MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam trước đây hôn nhân có yếu tố nước ngoài là một loại
quan hệ không phổ biến. Tuy nhiên, trong hơn một thập kỷ qua, đặc biệt
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hôn nhân có yếu tố nước ngoài
không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xã hội. Hiện nay thậm
chí có nơi, có lúc hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở thành một hiện
tượng khá phổ biến. Cũng như mọi quan hệ khác, quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Vì vậy, nghiên cứu các vấn
đề pháp lý liên quan tới quan hệ này trong giai đoạn hiện nay là rất cần
thiết.
Văn bản pháp lý trong nước đầu tiên của Việt Nam ghi nhận các
quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là Luật Hôn
nhân và gia đình (LHNGĐ) năm 1986. Trên cơ sở của các quy định này,
nhiều văn bản pháp luật quan trọng về hôn nhân có yếu tố nước ngoài lần
lượt ra đời. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định
tương trợ tư pháp (HĐTTTP) với các nước mà mở đầu là HĐTTTP với
Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) vào năm 1980. Tính đến nay Việt Nam đã ký
kết 14 HĐTTTP với các nước. Trong các hiệp định này vấn đề liên quan
tới việc giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được ghi nhận.
Có thể nói, nội dung của các văn bản pháp luật trong nước và các điều ước
quốc tế trên đây đã đóng góp một phần rất quan trọng trong việc điều
chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian
qua. Tuy nhiên, so với đòi hỏi thực tế của đời sống quốc tế, pháp luật của
Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu để áp dụng có hiệu quả
và bổ sung hoàn thiện.
1
Khác với việc giải quyết quan hệ hôn nhân thông thường, việc giải
quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến việc
chọn pháp luật áp dụng. Do đó việc nghiên cứu đề tài sẽ làm sáng tỏ thêm
các vấn đề lý luận trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài nhằm điều
Tòa án nhân dân, số 4/2000, hoặc Bàn về giám hộ trong quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài, đăng trên Tạp chí Tòa án, số 12/2000
Có thể nói, các công trình trên đây không nghiên cứu chuyên sâu
và toàn diện về pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một phần các quy
định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam. Nói cách khác, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu toàn
diện, chuyên sâu và có tính hệ thống đối với vấn đề này. Do đó đề tài vẫn
còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, khai thác ở cấp độ cao hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích thứ nhất của luận án là nhằm tìm hiểu quá trình hình
thành và phát triển các quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài của Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này làm sáng tỏ
quan điểm của Nhà nước ta trong việc ngày càng quan tâm đối với quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đồng thời đưa ra dự báo cho sự phát triển
trong tương lai của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam.
Mục đích thứ hai của luận án là lý giải việc vận dụng các quy định
của pháp luật để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Khác
với các quan hệ pháp lý thông thường, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài thường chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau.
Việc kết hợp áp dụng các quy định của pháp luật trong nước và các quy
định của pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố
3
nước ngoài là hiện tượng phức tạp mà cần được lý giải một cách khoa học.
Việc lý giải một cách khoa học vấn đề này là cơ sở để xây dựng và áp
dụng có hiệu quả các quy định của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Mục đích thứ ba của luận án là trên cơ sở kết quả nghiên cứu về
lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu
Về phương pháp nghiên cứu: Luận án đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu: Lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp.
Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp cổ điển được áp dụng
khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong nghiên cứu
khoa học pháp lý nói riêng. Áp dụng phương pháp này khi nghiên cứu đề
tài nhằm làm rõ sự phát triển có tính kế thừa của pháp luật trong việc điều
chỉnh các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
Phương pháp phân tích: Các vấn đề mà đề tài đặt ra sẽ được phân
tích, mổ xẻ về mặt lý luận để thấy rõ tính khoa học của việc điều chỉnh
quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong phạm vi quốc gia và trong
phạm vi quốc tế.
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng khi xem xét
các vấn đề về nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam so với pháp luật của một số nước trên thế giới. Đặc
biệt phương pháp này sẽ được áp dụng khi nghiên cứu về nội dung các quy
định pháp luật so với những vấn đề về lý luận pháp luật nhằm rút ra những
điểm đã và chưa phù hợp trong quy định của pháp luật so với lý luận, với
mục đích hoàn thiện các quy định pháp luật đó.
5
Phương pháp tổng hợp: Áp dụng phương pháp tổng hợp nhằm rút
ra những vấn đề cơ bản về mặt lý luận. Việc làm này nhằm tìm ra những
ưu điểm và hạn chế trong việc quy định về nội dung quy phạm pháp luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
6. Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của
luận án
Trên cơ sở mục đích của việc nghiên cứu đã đề ra, luận án đã đóng
góp một số vấn đề mới sau đây:
Một là, luận án nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về lý luận
và thực tiễn pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
tại Việt Nam.
hệ vợ chồng và quan hệ huyết thống mà tổng hợp các mối quan hệ này là
nền tảng của gia đình.
Vì hôn nhân là cơ sở tạo nên gia đình nên, về mặt khoa học, hôn
nhân là một khái niệm gắn liền với khái niệm gia đình. Hai khái niệm này
cùng song song tồn tại và phát triển theo lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Trong thời kỳ nguyên thủy, khi con người còn sống thành bầy đàn
hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên nên chưa có phân công lao động xã
hội, do đó chưa có hôn nhân và cũng không có gia đình. Ở thời kỳ này,
quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ tính giao bừa bãi. Thời kỳ quan
hệ tính giao này kéo dài hàng trăm nghìn năm và nó kết thúc bằng sự ra
7
đời của chế độ quần hôn [93, tr. 4] khi có sự phân công lao động xã hội.
Tương ứng với chế độ quần hôn là hình thức gia đình quần hôn. Hình thức
này được coi là hình thức gia đình sớm nhất [56, tr. 64]. Nó là kết quả liên
kết của nhiều người đàn ông với nhiều người đàn bà. Chế độ quần hôn
được hình thành và phát triển qua hai giai đoạn chính và được thể hiện
dưới hai hình thức gia đình đó là gia đình huyết tộc và gia đình Pu-na-lu-an
[93, tr. 4]. Sau giai đoạn này là sự ra đời và phát triển của hình thái hôn
nhân đối ngẫu và hôn nhân một vợ một chồng, tương ứng với chúng là gia
đình đối ngẫu và gia đình có một vợ một chồng.
Có thể nói, nhìn vào các hình thái hôn nhân trong từng giai đoạn
lịch sử khác nhau ta thấy sự khác nhau về nội dung của khái niệm hôn nhân.
Trước kia, trong thời kỳ tồn tại hình thức gia đình quần hôn, khái niệm
hôn nhân được hiểu là sự liên kết của nhiều người đàn ông với nhiều người
đàn bà nhằm tạo thành một gia đình. Ngày nay khi chế độ hôn nhân một
vợ một chồng được coi là hình thức hôn nhân tiến bộ thì khái niệm về hôn
nhân cũng thay đổi. Nó được hiểu là sự liên kết giữa nam và nữ để tạo nên
quan hệ vợ chồng.
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân và gia đình mang tính giai cấp
sâu sắc. Lịch sử đã chứng minh trong mỗi hình thái xã hội có các hình thái
dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau" [98].
Theo quy định của khoản 6 và khoản 10 Điều 8 LHNGĐ Việt Nam
năm 2000 thì "hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn",
còn "gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan
hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và
quyền giữa họ với nhau" theo quy định của pháp luật [46].
9
Từ nội dung của các giải thích trên đây có thể thấy, "hôn nhân" và
"gia đình" là hai khái niệm độc lập. Tính độc lập này được thể hiện ở hai
điểm khác nhau cơ bản, đó là sự hình thành và chủ thể tham gia trong đời
sống hôn nhân và gia đình.
Thứ nhất, về sự hình thành: Nếu hôn nhân được hình thành trên cơ sở
kết hợp giữa nam và nữ để xác lập quan hệ vợ chồng, thì gia đình được hình
thành trên nhiều cơ sở khác nhau, trong đó hôn nhân được coi là một trong
những cơ sở phổ biến. Có lẽ chính vì mối quan hệ khăng khít có tính nhân
quả này mà đôi khi khó có thể phân biệt rạch ròi giữa hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, về chủ thể tham gia: Nếu chủ thể tham gia đời sống hôn
nhân là các bên xác lập quan hệ vợ chồng thì trong đời sống gia đình các
chủ thể tham gia không những chỉ là vợ chồng mà còn là những người
khác dựa trên cơ sở của quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng như con đẻ,
ông bà, con nuôi
Như vậy có thể nói, hôn nhân và gia đình là hai khái niệm mặc dù
có quan hệ gắn bó với nhau nhưng chúng độc lập. Do đó, việc nghiên cứu
quan hệ hôn nhân cũng được đặt trong sự độc lập của nó với việc nghiên
cứu quan hệ gia đình.
1.1.1.2. Quan hệ hôn nhân
Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa các chủ thể trong hôn nhân, nó
được xác lập từ khi các bên nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng và
chấm dứt khi các bên không còn quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp
luật. Có thể nói, việc xác lập và chấm dứt quan hệ hôn nhân trước hết hoàn
trong các quan hệ phái sinh từ quan hệ hôn nhân như quan hệ huyết thống
(cha mẹ với con cái) hoặc quan hệ thân thuộc (cha, mẹ, anh, em, họ hàng
của các bên vợ và chồng).
11
Quan hệ hôn nhân là quan hệ được hình thành trên cơ sở của hôn
nhân, nó thể hiện sự liên kết giữa các chủ thể trong đời sống hôn nhân.
Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân không phải tự nhiên được hình thành mà nó
chỉ được hình thành khi có sự liên kết của các chủ thể với những điều kiện
nhất định, đồng thời quan hệ hôn nhân không tồn tại vĩnh viễn mà nó sẽ bị
chấm dứt trong những trường hợp nhất định.
Trên cơ sở mức độ liên kết giữa các chủ thể trong quan hệ hôn
nhân có thể chia quan hệ hôn nhân thành ba giai đoạn: Giai đoạn kết hôn,
giai đoạn tồn tại quan hệ vợ chồng và giai đoạn chấm dứt quan hệ vợ
chồng. Giai đoạn kết hôn là giai đoạn xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở
của việc kết hôn; giai đoạn quan hệ vợ chồng là giai đoạn sau khi kết hôn
và giai đoạn chấm dứt quan hệ vợ chồng là giai đoạn thường được đánh
dấu bằng sự kiện chết của một bên, hoặc bằng việc ly hôn.
Quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình có mối liên quan mật thiết
với nhau. Mối liên quan mật thiết này được thể hiện ở sự đan xen, chồng
lấn giữa chúng. Sự đan xen, chồng lấn này là quan hệ vợ chồng. Bởi vì, quan
hệ vợ chồng là hệ quả của quan hệ hôn nhân và đồng thời là tiền đề của
quan hệ gia đình. Nói cách khác, cả quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình
đều đề cập tới quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hôn
nhân là một khái niệm độc lập với khái niệm gia đình nên sự chồng lấn này
không làm mất đi tính độc lập của quan hệ hôn nhân đối với quan hệ gia
đình.
Như vậy, có thể nói, quan hệ hôn nhân là một khái niệm độc lập
với khái niệm quan hệ gia đình. Quan hệ hôn nhân bao gồm tổng thể ba
quan hệ đó là quan hệ kết hôn, quan hệ vợ chồng và chấm dứt quan hệ vợ
chồng.
Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý giữa công dân với Nhà nước.
Quan hệ này có tính bền vững, ổn định, trong đó Nhà nước có quyền và
nghĩa vụ với công dân và công dân cũng có quyền và nghĩa vụ đối với Nhà
nước [95, tr. 103]. Do đó khi xác lập quan hệ dân sự ở nước sở tại, người
có quốc tịch nước ngoài sẽ được pháp luật của nước mà mình mang quốc
tịch bảo hộ về mặt ngoại giao. Như vậy, khi có một quan hệ dân sự phát
sinh mà trong đó một trong các bên hoặc cả hai bên chủ thể là người có quốc
tịch nước ngoài thì vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài được đặt ra. Pháp
luật nước ngoài được áp dụng ở đây là pháp luật của nước họ mang quốc
tịch.
Thứ hai, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quan hệ dân sự xảy ra ở nước ngoài.
Trong trường hợp sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quan hệ dân sự xảy ra ở nước ngoài thì việc áp dụng pháp luật
nước ngoài cũng được đặt ra. Trong trường hợp này, pháp luật có thể được
áp dụng là pháp luật của nước nơi xảy ra sự kiện làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ đó. Ví dụ, hai người có cùng quốc tịch đủ điều kiện
kết hôn theo quy định của pháp luật nước mình nhưng kết hôn với nhau ở
nước ngoài. Trong ví dụ này, hành vi kết hôn của các bên đã làm phát sinh
quan hệ vợ chồng và việc xác định tính hợp pháp của quan hệ vợ chồng
không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật
nước mà các bên mang quốc tịch (Lex nationalis) mà còn dựa trên cơ sở
pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn (Lex loci celebrationis). Nói cách
khác, trong ví dụ này luật nước ngoài là luật nơi tiến hành kết hôn có thể
được áp dụng để xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn.
14
Thứ ba, khách thể của quan hệ dân sự là tài sản ở nước ngoài
Trường hợp khách thể của quan hệ dân sự là tài sản nằm ở nước
ngoài thì khi giải quyết, pháp luật của nước nơi đang tồn tại vật có khả
năng được áp dụng. Ví dụ, hai công dân cùng quốc tịch ly hôn với nhau và
- Đối với người có quốc tịch Việt Nam, Luật Quốc tịch quy định cụ
thể tại chương II. Theo nội dung của chương này thì người có quốc tịch
Việt Nam là người có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam mà không kể
người đó sinh ra ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam (Điều 16); là người
có cả cha và mẹ hoặc chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ là công dân Việt Nam còn
người kia không có quốc tịch hoặc người có mẹ là công dân Việt Nam còn
cha không rõ là ai (khoản 1 Điều 17); là người khi sinh ra có cha hoặc mẹ
là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc
tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời
điểm đăng ký khai sinh (khoản 2 Điều 17); là người được sinh ra trên lãnh
thổ Việt Nam nhưng cha mẹ không có quốc tịch hoặc không xác định được
quốc tịch nhưng có nơi cư trú tại Việt Nam (Điều 18); là người dưới 15
tuổi bị bỏ rơi hoặc tìm thấy ở Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai (Điều
19).
- Đối với người có quốc tịch nước ngoài, Luật Quốc tịch Việt Nam
1998 không có quy định cụ thể, nhưng tại khoản 1 Điều 2 khi giải thích về
thuật ngữ "quốc tịch nước ngoài" thì luật quy định: "Quốc tịch nước ngoài
là quốc tịch của một nước khác không phải là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam". Điều này được hiểu, theo pháp luật Việt Nam, người có quốc
tịch nước ngoài là người có quốc tịch của một nước khác không phải là
quốc tịch của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
16
- Đối với người không quốc tịch thì khoản 2 Điều 2 Luật Quốc tịch
1998 quy định: "Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt
Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài".
Từ nội dung quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 về
quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch, có
thể thấy khái niệm về người nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch
nước ngoài nhưng không có quốc tịch Việt Nam và người không có quốc
tịch là người không có quốc tịch nước ngoài và đồng thời cũng không có
pháp lý của bất cứ một nhà nước nào. Tuy nhiên, với quan điểm nhân đạo,
pháp luật của hầu hết các nước đều quy định địa vị pháp lý dân sự của người
không quốc tịch được coi ngang bằng với địa vị pháp lý của công dân nước
nơi người không có quốc tịch thường trú. Do đó, trường hợp những người
không có quốc tịch nhưng có nơi thường trú ở nước ngoài tham gia quan
hệ hôn nhân thì quan hệ này có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật nơi
thường trú của họ.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, căn cứ vào Điều 7 Nghị
định số 60/CP ngày 6 tháng 6 năm 1997 của Chính phủ về việc hướng dẫn
thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài thì: "Năng lực hành vi dân sự của người không quốc tịch được
xác định theo pháp luật của nước nơi người đó thường trú; nếu không có
nơi thường trú, thì xác định theo pháp luật Việt Nam".
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề áp dụng
pháp luật đối với các trường hợp người không có quốc tịch kết hôn hoặc
có quan hệ vợ chồng được pháp luật công nhận hoặc ly hôn với nhau thì
pháp luật điều chỉnh sẽ là pháp luật nước nơi thường trú của họ.
18
* Yếu tố sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quan hệ hôn nhân
Thứ nhất, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Sự kiện
pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân là trường hợp việc kết hôn được
tiến hành ở nước ngoài. Yếu tố này được áp dụng trong trường hợp các
bên có cùng quốc tịch nhưng kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm
quyền của nước mà các bên không mang quốc tịch.
Ví dụ, hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài trước
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Trong trường hợp này, pháp luật
được áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan như xác định điều
kiện kết hôn và nghi thức kết hôn của các bên sẽ là pháp luật Việt Nam và
pháp luật của nước ngoài. Thông thường, pháp luật Việt Nam sẽ điều
vợ chồng ly hôn với nhau ở nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài thì pháp luật được áp dụng điều chỉnh sẽ là pháp luật của nước
mà các bên chủ thể mang quốc tịch và pháp luật nơi tiến hành ly hôn.
Trong trường hợp này, vấn đề chọn pháp luật để áp dụng cũng được đặt ra.
Ví dụ, hai công dân Việt Nam ly hôn với nhau ở CH Séc, trước cơ
quan có thẩm quyền của CH Séc. Để giải quyết các vấn đề pháp lý liên
quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên khi ly hôn, trong trường hợp này,
pháp luật Việt Nam và pháp luật của CH Séc cùng có thể được áp dụng.
Pháp luật Việt Nam được áp dụng trên cơ sở dấu hiệu quốc tịch của các
chủ thể còn pháp luật của CH Séc sẽ có thể được áp dụng trên cơ sở pháp
luật nước có tòa án. Trong trường hợp này áp dụng pháp luật nước nào để
giải quyết, trước tiên phụ thuộc vào các quy định của điều ước quốc tế mà
Việt Nam đã ký với CH Séc, sau đó là quy định pháp luật của CH Séc.
Như vậy, khi sự kiện làm chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài
thì việc chọn pháp luật áp dụng được đặt ra.
20
* Yếu tố tài sản liên quan đến quan hệ vợ chồng
Một loại quan hệ quan trọng trong quan hệ vợ chồng là quan hệ tài
sản giữa vợ và chồng. Nếu quan hệ vợ chồng có liên quan tới tài sản đang
tồn tại ở nước ngoài thì vấn đề chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ này sẽ
được đặt ra.
Ví dụ, hai vợ chồng là công dân Việt Nam đang cư trú tại Việt
Nam nhưng có quyền sở hữu một khối tài sản tại CH Pháp. Việc xác định
quan hệ của vợ chồng đối với khối tài sản này sẽ do pháp luật của CH
Pháp hoặc pháp luật của Việt Nam điều chỉnh. Luật Việt Nam sẽ được áp
dụng trên cơ sở luật quốc tịch của các bên chủ thể, luật CH Pháp sẽ được
áp dụng dựa trên cơ sở pháp luật nơi tồn tại vật. Như vậy, để giải quyết
quan hệ này, vấn đề chọn pháp luật áp dụng đã được đặt ra. Trong trường
hợp này nếu tài sản là bất động sản thì áp dụng theo nguyên tắc luật nơi có
vật (Lex rei sitae) để điều chỉnh. Theo đó pháp luật của CH Pháp sẽ được
trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất khi người nước ngoài có quan
hệ hôn nhân với nhau tại Việt Nam (khoản 14(b) Điều 8). Trường hợp thứ
hai khi công dân Việt Nam có quan hệ hôn nhân với nhau mà căn cứ xác
lập thay đổi chấm dứt quan hệ hôn nhân ở nước ngoài (khoản 14(c) Điều 8)
hoặc một trong các bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài (khoản 4
Điều 100).
Ba là, tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài. Nội
dung này được ghi nhận tại Điều 8 khoản 14(c).
22
Tóm lại, từ cơ sở từ lý luận cũng như mặt pháp lý trên đây, có thể
rút ra khái niệm về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau: Quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân được xác lập giữa
các bên chủ thể khác quốc tịch hoặc sự kiện làm nảy sinh, thay đổi, chấm
dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan
hệ hôn nhân ở nước ngoài.
1.1.3. Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài
1.1.3.1. Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân
Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân là tổng hợp các nguyên tắc,
các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ
hôn nhân. Như đã trình bày ở trên, quan hệ hôn nhân đóng vai trò quan
trọng trong xã hội, do đó để định hướng tốt cho quan hệ hôn nhân nhằm
phát huy vai trò của quan hệ này đối với sự phát triển của xã hội, Nhà
nước đã ban hành các nguyên tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ
hôn nhân. Các nguyên tắc và các quy phạm này được thể hiện trong các
quy định của pháp luật trong nước như sau:
Trước hết, các nguyên tắc và quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn
nhân được ghi nhận trong Hiến pháp. Hiến pháp là đạo luật gốc ghi nhận
những quy định có tính nguyên tắc trong việc điều chỉnh hầu hết các mối
quan hệ trong xã hội trong đó có quan hệ hôn nhân. Trên cơ sở các quy
không thành văn (án lệ). Điều này phụ thuộc vào nguồn pháp luật chứa
đựng chúng theo quy định của từng hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề
này sẽ được đề cập tới trong mục 1.3.2. của chương này.
24
1.1.3.2. Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trước tiên được xem xét là
quan hệ hôn nhân, trong đó cơ sở pháp lý để xác lập quan hệ này được dựa
trên các tiêu chí pháp lý xác định quan hệ hôn nhân nói chung. Vì vậy,
pháp luật điều chỉnh loại quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trước hết
là pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân. Trong đó bao gồm
các nguyên tắc các quy phạm được ghi nhận trong các quy định pháp luật
trong nước như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật hành chính,
luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, do tính đặc biệt của loại quan hệ hôn nhân
này là các bên chủ thể khác quốc tịch, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay
đổi hoặc chấm dứt quan hệ ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ
ở nước ngoài, nên pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài không những chỉ là các quy định được ghi nhận trong nguồn pháp luật
trong nước mà còn là các quy định được ghi nhận trong các nguồn pháp
luật khác như điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. Đây chính là một trong
những đặc điểm quan trọng của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài. Đặc điểm này sẽ được trình bày trong mục 1.3.2 của
chương này.
Như vậy, có thể nói, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài là tổng hợp các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật nhằm
điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa các bên chủ thể khác quốc tịch; sự kiện
pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân ở nước
ngoài; hoặc tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài.
1.2. NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HÔN NHÂN
Như đã trình bày ở trên, quan hệ hôn nhân là quan hệ bao gồm
tổng thể quan hệ về kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng và chấm dứt quan