đột quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài. Mặc dù trong
thời gian vừa qua, các quy định pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có
những đóng góp nhất định nhưng vẫn còn thiếu sót và bộc lộ một số nhược
điểm, nhất là trong xu thế ngày càng phát triển của quan hệ quốc tế. Ví dụ: điều
luật quy định về việc kết hôn vi phạm “thuần phong mỹ tục” hay vì mục đích
“trục lợi” chưa rõ ràng cụ thể dẫn đến khó áp dụng hoặc dễ bị lợi dụng khi áp
dụng; chưa có điều luật quy định về hôn nhân đồng giới, hiện nay nước ta
không công nhận vấn đề hôn nhân đồng giới nhưng một số nước trên thế giới
đã công nhận và ban hành luật hôn nhân đồng giới. Pháp luật Việt Nam cần có
quy định cụ thể hơn để dự liệu trường hợp có hôn nhân đồng giới có yếu tố
2006; Luận án tiến sĩ Nguyễn Hồng Bắc với đề tài “Pháp luật điều chỉnh quan
hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”; TS.Nông
Quốc Bình, TS. Nguyễn Hồng Bắc với đề tài “Quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài những vấn đề lý luận và thực tiễn’; Thạc sĩ Nguyễn Thái Mai
có bài viết “Trung tâm hỗ trợ kết hôn – mô hình mới góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho phụ nữ Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài” đăng
trên tạp chí Luật học số đặc san về bình đẳng giới năm 2005; “Mô hình cơ quan
tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài – Giải pháp đảm bảo quyền lợi của
phụ nữ Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài” – Nguyễn Thị Lan đăng
trên tạp chí Luật học số 04/2008; Đề tài “Kết hôn có yếu tố nước ngoài – Thực
trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn thành phố Hải Phòng” – Thạc
sĩ Nhâm Ngọc Hiển năm 2010... Tuy nhiên, các bài viết, đề tài nghiên cứu chủ
yếu tìm hiểu về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trong đó có đề cập đến
vấn đề giải quyết xung đột pháp luật, hoặc chủ yếu bàn về quy phạm pháp luật
xung đột dưới góc độ của pháp luật dân sự hoặc luật hôn nhân và gia đình mang
ý nghĩa lý luận sâu sắc hoặc phân tích thực trạng vấn đề kết hôn có yếu tố nước
ngoài nhưng giới hạn trên một địa bàn nhất định. Với đề tài lựa chọn, về lý
luận, luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và
pháp luật về hôn nhân gia đình nói riêng phù hợp với thực tiễn và phù hợp với
xu hướng chung của thế giới. Về thực tiễn, luận văn tập trung phân tích thực
4
tiễn quan hệ kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài dựa trên số
liệu báo cáo của các Sở Tư pháp trong thời gian gần đây.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
và thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề có phạm vi rộng, với
nhiều nội dung cần nghiên cứu, đánh giá, đưa ra nhiều loại giải pháp tương
thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài, đồng thời
đưa ra những đề xuất kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và
bảo vệ quyền, lợi ích của công dân Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Nêu và phân tích được thực tiễn áp dụng pháp luật về kết hôn có yếu tố
nước ngoài và thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài tại một số tỉnh, thành
phố trong những năm qua, thống kê và phân tích số liệu thực tế một cách đầy
đủ, có hệ thống.
- Phân tích logic diễn biến tình hình kết hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài; nêu được bức tranh tổng thể về tình hình kết hôn của
phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài; chỉ ra và phân tích các nguyên nhân
chủ yếu; xu hướng diễn biến trong thời gian tiếp theo.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp mang tính tích cực, trong đó
bao hàm cả giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp về kinh tế, văn hóa, giáo
dục, truyền thông… nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về kết hôn có yếu tố
nước ngoài, phòng ngừa, giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực như môi giới hôn
nhân trái pháp luật, buôn bán phụ nữ và trẻ em.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm:
Chương 1. Lý luận chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài và giải quyết
xung đột pháp luật về vấn đề này.
Chương 2. Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
Chương 3. Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài trong những năm gần đây và một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.
6
7
Như vậy, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước nước ngoài mang
một phạm vi rộng, với nhiều nội dung. Trong đó, kết hôn có yếu tố nước ngoài
là một nội dung trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả tập trung làm sáng tỏ quan hệ kết hôn
có yếu tố nước ngoài.
1.1.1.2 Khái niệm kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
* Kết hôn
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Kết hôn là sự kết hợp hai
người khác giới để lập gia đình, sinh con đẻ cái, thực hiện chức năng sinh học
và các chức năng khác của gia đình1.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì: Kết hôn là việc nam và
nữ chính thức lấy nhau, làm vợ, chồng theo quy định của pháp luật2.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Kết
hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng khi thỏa mãn các điều kiện kết
hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật3.
Vì kết hôn là một sự kiện xã hội quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt nên
được luật tục (dưới xã hội nguyên thủy) và luật pháp (đối với các xã hội đã có
văn tự và có nhà nước) quy định rất chặt chẽ. Ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm
khắc.
Kết hôn là quyền dân sự của cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân
sự năm 2005 (Điều 24, Điều 39), theo đó nam và nữ có đủ điều kiện kết hôn
theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn,
không bên nào bị ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép kết hôn.
1
Thông qua sự kiện đăng ký kết hôn, Nhà nước đã công nhận chính thức
quan hệ hôn nhân của hai bên nam nữ, Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cứ
viết về mặt pháp lý ghi nhận rằng hai bên nam nữ là vợ chồng trước pháp luật,
đồng thời phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ - chồng; thời điểm phát sinh
quan hệ là thời điểm hai bên nam nữ chính thức ký vào Giấy chứng nhận kết
hôn và Sổ đăng ký kết hôn.
Kết hôn là cơ sở, tiền đề cho việc tạo lập gia đình – tế bào của xã hội.
Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn là tổng thể các quy phạm pháp luật điều
chỉnh việc liên kết giữa nam và nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng.
Ở bất kỳ xã hội có giai cấp nào, pháp luật cũng luôn là công cụ hữu hiệu
của Nhà nước để điều chỉnh quan hệ kết hôn; nó thể hiện tính giai cấp sâu sắc.
Mặc dù có sự khác nhau trong nội dung của các quy phạm pháp luật của các
nước về vấn đề kết hôn, nhưng nhìn chung pháp luật về kết hôn tập trung điều
chỉnh hai vấn đề cơ bản, đó là: điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn.
9
- Điều kiện kết hôn:
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì: Điều kiện kết hôn là điều
kiện để Nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam nữ 4. Như vậy, điều
kiện kết hôn được hiểu là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra đối với các chủ thể
khi kết hôn và chỉ khi các chủ thể đáp ứng được đầy đủ các điều kiện đó thì
việc kết hôn mới coi là hợp pháp, do vậy quan hệ hôn nhân mới được pháp luật
của Nhà nước công nhận và bảo vệ.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp5 thì:
Điều kiện kết hôn là điều kiện do pháp luật quy định mà các bên nam nữ cần
phải có hoặc không có điều kiện đó mới có quyền được kết hôn. Điều kiện kết
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là “Những yêu cầu bắt buộc
phải đáp ứng do pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước khác quy định đối
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sẽ công nhận, cấp Giấy chứng nhận kết
hôn cho các bên và ghi vào Sổ đăng ký kết hôn; thường được tiến hành chính
thức tại trụ sở của cơ quan đăng ký kết hôn.
Nếu các bên chủ thể khi đăng ký kết hôn không đáp ứng được các yêu
cầu về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn mà pháp luật quy định thì về
nguyên tắc việc kết hôn đó sẽ không được pháp luật công nhận và bảo hộ
(không làm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật). Trường hợp các bên
nam nữ kết hôn mà vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo quy định của
pháp luật sẽ bị coi là việc kết hôn trái pháp luật (hôn nhân vô hiệu); khi có yêu
cầu, cơ quan tòa án có quyền hủy bỏ việc kết hôn trái pháp luật đó.
* Kết hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành
chưa có khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, kết hôn là một loại
quan hệ hôn nhân gia đình, do đó, có thể căn cứ theo khoản14 Điều 8 để giải
thích vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:“Quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài”.
Tại Điều 758 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 (BLDS) quy định nguyên
tắc, dấu hiệu nhận biết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, cụ thể: “Quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên
tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ
11
12
2. Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân
Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
quy định khác”.
Điều 762 BLDS 2005 quy định năng lực hành vi của người nước ngoài:
“ Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo
pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”.
- Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác
lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Khi các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn, họ luôn mong muốn thỏa mãn
các điều kiện và nghi thức của pháp luật để có thể trở thành vợ chồng hợp pháp.
Căn cứ làm phát sinh quan hệ kết hôn là việc đăng ký kết hôn – hai bên nam nữ
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn và cấp Giấy
chứng nhân kết hôn, đồng thời cùng ký vào Sổ đăng ký kết hôn.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
có thể tiến hành tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tại cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài. Tại khoản 1, Điều 16 Nghị định số
24/2013/NĐ-CP6 quy định: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau
hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài ở nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công
nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi
phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Trường hợp có vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng
vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được
khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ
nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam”.
của các quốc gia ngày càng nhiều và đa dạng trong mọi lĩnh vực. Sự đan xen đa
chiều của các quan hệ pháp lý không chỉ bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia mà còn liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia
khác nhau và có thể một quan hệ pháp lý chịu sự chi phối điều chỉnh của hai
hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Tư pháp quốc tế gọi vấn đề này là
quan hệ có “xung đột pháp luật” (conflict of law).
Hệ quả của xung đột pháp pháp luật đem lại chính là việc có thể áp dụng
pháp luật nước ngoài, từ đó lựa chọn pháp luật áp dụng (luật nội địa hay luật
14
nước ngoài) luôn là một vấn đề quan trọng. Do vậy, nói một cách khái quát thì
xung đột pháp luật là một tình huống pháp lý hoặc một quan hệ pháp lý khi
phát sinh có thể chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp7 luật khác
nhau”. Từ phân tích trên có thể hiểu: xung đột pháp luật về kết hôn là trường
hợp có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể tham gia điều chỉnh quan
hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật
Nguyên nhân mang tính khách quan xuất phát từ tính đa dạng, phong
phú của các hệ thống pháp luật hiện nay trên thế giới. Thực tế, hiện nay trên thế
giới có bao nhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu hệ thống pháp luật khác nhau. Điều
này dẫn đến hệ quả là việc áp dụng các hệ thống pháp luật khác nhau để giải
quyết một quan hệ tư pháp quốc tế có thể dẫn đến các hệ quả pháp lý khác
nhau. Từ cách hiểu này thì nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật về kết hôn
là do pháp luật về hôn nhân gia đình của các nước quy định khác nhau. Sự khác
nhau đó có thể là do truyền thống pháp lý, chế độ sở hữu… của từng quốc gia.
Bên cạnh đó, trong một xã hội luôn vận động và phát triển, sự di chuyển
nguồn nhân lực, dòng vốn, sự phát triển khoa học công nghệ, hình thành các
cuộc hôn nhân quốc tế…Các quan hệ này luôn tiềm ẩn vấn đề xung đột pháp
các bản địa khác nhau10. Do đó, ở đây pháp luật không nên can thiệp một cách
thái quá vào đời sống tinh thần, tình cảm, đạo đức và lối sống của mỗi cá nhân
trong các quan hệ riêng tư. Bởi trên phương diện bảo vệ quyền con người, thì
bảo vệ tự do cá nhân còn bao hàm cả việc bảo vệ những bí mật riêng tư trong
đời sống vợ chồng. Chính vì thế, sự khiếm khuyết của phương pháp điều chỉnh
trực tiếp, phải được bổ sung và hoàn thiện bằng một phương pháp điều chỉnh
khác phù hợp hơn. Đó là phương pháp xung đột.
1.2.1.2. Phƣơng pháp xung đột
Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp gián tiếp) điều chỉnh
các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chủ yếu thông qua các quy phạm
xung đột được xây dựng trong pháp luật quốc gia hoặc trong các điều ước quốc
tế. Khác với phương pháp thực chất, phương pháp xung đột không trực tiếp quy
định cụ thể về nội dung các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ kết
hôn.
8
Giáo trình Tư pháp quốc tế (TS. Bùi Xuân Nhự chủ biên), NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2003, tr. 32.
9
Nguyễn Xuân Chánh, Phân tranh luật pháp giản yếu, Giáo trình của Đại học luật khoa Sài Gòn, 1964,
tr.111.
10
Nguyễn Xuân Chánh, đã dẫn, tr.110.
16
Phương pháp này nhằm lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng để điều
17
Bản chất của vấn đề ở đây chính là sự bành trướng áp dụng pháp luật
nước mình, thay vì phải áp dụng pháp luật nước ngoài (nếu theo nguyên tắc lex
nationalis). Mặt khác, dưới khía cạnh luật quốc tịch còn cho thấy, chính các
nước này cũng không yêu cầu công dân nước ngoài phải từ bỏ quốc tịch của
mình khi nhập quốc tịch của họ (Anh, Canada, Hoa Kỳ, Pháp, Australia…). Chỉ
vấn đề này thôi cũng đã thấy ý đồ của họ trong việc ủng hộ lex domicili, thực
chất là bành trướng pháp luật nước mình và cuối cùng dẫn tới chỗ tránh phải áp
dụng pháp luật nước ngoài (theo lex nationalis).
Như vậy, xét về bản chất của sự việc, thì yếu tố quốc tịch vẫn là điểm
mấu chốt, cốt lõi trong tư tưởng lựa chọn hệ thuộc luật nhân thân, chứ không
phải là yếu tố định cư. Mancini12 cực kỳ có lý khi đưa ra học thuyết đối nhân,
mà căn cứ vào đó người ta có thể phân biệt công dân nước này với công dân
nước kia dựa trên yếu tố nhân thân căn bản nhất của con người là quốc tịch.
1.2.2.2. Pháp luật một số nƣớc cụ thể
Từ sau năm 1927, cùng với việc cho phép ngoại kiều được cư trú trên
lãnh thổ Pháp, đã diễn ra những thay đổi căn bản trong thực tiễn tư pháp quốc
tế ở Pháp. Với chủ trương áp dụng pháp luật Pháp cho những ngoại kiều cư trú
ở đó, Pháp lại đề cao học thuyết địa tính, nhằm áp dụng luật nơi cư trú (lex
domicilii) thay vì luật bản quốc của người nước ngoài. Bên cạnh đó, tại Điều
163 và Điều 170 Bộ luật dân sự Pháp có quy định nguyên tắc điều chỉnh quan
hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo luật của nước có Tòa án, cơ quan có thẩm
quyền (Lex fori) đối với các vấn đề phát sinh.
Bộ luật dân sự của Brazil 1942 lấy nguyên tắc luật nơi cư trú làm cơ sở
cho việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài, quan hệ giữa vợ và chồng nói riêng.
Điều 13 Bộ luật dân sự Đức quy định nguyên tắc luật quốc tịch của
12.10.1982, hiện nay CH Séc và CH Xlôvalia là hai nước kế thừa);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Cu Ba (ký ngày 30.11.1984);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Hungary(ký ngày 18.01.1985);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Bungary(ký ngày 03.10.1986);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Ba Lan (ký ngày 22.3.1993);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Liên bang Nga (ký ngày
25/8/1998, Việt Nam đã phê chuẩn, hiện chưa có hiệu lực);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Lào (ký ngày 6/7/1998);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Ucraina (ký ngày 6/4/2000);
- Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Mông Cổ (ký ngày 17/4/2000)
19
Trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, các Hiệp
định tương trợ tư pháp trên đây đều đi theo hướng áp dụng hệ thuộc luật nhân
thân (lex personalis). Tuy nhiên, sự lựa chọn hệ thuộc luật quốc tịch (lex
nationalis) hoặc luật nơi cư trú (lex domicili) lại không có sự giống nhau trong
các Hiệp định. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, nếu vợ chồng đều là công dân của Nước ký kết này nhưng
cùng thường trú trên lãnh thổ Nước ký kết kia, thì quan hệ nhân thân được xác
định theo pháp luật của Nước ký kết mà họ là công dân (các Hiệp định với Tiệp
khắc, Cuba, Bungary, Balan); còn Hiệp định với Liên xô, Hungary, Liên bang
Nga, Lào - thì theo nơi thường trú.
Thứ hai, nếu vợ chồng đều là công dân của Nước ký kết này nhưng vợ
thường trú trên lãnh thổ Nước ký kết này, chồng thường trú trên lãnh thổ Nước
ký kết kia, thì quan hệ nhân thân được xác định theo pháp luật của Nước ký kết
mà họ là công dân (tất cả các Hiệp định).
Thứ ba, trong trường hợp vợ chồng khác quốc tịch nhưng cùng thường
trú trên lãnh thổ của một Nước ký kết, thì theo tất cả các Hiệp định, quan hệ