Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại việt nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài - Pdf 19

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa: CHXHCN
2. Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi giữa các
nước: Công ước Lahay năm 1993.
3. Bộ luật dân sự: BLDS
4. Hiệp định tương trợ tư pháp: HĐTTTP
5. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Luật HN&GĐ 2000
6. Xã hội chủ nghĩa: XHCN
1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRAN
G
Lời cam
đoan…………………………………………………………
1
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt …………
…………………
2
Mục lục
………………………………………………………………
3
Mở đầu…………………………………………………………………

6
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài ………….
………………
-
2. Tình hình nghiên cứu đề
tài……………………………………….
7

……………………………
19
1.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
……………………
20
1.2.1. Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
…….
21
1.2.2. Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế………
………….
26
Kết luận chương
I
40
Chương II : Nội dung của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam – So sánh với pháp
luật một số nước trên thế giới

41
2.1.Nguyên tắc giải quyết nuôi con
nuôi………………………………
-
2.1.1.Nguyên tắc “Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng
quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc”
43
2.1.2.Việc nuôi con nuôi phải được thực hiện trên tinh thần tự nguyện
của các bên liên quan, không được có một sự phân biệt đối xử nào dù
là về giới tính.
46

79
2.6.Nhận xét, đánh giá quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam với pháp luật một số nước
trên thế giới và bài học cho Việt
Nam…………………………………
87
Kết luận chương
II……………………………………………………….
93
Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt
Nam điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong
giai đoạn hiện nay
94
4
……………………………………………………
3.1. Thực trạng giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
ở Việt
Nam……………………………………………………………….
-
3.1.1. Những ưu
điểm
-
3.1.2.Bất cập, tồn
tại……………………………………………………
98
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam.
……………………………………………………
113
3.2.1. Hoàn thiện cơ sở pháp

nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi ngày càng thu hút được sự
chú ý của xã hội. Trong bối cảnh đó, về mặt pháp luật có thể thấy trước đây
các quy định về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài nói riêng được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ
Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, các Nghị định và một số thông tư…
nên rất tản mạn, khó tiếp cận và áp dụng trên thực tế.
Trước tình hình đó, Luật nuôi con nuôi ra đời đã đánh dấu sự kiện quan
trọng của quá trình pháp điển hoá các quy phạm pháp luật và thực tiễn giải
quyết các vấn đề về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài nói riêng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất và ổn định lâu dài cho công tác
quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, đồng thời chấm dứt tình trạng hai mặt
bằng pháp lý gần như tách biệt về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài.
Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nhất là việc Việt Nam đã tham gia Công
ước Lahay 1993, yêu cầu pháp luật Việt Nam phải hài hoà với pháp luật nhiều
6
nước trên thế giới và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, pháp
luật cũng bộc lộ một số hạn chế và thực tiễn giải quyết quan hệ nuôi con nuôi
còn một số vướng mắc. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn
diện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam có so sánh
với pháp luật một số nước trên thế giới trở thành vần đề cấp thiết trong giai
đoạn hiện nay. Từ những yêu cầu khách quan về lý luận và thực tiễn trên, tác
giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài” làm Luận
văn tốt nghiệp Cao học Luật, chuyên ngành Luật quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta đã được nhiều nhà
khoa học pháp lí nghiên cứu dưới các góc độ, khía cạnh và mức độ khác
nhau. Trước và sau khi công bố Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công

của tác giả Nguyễn Hồng Bắc…. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề
cập một khía cạnh nhất định của quan hệ nuôi con nuôi mà chưa có một công
trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về pháp
luật điều chỉnh quan hệ nuôi con có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có đối
chiếu so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới nhất là trong giai
đoạn hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước Lahay năm 1993.
8
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài.
+ Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam.
+ Phân tích quy định hiện hành của pháp luật pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế Việt Nam là thành viên điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài có so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, để từ đó tìm
ra điểm tương đồng và điểm khác biệt của pháp luật Việt Nam so với các nước
trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Từ việc nghiên
cứu pháp luật của một số nước trên thế giới và trong khu vực về nuôi con nuôi,
luận văn rút ra bài học cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực
này.
+ Đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi quy định của pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, từ đó đưa ra giải pháp để
hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn hội nhập và phát triển.
 Phạm vi nghiên cứu
Đây là đề tài tương đối rộng nên luận văn chỉ tập trung phân tích có đối
chiếu so sánh những quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài tại Việt Nam (pháp luật trong nước Việt Nam và các điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên) với pháp luật một số nước trên thế giới về
các vấn đề cơ bản của nuôi con nuôi như: nguyên tắc, điều kiện nuôi, hệ quả
pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của việc nuôi con uôi có yếu tố nước ngoài

- Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; đề xuất những giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn là những bổ sung vào lí luận về
pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; những đề xuất, kiến nghị trong luận văn
có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện và đổi mới pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
- Có thể sử dụng Luận văn làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyên
ngành luật, các tài liệu nghiên cứu về vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài.
- Các nội dung đề xuất, giải pháp trong luận văn cũng có thể được áp dụng để
giải quyết phần nào những bức xúc liên quan đã và đang đặt ra trong thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam.
11
Chương II: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - so sánh với pháp luật một số
nước trên thế giới.
Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt nam điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay.
12
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.1.1. Khái niệm nuôi con nuôi

có liên quan (cha, mẹ đẻ, người giám hộ hoặc chính bản thân đứa trẻ) và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) đồng ý. Do vậy, việc nuôi con nuôi
được coi là hành vi pháp lý đơn phương.
Quan điểm khác lại cho rằng việc nuôi con nuôi là một hợp đồng song vụ
giữa người nhận con nuôi và người cho con nuôi (cha mẹ đẻ, người giám hộ, cơ
sở nuôi dưỡng…) và có sự đồng ý của những người liên quan. Quan điểm này
được thể hiện trong pháp luật về nuôi con nuôi của Trung Quốc, Hàn Quốc…
Theo đó, việc nhận con nuôi không cần phải qua thủ tục công nhận tại Toà án mà
chỉ cần các bên thoả thuận phù hợp với yêu cầu pháp luật.
Quan điểm của Việt Nam tuy chưa thật sự rõ nét nhưng cũng đã được thể
hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ 2000), theo đó
dưới góc độ pháp lý, việc nuôi con nuôi không thể là một hợp đồng dân sự giữa
người nhận nuôi và người cho con nuôi. Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2000 quy
định “sự đồng ý” mà không phải sự thoả thuận của các bên. Đây là sự khác biệt
quan trọng so với quy định phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người
nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên.
14
Điều này cho thấy sự ghi nhận bản chất của việc nuôi con nuôi không phải là
một hợp đồng. [23, tr.24].
Dù quan điểm khác nhau thì tựu chung lại có thể thấy về bản chất pháp lý,
nuôi con nuôi được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ và
con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Như vậy, với tư cách là một
sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi là một hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ
cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi
theo các điều kiện do pháp luật quy định, mà không liên quan đến quan hệ huyết
thống giữa hai bên.
1.1.1.3. Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một quan hệ pháp luật
Với tư cách là một quan hệ pháp luật, quan hệ nuôi con nuôi có thể được
hiểu theo nghĩa là một quan hệ pháp luật hoặc là nhóm các quan hệ pháp luật
trong lĩnh vực nuôi con nuôi.

của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan
hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con
nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”. Luật Nuôi con nuôi năm 2010
đã thừa kế khái niệm đó nhằm kiến tạo một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về
nuôi con nuôi.
Theo đó, khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 xác định: Nuôi
con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người
16
nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em
được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình
thay thế.
Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ và con bằng
con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha, mẹ và
con bằng con đường huyết thống. Nếu như quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ là
quan hệ gia đình “huyết thống” được hình thành do việc sinh đẻ thì quan hệ giữa
cha, mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ “nhân tạo” được xác lập về mặt pháp lí. Một
quan hệ nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng lúc của hai loại
chủ thể hưởng quyền, có khả năng và điều kiện thực hiện các quyền chủ thể
tương ứng, đó là “chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha, mẹ nuôi) và “chủ thể được
nhận làm con nuôi” (con nuôi).
1.1.2. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản
5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Theo đó, nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa
người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với
nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.
Trên cơ sở đó, Điều 28 Lụât Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ các

18
ngày nay ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi đã thay đổi. Nuôi con nuôi không
chỉ là một biện pháp phúc lợi cho trẻ em mà còn là một biện pháp xã hội và pháp
lý bảo vệ trẻ em nhằm tạo ra mái ấm gia đình, sự yêu thương đùm bọc của cha
mẹ nuôi để cứu giúp những trẻ em bất hạnh bị mồ côi, lang thang cơ nhỡ, cha mẹ
bỏ rơi, không nơi nương tựa…
Pháp luật về nuôi con nuôi có vai trò quan trọng trong việc xác lập, điều
chỉnh quan hệ gia đình được hình thành từ việc nuôi con nuôi, cụ thể:
- Sự điều chỉnh của pháp luật là nhằm định hướng, tạo khung pháp lý cơ
bản cho việc nuôi con nuôi, để thực hiện một trong các quyền cơ bản của con
người, đặc biệt là của trẻ em, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội và
lợi ích chung của đất nước;
- Mục đích của việc nuôi con nuôi trong thực tế rất đa dạng. Sự điều chỉnh
của pháp luật là cần thiết nhằm xác định rõ mục đích của việc nuôi con nuôi là
xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên, bảo vệ lợi ích chính đáng của các
bên, mà trước hết là của trẻ em được nhận làm con nuôi;
- Pháp luật nuôi con nuôi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong
quan hệ nuôi con nuôi, làm cho các bên đặc biệt là bên người nhận nuôi con nuôi
hiểu rõ được quyền và trách nhiệm của mình khi thiết lập quan hệ nuôi con nuôi.
Quan hệ cha mẹ và con trong việc nhận nuôi con nuôi là quan hệ đặc thù, không
gắn với huyết thống sinh học. Do đó, việc xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý
của các chủ thể bằng các quy phạm pháp luật là cần thiết nhằm tạo sự ổn định,
bền vững trong gia đình, đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng của các bên
trong quan hệ nuôi con nuôi;
19
- Pháp luật nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để giải quyết có hiệu quả tình
trạng trẻ em không có đủ điều kiện tốt trong gia đình để chúng được phát triển
toàn diện về thể chất và tinh thần;
- Pháp luật nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền thực
hiện việc kiểm tra, giám sát, điều chỉnh việc nuôi con nuôi; phát hiện, ngăn chặn,

pháp của các đời vua trước, đồng thời tiếp thu có gạn lọc Bộ luật nhà Đường
(Trung Quốc) mà vẫn giữ được nét độc đáo của nền cổ luật Việt Nam, thể hiện
phong tục tập quán lâu đời và truyền thống văn hoá dân tộc.
- Hoàng Việt luật lệ, còn gọi là Bộ luật Gia Long, được ban hành vào đầu
thời Nguyễn.
Hai bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ pháp lí giữa vợ
và chồng, quan hệ tài sản của vợ, chồng và con trong gia đình, vấn đề nuôi con
nuôi. Nghiên cứu các chế định này cho thấy, pháp luật nước ta lúc đó đã thể hiện
rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người Việt Nam về gia đình, trong
đó có những điểm mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu. Song các bộ luật này
cũng không thể tránh khỏi hạn chế của chế độ phong kiến đang suy tàn, xu
hướng duy trì chế độ phụ hệ cứng nhắc, triệt tiêu sự bình đẳng giữa vợ và chồng,
giữa con trai và con gái, con nuôi và con đẻ. Nói về mối quan hệ này INSUNYN
học giả người Hàn Quốc viết: “Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ
giữa hai thế hệ (cha mẹ là thế hệ bề trên, con cái là thế hệ bề dưới); Sự thống trị
21
và sự lệ thuộc là kiểu mẫu chung của cách đối xử trong xã hội truyền thống Việt
Nam”[31, tr.134].
Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia làm ba Kì là Bắc Kì, Trung Kì và
Nam Kì. Sau khi xâm lược Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam Kì, thực dân Pháp
đã ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam Kì áp dụng ở Nam Kì và ba thành phố Hà
Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Bộ dân luật Bắc Kì được ban hành vào ngày
30/3/1931 theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kì để thi hành trên toàn Bắc Kì từ
ngày 1/7/1931 thay cho Bộ luật Gia Long. Hoàng Việt Trung Kì hộ luật được ban
hành năm 1939 thi hành trên toàn Trung Kì. Về thực chất vẫn là phiên bản của
Bộ dân luật Bắc Kì có sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp với các tỉnh
Trung Kì và triều đình Huế. Về quan hệ hôn nhân và gia đình, các bộ luật này đã
quy định về quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng, chế độ tài sản của vợ chồng, vấn
đề nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con theo mô hình phương
Tây. Song pháp luật dân sự thời Kì này có những mặt hạn chế nhất định. Hạn chế

Thứ hai, quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với các
nước chủ yếu với các nước XHCN ở giai đoạn này mới bắt đầu kiến lập và dần
dần được củng cố. Bên cạnh sự giúp đỡ về chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật,
các nước còn tiếp nhận đào tạo nhiều công dân Việt Nam thuộc các ngành nghề
khác nhau. Thời kì này Việt Nam đã bắt đầu gửi sang Liên Xô và các nước Đông
Âu nhiều công dân để học tập, nghiên cứu, đồng thời Việt Nam cũng tiếp nhận
chuyên gia, cán bộ của các nước đến công tác, giúp đỡ và huấn luyện cho cán bộ
23
Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài phát sinh,
đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, tuy vậy, vấn đề điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc. Nhưng chính nhờ
vậy đã làm nảy sinh khả năng tiềm tàng cho sự phát triển tiếp tục các xu hướng
điều chỉnh pháp luật quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong các giai đoạn sau.
Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959 tiếp tục
khẳng định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24). Xuất phát từ
tình hình thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kì mới, Luật hôn
nhân và gia đình đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 29/12/1959
và được Chủ tịch nước kí Sắc lệnh số 02/SL công bố ngày 13/1/1960. Về quan
hệ hôn nhân và gia đình, Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và
chồng, giữa cha, mẹ và con. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
không có quy phạm điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong thời
kỳ này đã có sự phát triển nhất định so với giai đoạn trước, biểu hiện ở một số
nội dung sau:
Thứ nhất, pháp luật đã điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài. Cụ thể:
Ở miền Bắc, trong năm 1961 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày
16/1/1961 kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch, trong đó có quy định vấn đề sinh,

Trích đoạn Điều kiện về ý chí Hệ quả pháp lí của nuôi con nuô Chấm dứt việc nuôi con nuôi. Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoà Trình tự, thủ tục đăng kí nuôi con nuô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status