Địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp và khu chế xuất việt nam trong tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia - Pdf 10

84

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại các khu công nghiệp và khu chế xuất Việt
Nam trong tương quan so sánh với pháp luật một số
quốc gia Phạm Văn Hảo Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX)
Việt Nam có gắn với khảo cứu, so sánh, đối chiếu với pháp luật một số nước trên thế giới. Đúc rút ra
những bài học kinh nghiệm. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và
nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Keywords: Luật Quốc tế; Địa vị pháp lý; Doanh Nghiệp; Khu công nghiệp; Khu chế xuất; Việt Nam;
Vốn đầu tư nước ngoài; Pháp luật

Content.
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nói đến đầu tư nước ngoài (ĐTNN) không thể không nhắc đến hoạt động đầu tư của các nhà sản xuất
trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) bởi lẽ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nhà nước; phương pháp điều tra xã hội học nhằm tổng hợp, đánh giá những đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam, những hạn chế của pháp luật, cơ chế chính sách tác động đến địa vị pháp
lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân
tích, chứng minh, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu khi nghiên cứu đề tài.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN và KCX Việt Nam có gắn với khảo cứu, so sánh pháp luật
một số nước trên thế giới.
Tác giả luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam.
86

5.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Phân tích làm sáng tỏ về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN,
KCX Việt Nam theo các qui định của hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng có so sánh, đối chiếu
với pháp luật một số nước quốc gia.
- Đúc rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX Việt Nam.
6. Những điểm mới của luận văn
1) Khái quát được địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX.
2) Hệ thống hóa các quy định về địa vị pháp lý của Doanh nghiệp trong các KCN, KCX Việt Nam, đồng
thời khảo cứu, so sánh pháp luật một số quốc gia.
3) Đề xuất được 3 giải pháp, 6 kiến nghị có giá trị thực tiễn cho các cơ quan nhà nước để hoàn thiện
hệ thống pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các

- Là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
- Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Có quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp theo hình thức đầu tư liên doanh
hay 100% vốn.
- Chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư và pháp luật có liên quan của Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp, khu chế xuất
Luật Đầu tư 2005 "Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ
cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ" còn
"khu chế xuấ là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất
khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ".
1.1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp
và khu chế xuất
Theo định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ pháp lý, địa vị pháp lý là: "Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà
pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một
cách độc lập".
Như vậy, địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong KCN, KCX được xác định là tổng thể các
quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho loại hình doanh nghiệp này, tạo cho loại hình doanh nghiệp có
khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
- Quyền của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Có toàn quyền quyết định chương trình và kế hoạch
kinh doanh của mình phù hợp với giấy phép đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền
cấp và thực hiện đúng các nghĩa vụ mà pháp luật Việt Nam đã quy định. Cụ thể một số quyền cơ bản như sau:
+ Quyền chủ động tổ chức quản lý doanh nghiệp;
+ Quyền chủ động trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch phát triển dài hạn và kế
hoạch hàng năm của mình;
88

+ Quyền nhập khẩu máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu để xây dựng xí nghiệpvà phục
vụ cho hoạt động kinh doanh;
+ Quyền được trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu các sản phẩm của mình có quyền tiêu thụ sản
phẩm của mình tại thị trường Việt Nam;

89

vốn đầu tư đăng ký. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng đều hàng năm, mỗi năm từ 20-27 tỷ USD, chiếm 60%
giá trị sản xuất toàn ngành, chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp, giải quyết việc làm trên 1,55
triệu lao động.
Hiệu quả thu hút đầu tư tại các KCN, KCX được thể hiện trên 1ha đất cụ thể như: thu hút 6,5 triệu USD
vốn đầu tư, tạo ra 18 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho gần 200 lao động, đóng góp cho
ngân sách địa phương 725 triệu đồng/năm.
1.2.2. Vai trò trong việc phát triển hệ thống cơ cấu hạ tầng cho sản xuất công nghiệp
Các KCN, KCX có đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa ngành nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế của cả nước,
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Các KCN, KCX đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, đồng bộ
Tính đến tháng 8 năm 2010, tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN đạt 896 triệu
USD (dự án có vốn đầu tư nước ngoài) và hơn 43 nghìn tỷ đồng (dự án đầu tư trong nước), chiếm tương ứng 34%
và 42% so với tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án đầu tư trong nước.
Doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong KCN, KCX có vai trò không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển,
thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần
đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN, KCX.
1.2.3. Vai trò trong việc phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn theo hướng tập trung
Ngành công nghiệp mũi nhọn là ngành có khả năng cạnh tranh, chiếm tỷ trọng đáng kể tại thị trường trong
nước và quốc tế, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, dẫn dắt và kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp
khác, của các ngành công nghiệp phụ trợ. Hiện nay, Việt Nam đang tập trung phát triển KCN, KCX theo 3 nhóm
ngành với những cơ chế và chính sách khác nhau. Đó là: nhóm ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh (may mặc,
giày dép, đồ gỗ), nhóm ngành công nghiệp nền tảng (cơ khí, hóa dầu, phân bón), và nhóm ngành công nghiệp tiềm
năng (điện tử - viễn thông, cơ khí chế tạo, hóa chất).
1.2.4. Vai trò trong việc chuyển giao công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam
Việc đầu tư vào các KCN, KCX của doanh nghiệp có vốn ĐTNN thường đi kèm với việc đem đến những
kỹ thuật công nghệ hiện đại, trình độ quản lý cao cho ngành sản xuất trong nước.
Sự có mặt của doanh nghiệp có vốn ĐTNN với công nghệ và năng lực quản lý tiên tiến sẽ dẫn đến sự thay đổi
cơ cấu sản xuất, chất lượng, cơ cấu sản phẩm. Việc xuất khẩu sẽ thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng hàng hóa có

TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
2.1. Quy định pháp luật về việc thành lập, quản lý, chấm dứt hoạt động của Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp, khu chế xuất
2.1.1. Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu
chế xuất
Theo khoản 2 Điều 81 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, Ban Quản lý KCN, KCX "thực hiện việc đăng ký
đầu tư; thẩm tra và cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền".
Quy định của pháp luật Trung Quốc, có nhiều điểm tương đồng so với quy định pháp luật Việt Nam. Luật
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Laws of the People's Republic of
China on Foreign-Capital Enterprise) đã phân cấp thẩm quyền quản lý các dự án đầu tư rất triệt để cho các
Ban quản lý KCN, KCX. Chính phủ Trung Quốc còn cho phép thành lập các Ban quản lý riêng cho những
KCN, KCX có diện tích lớn (trên 500 ha). Một dự án đầu tư nước ngoài muốn được triển khai thực hiện các
91

đặc khu Kinh tế, KCN, KCX trước hết phải được sự phê chuẩn của chính quyền Trung Quốc. Sau đó, cần
đăng ký với cơ quan quản lý công thương nghiệp để lấy giấy phép đăng ký kinh doanh. Cấp chính quyền của
đặc khu được phép phê chuẩn và cấp phép cho dự án đầu tư dưới 30 triệu Đô-la Mỹ với ngành công nghiệp
nhẹ và không quá 50 triệu Đô-la Mỹ cho các dự án công nghiệp nặng.
Theo Luật Công ty Singapore, người đăng ký kinh doanh có thể được phép thành lập công ty dưới hai hình
thức là công ty tư nhân (chịu trách nhiệm vô hạn) và công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân
(chịu trách hữu hạn) với thủ tục đăng ký hết sức đơn giản. Sau khi công ty được thành lập, công ty triển khai các
dự án đầu tư thì sẽ phải lập dự án và sẽ do một ủy ban quản lý đầu tư đặc biệt do Chính phủ thành lập phê duyệt.
2.1.2. Quản lý hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và
khu chế xuất
2.1.2.1. Phạm vi quản lý của Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất
Theo pháp luật Việt Nam, sau khi hoàn thành thủ tục thành lập doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục được quản lý theo một đầu mối chung là Ban Quản lý KCN, KCX.
Theo pháp luật Trung Quốc, các quan chức cấp tỉnh có Đặc khu kinh tế, KCX (SEZ) được quyền vận dụng
linh hoạt những chính sách của chính phủ, có quyền tự đưa ra những thay đổi phù hợp với quy định của pháp luật
và điều kiện thực tiễn. SEZ không được chính phủ cấp ngân sách mà thực hiện theo cơ chế lấy thu bù chi, hạch

mục đích thương mại. Các ưu đãi về việc sử dụng đất đai đối với các đặc khu kinh tế của Trung Quốc có thời
hạn áp dụng rất dài, người nước ngoài được mua quyền sử dụng đất và cho phép chủ sở hữu quyền sử dụng
đất được đầu tư phát triển đất theo bất kỳ mục đích nào như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, nhà ở
hoặc phát triển và cho thuê lại.
Theo Điều 42 Luật Công ty của Singapore, thời hạn đầu tư trong phát triển đặc khu kinh tế (bao gồm cả
khu công nghiệp) căn cứ vào loại hình, quy mô, điều kiện của từng đặc khu, tối đa không quá 99 năm và có
thể gia hạn. Thời hạn này cũng dài hơn so với quy định tại Việt Nam là 50 năm.
2.2.2. Đầu tư xây dựng trong khu công nghiệp, khu chế xuất
Pháp luật Việt Nam hiện nay không có sự giới hạn thành phần kinh tế được phép đầu tư kết cấu hạ tầng
trong KCN, KCX. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài có khả năng được tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng trong
KCN, KCX với tư cách liên doanh hoặc độc lập.
Pháp luật Trung Quốc, cho phép Ban quản lý hay Công ty kinh doanh hạ tầng của Trung Quốc được trích
lại 3% tổng kinh phí từ việc thu phí hạ tầng để thực hiện việc duy tu, bảo dưỡng các công trình trong KCN,
KCX trong khi cơ chế này Việt Nam chưa có.
2.2.3. Chính sách ưu đãi trong khu công nghiệp, khu chế xuất
* Ưu đãi về tiền thuê đất.
Theo Điều 90 Luật Đất đai năm 2003 của Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có quyền chọn lựa thanh toán
tiền thuê đất hàng năm hoặc trả một lần cho cả thời gian thuê đất.
So với Luật Khuyến khích và bảo hộ đầu tư của Singapore, quy định của Việt Nam có phần thuận lợi hơn.
Tại quốc gia này, việc miễn phí thuê đất hoặc tô nhượng đất chỉ được áp dụng đối với các dự án xây dựng
trung tâm nghiên cứu-phân tích, một số dự án dân sinh và công cộng. Thời hạn miễn được xác định theo các
khu vực với các mốc là 3, 10 và 14 năm.
93

Pháp luật Trung Quốc, các đặc khu kinh tế khác nhau có mức ưu đãi khác nhau trong việc trả tiền sử dụng đất.
Thâm Quyến, các xí nghiệp có công nghệ cao được miễn tiền thuê đất trong 5 năm đầu và giảm 50% trong 5 năm
tiếp theo. Ở Chu Hải, các xí nghiệp liên doanh đang áp dụng công nghệ cao hoặc các xí nghiệp lợi nhuận thấp
được miễn trả khoảng tiền này
* Ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Theo quy định pháp luật Việt Nam, Doanh nghiệp hoạt động trong các KCN, KCX được miễn thuế nhập

Theo quy định pháp luật Việt Nam, đối với doanh nghiệp đầu tư vào KCN, KCX áp dụng mức thuế suất
thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%.
Theo quy định của pháp luật Malaysia, mức thuế suất thuế TNDN bình quân là 25%, khi áp dụng cho
doanh nghiệp công nghệ cao, trong thời gian 5 năm đầu kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh chỉ phải nộp 30% thuế TNDN, 70% thuế TNDN còn lại được miễn.
Theo quy định của Luật thuế doanh nghiệp Singapore, thuế suất thuế TNDN bình quân 17% và được miễn
khoản thu nhập ban đầu trị giá 300.000 đô Singapore trong những năm đầu thành lập.
Còn theo quy định pháp luật Trung Quốc, chính sách thuế được áp dụng khá linh hoạt với mức 15% cho
doanh nghiệp công nghệ cao, 20% cho doanh nghiệp nhỏ và 25% cho doanh nghiệp còn lại.
2.2.4. Quy chế đặc thù về cư trú, đi lại và trao đổi hàng hóa
* Cư trú, đi lại trong KCN, KCX
Theo pháp luật Việt Nam, KCN, KCX không có dân cư sinh sống. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, chuyên
gia nước ngoài được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong KCN, KCX theo quy định của ủy ban nhân dân cấp Tỉnh.
Theo pháp luật Trung Quốc, người Trung Quốc ra vào đặc khu, KCX phải có giấy phép riêng. Người lao động
được tuyển vào đặc khu phải đăng ký tại cơ quan quản lý lao động để nhận thẻ lao động và giấy phép ra vào.
* Trao đổi hàng hóa trong KCN, KCX
Theo pháp luật Việt Nam, KCX là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, đặc thù của KCX là khu phi thuế
quan do đó hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu của doanh nghiệp đặt trong KCX. Tuy nhiên, đối với mặt hàng văn
phòng phẩm, hàng tạp vụ không phải xin phép và tiến hành làm thủ tục hải quan.
Pháp luật Trung Quốc có phần chặt chẽ hơn khi yêu cầu tất cả các hàng hóa ra vào đặc khu kinh tế, KCX
đều phải chịu sự quản lý giám sát của hải quan. Người mang hàng hóa bắt buộc phải khai báo hải quan, phải
có giấy phép nhập khẩu vào đặc khu, KCX.
2.2.5. Sử dụng và quản lý lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất
Pháp luật Việt Nam, hiện không có cơ chế đặc thù để quản lý lao động trong các khu vực này. Việc quản
lý lao động nhìn chung vẫn được thực hiện thống nhất theo Bộ luật Lao động 1994 đã được sửa đổi bổ sung
qua các năm 2002, 2006 và 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật pháp Trung Quốc đề cao tính tự chủ cá nhân, tôn trọng sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và
người lao động. Trung Quốc cho phép doanh nghiệp được thuê nhân viên theo các tiêu chuẩn của công ty và
sa thải khi không đạt yêu cầu.
Theo Luật Lao động Nhật Bản quy định rất rõ mức lương tối thiểu cho từng vùng, miền, từng lĩnh vực,

NGOÀI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
3.1. Thực trạng thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong
các khu công nghiệp, khu chế xuất
3.1.1. Kết quả đạt được
- Thu hút vốn đầu tư: Tính đến tháng 6/2011 Việt Nam có 257 KCN, KCX thành lập tại 57 tỉnh, thành
phố, thu hút 8.600 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 71 tỷ USD (trong đó 3.879 dự án nước ngoài với tổng vốn
đăng ký 53 tỷ USD và 4.771 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 315 nghìn tỷ đồng).
- Giải quyết việc làm: Tính đến cuối năm 2011, các KCN, KCX đã thu hút được trên 1,8 triệu lao động.
- Về trình độ công nghệ: ưu tiên các dự án có trình độ khoa học kỹ thuật cao, sản phẩm trí tuệ, có chất
xám, công nghệ sạch.
96

- Về kinh ngạch xuất khẩu: Tổng trị giá xuất lũy kế đến 30/10/2011 là 3.856 tỷ USD, góp phần bổ sung
ngoại tệ cho đất nước, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh.
- Về thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội: KCN, KCX là nơi sản xuất công nghiệp có giá trị gia tăng cao, có
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phát triển khang trang hơn, điều kiện sống, thu nhập của người lao động được cải
thiện.
3.1.2. Những vướng mắc, tồn tại
- Về sử dụng đất tại KCN, KCX: Doanh nghiệp có vốn ĐTNN chỉ được sử dụng đất theo hình thức thuê
mà không được giao đất có thu tiền sử dụng đất như doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, phương thức trả tiền
thuê đất cũng bị giới hạn trả tiền thuê đất hàng năm và trả tiền thuê đất toàn bộ cho cả thời hạn thuê. Doanh
nghiệp khi đầu tư vào KCN, KCX phải thuê lại đất từ Công ty kinh doanh hạ tầng với giá khá cao.
- Về lao động: nhân lực có trình độ đại học và trên đại học trong các KCN chỉ chiếm 4,5%; công nhân kỹ thuật
đã qua đào tạo chỉ chiếm 31% tổng số lao động; trong khi đó lao động giản đơn lại chiếm đến 60% tổng số lao
động.
Về sử dụng và quản lý lao động nước ngoài trong các KCN, KCX, hiện Chính phủ đã bỏ quy định hạn chế
tỷ lệ lao động nước ngoài được sử dụng tại doanh nghiệp.
- Về chính sách ưu đãi: Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 bãi bỏ những ưu đãi về thuế thu nhập
doanh nghiệp trong KCN, KCX. Các ưu đãi đối với Doanh nghiệp chế xuất như được miễn thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng cũng chỉ áp dụng đến hết năm 2011. Điều này làm giảm bớt sức hấp dẫn

cả đối với doanh nghiệp phát triển hạ tầng.
3.3.2. Đổi mới quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế
Theo khái niệm của Luật Đầu tư, chỉ cần nhà đầu tư nước ngoài góp vốn 1% vào doanh nghiệp trong nước
thì doanh nghiệp đó cũng được coi là doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Theo quan điểm của tác giả, Nhà nước cần
ban hành quy định sửa đổi, bổ sung khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm sao giải quyết tận
gốc vướng mắc cho doanh nghiệp theo hướng quy định rõ ràng tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong
doanh nghiệp.
3.3.3. Hoàn thiện hệ thống chính sách để cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
- Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại KCN, KCX về đất đai như quyền chuyển nhượng, cho thuê, quyền thế chấp đất đai.
- Hoàn thiện các quy định liên quan đến lao động: Cần có chính sách phát triển các cơ sở đào tạo nghề gắn
với nhu cầu phát triển của KCN, KCX; Sửa đổi các quy định về lao động và tiền lương cho phù hợp, theo kịp
tình hình thực tiễn
- Nhà nước cần sớm bổ sung quy định về việc cho doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN tham gia đầu tư
các công trình kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN cũng được hưởng các ưu đãi đối với phát triển
hạ tầng trong hàng rào KCN; cần xây dựng cơ chế chính sách trích một phần phí thu hạ tầng để duy tu bảo
dưỡng hạ tầng cơ sở KCN, KCX.
- Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai, trong hợp đồng thuê lại đất trong KCN, KCX quy định
tách riêng giá thuê đất chưa có cơ sở hạ tầng và chi phí thuê cơ sở hạ tầng, bổ sung quy định tiền sử dụng đất
đối với đất thô
98

3.3.4. Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu chế xuất đồng bộ, hiện đại
Đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, KCX theo hướng hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp - đô thị -
dịch vụ với cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đầy đủ dịch vụ phục vụ sản xuất và người lao động động, thu hút các
ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp phụ trợ, sử dụng công nghệ sạch.
3.3.5. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Việc cải cách hành chính phải được tiếp tục quan tâm và đi vào thực chất đặc biệt trên các lĩnh vực nhạy

KẾT LUẬN
Đầu tư nước ngoài là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy kinh tế trong nước. Trong đó, việc thu hút đầu tư
nước ngoài vào những khu vực riêng với những quy chế đặc thù, hình thức hoạt động khác biệt mà điển hình
là KCN, KCX là một hoạt động cần thiết và góp phần thiết thực trong việc giảm tác động xấu tới môi trường,
khu dân cư. Chính vì thế, khi xây dựng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, Nhà nước ta đã có nhiều lần sửa
đổi chính sách nhằm cải thiện địa vị của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, KCX nói riêng.
Dựa trên quan điểm đó, luận văn đã khái quát chung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trong các KCN, KCX, vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, chuyển
giao công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến, giải quyết việc làm, nâng cao năng lực xuất khẩu, phát triển
kinh tế - xã hội đất nước.
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài về địa vị
pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, KCX từ thủ tục thành lập, quản lý, chấm dứt
hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đăng ký lại và tổ chức lại doanh nghiệp, quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: quyền sử dụng đất, hạ tầng trong KCN, KCX, quyền
đầu tư xây dựng, quyền và nghĩa vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngoại hối, các chế độ ưu đãi trong KCN,
KCX liên quan đến chính sách miễn, giảm thuế, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính trên cơ sở có sự so
sánh với những quy định điều chỉnh doanh nghiệp hoạt động bên ngoài và pháp luật một số nước trong khu
vực như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản… Tác giả đã cố gắng không so sánh, phân tích pháp luật một số
quốc gia một cách đơn lẻ, độc lập về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà lồng ghép,
đan xen trong phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam.
Các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù khá đầy đủ về số
lượng và phạm vi điều chỉnh nhưng trên thực tế, các quy định điều chỉnh về địa vị pháp lý của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, KCX vẫn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc và cần phải được kịp thời
tháo gỡ. Thông qua việc nghiên cứu về thực tiễn thực thi, những bất cập của pháp luật Việt Nam về địa vị
pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc
gia, Luận văn đã đưa ra 03 nhóm giải pháp mang tính trực tiếp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư, đổi mới
quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như hoàn thiện quy định về địa vị pháp lý của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, KCX để từ đó thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào

công nghiệp, khu kinh tế, Hà Nội.
11. Châu Thủy Cảnh (2011), "Cung ứng nguồn nhân lực, thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp",
, ngày 8/8.
12. Chính phủ (1994), Nghị định số 192/CP ngày 28/12 ban hành quy chế khu công nghiệp, Hà Nội.
13. Chính phủ (1997), Nghị định số 36/CP ngày 24/4 ban hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, Hà Nội.
14. Chính phủ (2004), Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12 về thu tiền sử dụng đất, Hà Nội.
101

15. Chính phủ (2006), Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/9quy định đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký
đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật
doanh nghiệp và Luật Đầu tư, Hà Nội.
16. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội.
17. Chính phủ (2007), Nghị định sô 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật
doanh nghiệp, Hà Nội.
18. Chính phủ (2008), Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu kinh tế, Hà Nội.
19. Chính phủ (2008), Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4 về sửa đổi Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu
tiền sử dụng đất, Hà Nội.
20. Chính phủ (2008), Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8 hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội.
21. Chính phủ (2010), Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8 hướng dẫn Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu, Hà Nội.
22. Chính phủ (2010), Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
doanh nghiệp thay thế Nghị định 139/2007/NĐ-CP, Hà Nội.
23. Nguyễn Đình Cung (2009), "Thực hiện Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư: Một số khái niệm cần được
làm rõ", Luật học, (7).
24. Lê Tuấn Dũng (2009), "Tăng cường thu hút các dự án công nghiệp hỗ trợ vào các khu công nghiệp, khu kinh tế",
www.khucongnghiep.com.vn, ngày 19/11.
25. Lê Tuấn Dũng (2009), "Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) nhằm hình thành và

43. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội.
44. Quốc hội (2005), Luật doanh nghiệp, Hà Nội.
45. Quốc hội (2006), Luật Chuyển giao công nghệ, Hà Nội.
46. Quốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại, Hà Nội.
47. Nguyễn Minh Sang (2009), "Đặc khu kinh tế Trung Quốc mô hình mới cần được nghiên cứu thí điểm tại
Việt Nam", Phát triển kinh tế, (31).
48. Lê Xuân Sơn (2010), "8 tháng đầu năm 2010 có 18 khu công nghiệp được thành lập mới và mở rộng",
, ngày 24/8.
49. Trần Văn Thắng (2010), "Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp phụ trợ ở Việt
Nam", , ngày 12/11.
50. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2003), Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Hà Nội.
51. Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), "Giới thiệu các khu công nghiệp Việt Nam",
ngày 01/4.
52. Viện Kinh tế học (1999), "Mô hình đặc khu kinh tế Trung Quốc và những bài học cho phát triển đặc khu kinh tế
Việt Nam", Thông tin phục vụ lãnh đạo, (7).
53. Vụ Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất (2009), Báo cáo 6 tháng đầu năm năm 2009, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status