ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƢƠNG HOÀNG NAM
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ KHU CHẾ XUẤT VIỆT NAM TRONG TƢƠNG QUAN
SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số : 60 38 60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
Công trình đƣợc hoàn thành
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU
1
Chương 1: những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài TRONG các KHU CÔNG NGHIệP
và KHU CHế XUấT
8
1.1.
theo hướng tập trung
27
1.2.4.
Vai trò trong việc chuyển giao công nghệ, phương thức quản
lý tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam
32
1.2.5.
Vai trò trong việc giải quyết việc làm cho lao động trong nước
34
1.3.
Lược sử hình thành và phát triển địa vị pháp lý của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp
và khu chế xuất
36
1.3.1.
Pháp luật trong nước
36
1.3.2.
Các Điều ước quốc tế có liên quan
42
Chương 2: quy định pháp luật việt nam và pháp luật nước ngoài về địa
vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
TRONG các khu công nghiệp, khu chế xuất
44
2.1.
Quy định pháp luật về việc thành lập, quản lý, chấm dứt hoạt
Chính sách ưu đãi trong khu công nghiệp, khu chế xuất
74
2.2.4.
Quy chế đặc thù về cư trú, đi lại và trao đổi hàng hóa
87
2.2.5.
Sử dụng và quản lý lao động trong khu công nghiệp, khu chế
xuất
92
2.2.6.
Điều kiện về môi trường trong khu công nghiệp, khu chế xuất
96
2.2.7.
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp FDI về tài chính, ngoại hối
99
2.2.8.
Quyền và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp trong khu công
nghiệp, khu chế xuất
103
Chương 3: Thực trạng thực thi địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài TRONG các khu công nghiệp, khu chế
xuất và đề xuất giải pháp
105
3.1.
Thực trạng thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp,
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và tăng cường công
123
tác quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này
3.3.4.
Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu chế
xuất đồng bộ, hiện đại xứng tầm với các nước trong khu vực
và thế giới
125
3.3.5.
Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính
126
3.3.6.
Nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm
việc tại Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất
127
3.3.7.
Thành lập Trung tâm dịch vụ hành chính công
128
3.3.8.
Cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng
129
3.3.9.
Cải thiện môi trường trong khu côn g nghiệp, khu chế xuất
131
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Đầu tư nước ngoài trong KCN theo ngành (tính đến
6/2011)
28
1.2
Phân loại trình độ công nghệ các doanh nghiệp trong KCN
33
2.1
So sánh thuế trong và ngoài đặc khu kinh tế của Trung Quốc
80
2.2
So sánh thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
86
2.3
So sánh về mức lương tối thiểu vùng đã được điều chỉnh
áp dụng năm 2011
95
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các nước phát triển trên thế
giới để nâng cao năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước,
thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
dần rút ngắn khoảng cách về phát triển của Việt Nam và các nước. Như vậy,
ĐTNN luôn là quan hệ mang tính gắn bó giữa nhu cầu của nhà đầu tư và nhu
cầu của nước tiếp nhận đầu tư.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang trở thành một địa
điểm đầu tư có sức hấp dẫn trên thế giới. Năm 2006 nền kinh tế Việt Nam
tăng trưởng 8,6%, năm 2007 tốc độ tăng trưởng đạt 8,3%. Năm 2008 và 2009,
mặc dù phải đối mặt với những thách thức lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt 6,7% và
5,32% vượt mức so với kế hoạch đã đề ra. Đến năm 2010, nền kinh tế khởi
sắc hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt khoảng 6,85% và trong 6 tháng
đầu năm 2011 đạt tốc tộ tăng trưởng 7,1%.
2
Nói đến đầu tư nước ngoài không thể không nhắc đến hoạt động đầu
tư của các nhà sản xuất trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất
(KCX) bởi lẽ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN,
KCX chính là hình ảnh của đầu tư nước ngoài tại từng quốc gia tiếp nhận đầu
tư… Tại thời điểm hiện nay, hầu hết các tên tuổi lớn trong cộng đồng các nhà
đầu tư quốc tế như Intel, Samsung, Canon, Toshiba, Panasonic, Toyota … đã
có mặt và đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại các KCN, KCX của Việt
Nam.
Để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, một trong các yêu cầu quan
trọng và tiên quyết đối với các nước sở tại là các quốc gia này phải có một
chính sách đầu tư minh bạch và rõ ràng, đặc biệt là các quy định về địa vị
pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ khi nào yêu cầu trên
được đáp ứng, các nhà đầu tư mới có thể yên tâm và mạnh dạn bỏ vốn, công
được củng cố, hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện nói chung của hệ thống pháp
luật về đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn một vài
điểm hạn chế và trong nhiều trường hợp vẫn còn chưa sáng tỏ, minh bạch
chưa đáp ứng được sự kỳ vọng của nhà đầu tư và trong một chừng mực nào
đó vẫn còn những khoảng cách nhất định với pháp luật quốc tế. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu làm rõ về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại các KCN và KCX Việt Nam trong tương quan so sánh với
pháp luật một số nước trên thế giới là một việc làm cần thiết không những về
mặt lý luận mà còn là đòi hỏi của thực tiễn.
Tính tích cực của đề tài:
- Nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp
luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
trong các KCN và KCX Việt Nam. Qua đó, tác giả mong muốn đưa ra cách
nhìn nhận rõ ràng hơn về địa vị pháp lý và vai trò của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài trong các KCN và KCX.
4
- Góp phần giúp các nhà đầu tư nước ngoài tìm hiểu sâu hơn về địa vị
pháp lý của mình khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam đặc biệt là đầu tư vào
các KCN, KCX Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng
như hiện nay.
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp
lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX Việt
Nam đồng thời lồng ghép, so sánh trong tương quan pháp luật một số nước như
Trung Quốc, Singapore, Thái Lan… tác giả đã đưa ra những kiến nghị, đề xuất
các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp
lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho phù hợp với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
cũng lồng ghép với việc so sánh và đối chiếu với pháp luật của một số nước
trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore nhằm rút ra
những bài học kinh nghiệm và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp
lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trong quá trình phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị
pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX tác
giả đã cố gắng không so sánh, phân tích pháp luật một số nước một cách đơn
lẻ, độc lập mà lồng ghép, phân tích đan xen trong các khía cạnh của vấn đề
nghiên cứu nhằm làm toát lên, làm sáng tỏ hơn và để tìm ra điểm khác ưu việt
hơn so với pháp luật Việt Nam với mục đích đưa ra các bài học, kiến nghị
hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài luôn thể hiện đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút các nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận
6
văn đã sử dụng các phương pháp khác nhau như: phương pháp luận biện
chứng duy vật để nhìn nhận, đánh giá địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước;
phương pháp điều tra xã hội học nhằm tổng hợp, đánh giá những đóng góp
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam,
những hạn chế của pháp luật, cơ chế chính sách tác động đến địa vị pháp lý
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để từ đó có những kết luận, kiến
nghị giải pháp nhằm nâng cao vai trò của loại hình doanh nghiệp này. Ngoài
ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích,
chứng minh, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu khi nghiên cứu đề tài.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
bài học nhằm đưa ra 03 giải pháp và 06 kiến nghị nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX Việt Nam.
3) Đề xuất được một số giải pháp có giá trị thực tiễn cho các cơ quan
Nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật về địa vị pháp lý của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với những đóng góp như vậy, tác giả luận văn mong muốn được góp
phần công sức nhỏ bé vào việc hoàn thiện, minh bạch pháp luật Việt Nam về
địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường thu
hút đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN và KCX.
8
Chương 2: Qui định pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài về địa vị
pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN và KCX.
Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật địa vị pháp lý của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX và đề xuất giải pháp.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP
nhiều phần trăm vốn điều lệ thì doanh nghiệp sẽ chuyển sang hoạt động dưới
hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Các doanh nghiệp được
thành lập do sự tham gia góp vốn của (các) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài khác đã được thành lập ở Việt Nam thì được coi là doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước?
Trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế và pháp luật đang trong quá
trình hoàn thiện, những điểm chưa rõ ràng nêu trên là hoàn toàn dễ hiểu. Tuy
nhiên, một cách khái quát nhất, doanh nghiệp có vốn ĐTNN được hiểu là doanh
nghiệp có sự góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Đây là cơ sở quan trọng
nhất để nhận diện một doanh nghiệp có phải là doanh nghiệp có vốn ĐTNN
hay không. Việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện
dưới hình thức thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua cổ phần, sáp nhập, mua
lại. Ngoài ra, trên thực tiễn, các cơ quan quản lý nhà nước đều cho rằng các
doanh nghiệp được thành lập từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
khác tại Việt Nam cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Một vấn đề khác cũng được nhiều học giả và nhà đầu tư quan tâm là
khái niệm nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lẽ, nếu khái niệm về nhà đầu tư nước
ngoài không được làm rõ thì khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài cũng không thể được làm rõ. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm
2005, nhà đầu tư nước ngoài được xác định gồm: "tổ chức, cá nhân nước
ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam" [42]. Cũng giống
như khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khái niệm nhà đầu tư
11
nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam được xây dựng theo
phương pháp liệt kê. Tuy nhiên, theo tôi, khái niệm này chưa chỉ rõ một số
trường hợp như người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư vào Việt
Nam được coi là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài. Trước
đây, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước nêu rất rõ nguyên tắc người Việt
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện dưới hai hình thức: doanh nghiệp
liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có chung một số đặc điểm sau:
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nuớc ngoài là một tổ chức có tư cách
pháp nhân. Sau khi được thành lập nó trở thành chủ thể kinh doanh độc lập
trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa doanh nghiệp và
tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập dưới hình
thức công ty trách nhiệm hữuc hạn. Có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài chỉ
chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp đối với các
khoản nợ của doanh nghiệp.
- Các nhà đầu tư vốn nước ngoài có quyền sở hữu toàn bộ hoặc một
phần tài sản của doanh nghiệp theo hình thức đầu tư liên doanh hay 100% vốn.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật
đầu tư và pháp luật có liên quan của Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp, khu chế xuất
Ngay từ những năm 60, sớm nhận thấy những lợi thế phát triển của
các KCN tập trung, những KCN đầu tiên của nước ta được thành lập như
KCN Thượng Đình (Hà Nội), Khu gang thép Thái Nguyên (Thái Nguyên),
KCN hóa chất Việt Trì (Vĩnh Phúc) … Tuy nhiên, tại các văn bản pháp luật,
khái niệm KCX chỉ mới được đưa ra vào năm 1991 tại Quy chế Khu chế xuất
tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 332-HĐBT ngày 18/10/1991
của Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, KCX là "khu công nghiệp tập trung
13
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất
khẩu và xuất khẩu" và "do Chính phủ thành lập ở những địa bàn có vị trí
thuận tiện cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu, có ranh giới địa lý
được ấn định theo quyết định thành lập". Khái niệm KCN được đưa ra vào
trung khác. Ngay trong định nghĩa về KCN, KCX có thể nhận thấy ngay đặc
điểm nổi bật nhất của các khu vực này chính là ở việc chuyên biệt hóa sản
xuất. Cụ thể ở đây chính là hoạt động "chuyên sản xuất hàng công nghiệp và
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp" của KCN, và "chuyên sản
xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp" tại KCX.
Với tiêu chí là sản xuất hàng hóa với số lượng và quy mô lớn phục vụ cho thị
trường trong nước và xuất khẩu, phương thức sản xuất trong KCN, KCX khác
hẳn với phương thức sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, sản xuất tự cung tự tiêu của
một số vùng, một số ngành như ở nước ta trước đây.
Cũng trong các khái niệm trên, KCN, KCX còn phải có "ranh giới địa
lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định".
KCN, KCX là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp. Đó là các
nguồn lực của nước sở tại, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào
một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ
cấu ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư, thông thường các KCN,
KCX được định hướng phát triển các ngành nghề công nghiệp mũi nhọn phù
hợp với đặc điểm vùng và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương. Bên cạnh
đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn
xã hội tốt tạo thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh hàng hóa hơn các khu
vực khác. Điều này giúp các doanh nghiệp trong KCN, KCX có điều kiện
phát triển thuận lợi nhất, có điều kiện tốt nhất trong việc tiết kiệm chi phí
cũng như bảo vệ môi trường. Đây cũng chính là mục tiêu Chính phủ đã đặt ra
khi xây dựng các KCN, KCX để thu hút vốn đầu tư với quy mô lớn, thúc đẩy
xuất khẩu, tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ,
kiểm soát môi trường. Đây cũng được coi là một đặc điểm khác biệt giữa các
doanh nghiệp hoạt động trong KCN, KCX và các doanh nghiệp hoạt động bên
15
ngoài hàng rào KCN, KCX: các doanh nghiệp hoạt động trong KCN, KCX về
nguyên liệu, vật tư từ nước ngoài (các doanh nghiệp hoạt động trong KCX
xuất khẩu 100% sản phẩm). Đây cũng là một trong những điểm hấp dẫn nổi
trội thu hút đầu tư vào KCX. Trước đây, KCX còn được coi là địa bàn đặc
biệt được ưu đãi đầu tư và được hưởng ưu đãi cao hơn so với đầu tư vào
KCN. Tuy nhiên, khi Việt Nam gia nhập WTO, chính sách này đã được bãi
bỏ vì theo "luật chơi" của WTO, các quốc gia thành viên WTO không được
cấp ưu đãi dưới mọi hình thức để khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các
doanh nghiệp thành lập tại nước mình và theo lộ trình tại biểu Việt Nam cam
kết với WTO đến 31/12/2011 các ưu đãi dành cho doanh nghiệp chế xuất sẽ
hết hiệu lực.
1.1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất
Địa vị pháp lý là một thuật ngữ phổ biến trong hệ thống pháp luật của
một quốc gia, phản ánh tổng thể các nội dung pháp lý (các quyền, nghĩa vụ…)
điều chỉnh một đối tượng cụ thể. Theo định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ
pháp lý, địa vị pháp lý là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy
định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia
quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Như vậy, địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong KCN,
KCX được xác định là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định
cho loại hình doanh nghiệp này, tạo cho loại hình doanh nghiệp có khả năng
tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Địa vị pháp lý của doanh nghiệp
có vốn ĐTNN trong KCN, KCX được thể hiện trong rất nhiều các quy định
liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, đăng ký lại doanh nghiệp và
các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó trong hệ thống pháp
luật như Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật Đất đai, Nghị định 108/NĐ-
CP hướng dẫn thực hiện Luật Đầu tư, Nghị định 29/NĐ-CP quy định về
KCN, KCX Như vậy có thể nói, địa vị pháp của doanh nghiệp là tổng hợp
18
- Nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp thuế lợi tức (Thuế
thu nhập) bằng 25% lợi nhuận thu được. Trong trường hợp khuyến khích đầu
tư có thể sẽ giảm thuế lợi tức phù hợp: 20%,15%, 10% cho từng lĩnh vực
khuyến khích; miễn và giảm 50% thuế lợi tức trong những trường hợp khuyến
khích đầu tư từ 2 đến 8 năm tùy theo mức độ khuyến khích được quy định cụ
thể cho từng dự án;
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp thuế nhập khẩu và
thuế giá trị gia tăng theo các quy định của pháp luật Việt Nam. Miễn thuế
nhập khẩu cho các trường hợp nhập khẩu các thiệt bị, máy móc để đầu tư xây
dựng cơ bản hình thành xí nghiệp hoặc mở rộng quy mô dự án đầu tư, phương
tiện vận chuyển nhập khẩu để đưa đón công nhân;
+ Khi nhà đầu tư nước ngoài muốn chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
phải nộp thuế chuyển lợi nhuận. Tùy theo mức độ đầu tư vốn của nhà đầu tư
mà tính tỷ lệ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: trên 10 triệu USD nộp
3%; trên 5 triệu USD dến 10 triệu USD nộp 5%; các dự án còn lại nộp 7%.
+ Doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn phải nộp tiền thuê đất, mặt nước,
mặt biển và thuế tài nguyên nếu khai thác tài nguyên;
+ Trích 5% lợi nhuận để lập quỹ dự phòng. Quỹ dự phòng không quá
25% vốn pháp định của doanh nghiệp;
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải chấp hành nghiêm
chỉnh các quản lý ngoại hối củaViệt Nam. Doanh nghiệp phải mở tài khoản
tại ngân hàng Việt Nam. Mọi khoản thu chi của doanh nghiệp phải thực hiện
thông qua tài khoản tại ngân hàng Việt Nam;
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải áp dụng chế độ kế
toán Việt Nam.