Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài,thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại đà nẵng - Pdf 58

- 1 -
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
( FDI : FOREIGN DIRECT INVESTMENT )
I. Đầu tư nước ngoài và các loại hình đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam
1.Khái niệm về đầu tư nước ngoài
Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do hoàn toàn thống trị
là việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước kém phát triển hơn. Nhưng đến
cuối thế kỷ 20, với sự hình thành các tổ chức độc quyền, thì trong nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện thêm hình thức xuất khẩu mới-xuất
khẩu tư bản. Bằng việc xuất khẩu tư bản, nhà tư bản tổ chức việc sản xuất
ở nước ngoài, hàng hóa sản xuất ra của các xí nghiệp nước ngoài sẽ thay
thế một phần cho việc xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu tư bản được thực
hiện dưới hình thức đầu tư quốc tế.
Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước
ngoài ( tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào
vào nước nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh,
dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt được các hiệu quả xã hội.
Sự hợp tác đầu tư quốc tế giữa hai bên và nhiều bên là xu hướng có
tính chất quy luật trong điều kiện tăng cường quốc tế hoá đời sống kinh tế
hiện nay, tuy rằng trên thực tế, sự hợp tác này không đơn giản mà trái lại
luôn chứa đựng một sự cạnh tranh gay gắt. Song dù sao trong hợp tác đầu
tư, lợi ích của các bên tham gia cũng khá gắn liền với nhau. Nhận thức rõ
của xu hướng này và sử dụng nó một cách khôn ngoan là một trong
những cách bảo đảm cho sự thành công của một con đường phát triên
trong giai đoạn hiện nay của mỗi nước.
2.Các loại hình đầu tư nước ngoài
Theo quan niệm của OECD thì các nguồn tài trợ cho nước ngoài bao
gồm:
2.1.Tài trợ phát triển chính thức (ODF): bao gồm viện trợ phát

tiêu hàng, có kinh nghiệm và chuyên môn trong nhiều lĩnh vực phức tạp
của việc phát triển sản phẩm và tiếp thị quốc tế, đồng thời ở vào thế có lợi
để tận dụng được những khác biệt giữa các nước về chi phí sản xuất. Hơn
nữa, các công ty đa quốc gia có nhiều khả năng đối phó lại với những áp
lực bảo hộ ở nước xuất xứ hơn, sao cho có lợi cho việc nhập khẩu từ các
chi nhánh của họ. Dựa trên cơ sở này, người ta thường nói rằng FDI cho
phép các nhà quản lý và công nhân trong đất nước tiếp nhận được những
kiến thức và công nghệ nhanh hơn. Nó cũng cho phép những người mới
tham gia học hỏi về thị trường xuất khẩu, kích thích cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong nước, và đào tạo công nhân.
Về mặt ổn định, có sự khác biệt rõ ràng giữa FDI và các hình thức
cấp vốn khác như cho vay ngắn hạn của ngân hàng và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư gián tiếp chủ yếu bao gồm việc mua các tài sản tài chính. Lợi suất
từ việc mua các tài sản tài chính con tuỳ thuộc vào nhiều biến số như tỷ
giá, lãi suất và giá cổ phiếu, là cái thường chịu những dao động ngắn hạn.
Hơn nữa những tài sản này có thể dễ dàng bán nhanh ( tức nhiên cũng có
cái giá của nó ). Ngược lại, FDI như nêu trên là luồng vốn dài hạn dựa
trên những cân nhắc lợi nhuận dài hạn, mà một khi đã đầu tư thì không dễ
dàng nhanh chóng rút lui. FDI về cơ bản thể hiện ở quyền sở hữu và vận
hành các cơ sở sản xuất. Do đó, khi so sánh với đầu tư gián tiếp và những
loại luồng đầu tư khác, FDI là nguồn vốn tương đối ổn định.
Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, nhà nước Việt Nam chủ
trương khuyến khích mở rộng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
- 3 -
nhằm góp phần phát huy mọi tìm năng để thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế -xã hội. Để thể chế hóa chủ trương đó và cũng để tạo ra hệ
thống khung pháp lý cho việc quản lý, luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam quy định. “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào nước ngoài vốn bằng tiền mặt hoặc bất cứ tài sản nào để
tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”.

tìm hiểu thị trường, tìm hiểu luật lệ để đi đến quyết định đầu tư nước
ngoài tại nước sở tại là điều kiện để xuất khẩu máy móc, nguyên vật liệu
và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà. Để đạt được những mục tiêu
này các nhà đầu tư sẽ phải lựa chọn một hình thức doanh nghiệp phù hợp,
thành lập và tiến hành kinh doanh. Như vậy, với sự đầu tư trực tiếp nguồn
vốn từ nước ngoài sẽ dẫn đến một hậu quả tất yếu là sự hình thành của
- 4 -
một loại hình doanh nghiệp mới, đó là các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
3. Chính sách và việc tổ chức thu hút FDI của nước ngoài
3.1 Việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài có thể được coi là
một quá trình xây dựng đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tạo điều kiện
không những cho vốn đầu tư nước ngoài, mà cả vốn đầu tư trong nước
được đưa vào thực hiện một cách thuận lợi ( với tư cách là phần vốn góp
của nước sở tại trong liên doanh ). đứng trên giác độ của một quốc gia,
việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau:
3.1.1Xây dựng hệ quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của
nước ngoài đối với phát triển kinh tế
Để xây đựng hệ thống quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài, trước hết phải xác định rõ FDI có vai trò như thế nào đối với sự
phát triển kinh tế của nước đó.
Xuất phát từ lý luận về xuất khẩu tư bản của V.I.Lênin, từ vai trò
nguồn vốn nước nước ngoài của các nhà kinh tế học hiện đại chúng ta
thấy, FDI là nguồn vốn bổ sung rất quan trọng cho các nước, nhất là các
nước đang phát triển. Thiếu nguồn vốn này, các nước khó có thể vượt
khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế
xã hội. Song vấn đề là ở chỗ, thái độ của nước nhận đầu tư như thế nào và
biện pháp xử lý ra sao nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế tối đa
những tác động tiêu cực của loại hình đầu tư này.

trên phạm vi khu vật và quốc tế, tham gia kinh doanh với nhà đầu tư nước
ngoài.
3.1.2Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn
Vấn đề có tính then chốt trong việc tổ chức nhằm thu hút FDI là
tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn.
Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động
qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư. Buộc các
nhà đầu tư, tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động
cho thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa
đến hiệu quả cao trong kinh doanh.
Người ta có thể phân loại môi trường đầu tư theo nhiều tiêu thức
khác nhau và mỗi tiêu thức phân loại đó lại hình thành các môi trường,
thành phần khác nhau. Chẳng hạn:
Căn cứ vào phạm vi không gian, có môi trường đầu tư nội bộ
doanh nghiệp, môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư quốc
tế.
Căn cứ vào lĩnh vực, có môi trường chính trị, môi trường luật pháp,
môi trường kinh tế, môi trường văn hóa xã hội, cơ sở hạ tầng…
Căn cứ và sức hấp dẫn, có môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao
(hấp dẫn nhiều), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh trung bình (hấp dẫn
vừa), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh thấp (hấp dẫn ít) và môi
trường không có tính cạnh tranh (không hấp dẫn).
Khi xem xét môi trường đầu tư, các nhà kinh doanh và các nhà
quản lý phải thấy một số đặc điểm cơ bản trong quá trình đánh giá và tạo
dựng môi trường đầu tư.
Thứ nhất, môi trường đầu tư không phải là cố định mà luôn luôn
biến đổi do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành. Tính chất của môi
trường đầu tư luôn luôn thay đổi là do mối tương quan giữa môi trường
đầu tư trong nước và các môi trường đầu tư của các nước khác. Không có
một môi trường đầu tư cố định.

Chẳng hạn, chính sách đầu tư bao gồm chính sách thu hút đầu tư nước
ngoài và chính sách đầu tư ra nước ngoài.
Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính
sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh
các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước
ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt
được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
quốc gia đó.
Chính sách đầu tư nước ngoài nhằm điều chỉnh và giải quyết các
vấn đề của đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Nhiệm vụ của nó là phải
giúp cho nhà nước đưa ra những quyết sách thích hợp để ứng xử với tình
hình đầu tư nước ngoài, phải trả lời được là nên khuyến khích đầu tư ra
nước ngoài hay thu hút đầu tư vào trong nước? Tỷ lệ giữa đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếpở khoảng nào là tối ưu? Sử dụng các công cụ nào để
khuyến khích đầu tư nước ngoài? Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào
khu vực nào và ngành kinh tế nào?
- 7 -
Theo tính chất, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân
thành chính sách đầu tư tự do và chính sách hạn chế đầu tư.
Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được chia
thành:
- Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính;
- Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu);
- Chính sách thị trường;
- Chính sách lao động;
- Chính sách đất đai;
- Chính sách công nghệ…
3.2.1 Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính
Chính sách này bao gồm các chính sách thuế và các khuyến khích
khác như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải

Chính sách này xác định quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong
quan hệ sở hữu đất đai, thời hạn và giá cả thuê đất.
3.2.4 Chính sách lao động
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được phép tự do
tuyển dụng lao động hay không và phải tôn trọng các nguyên tắc nào
trong mối quan hệ chủ thợ. Thông thường, các nhà đầu tư phải ưu tiên
tuyển dụng các lao động tại nước sở tại, đặc biệt là các lao động ở địa
phương đặt trụ sở. Việc tuyển dụng lao động có thể thông qua văn phòng
tuyển dụng, tư vấn đầu tư hay các tổ chức dịch vụ. Chỉ khi nào những cơ
quan trên không cung cấp được cho doanh nghiệp những lao động phù
hợp về số lượng và chất luợng thì doanh nghiệp mới trực tiếp đứng ra
tuyển dụng.
Khi có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, các bên hợp danh cần giải trình sự cần thiết phải sử
dụng lao động nước ngoài có kèm theo chứng chỉ nghề nghiệp của người
lao động nước ngoài gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh,
thành phố nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp để xem xét việc cấp giấy phép
lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
II. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế của các nước
Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như
tất cả các nước đều thiếu vốn đầu tư. Để khắc phục tình tràng thiếu vốn,
các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nhất là đầu
tư trực tiếp. Do đó đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) là một vấn đề
được nhiều nước phát triển và đang phát triển rất quan tâm.
1.Bản chất và đặc điểm của FDI
1.1 Bản chất FDI
Trong hợp tác đầu tư quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác
nhau. Nhìn chung, vốn nước ngoài đầu tư vào trong nước bằng hai con
đường: đường công cộng (official) và đương tư nhân hoặc thương mại
(commercial). Hình thức chủ yếu của đường công cộng là viện trợ, bao

nghiệp phát triển với nhau, nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu.
Thứ nhất, môi trường đầu tư của các nước phát triển có độ tương
hợp cao. Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường
công nghệ và môi trường pháp lý.
Thứ hai, xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này thâm
nhập thị trường của nhau.
Cũng với hai lý do chính đó, ta có thể giải thích được xu hướng
tăng lên của FDI ở các nước công nghiệp mới (NICs), các nước ASEAN
và Trung Quốc, Ấn Độ. Quá trình tự do hoa kinh tế, chuyển sang kinh tế
thị trường ở các nước này cũng như khu vực Đông Âu và Liên Xô đã tạo
nên những khoảng trống mới cho đầu tư. Mặc khác, các nhà đầu tư lớn
nhất có xu hướng cũng cố khu vực lân cận của mình.
Như vậy, xu hướng tự do hoá và mở cửa nền kinh tế của các nước
đang phát triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự
thay đổi dòng chảy FDI. Năm 1990, tổng số vốn đầu tư của các nước
đang phát triển nhận được là 19%, năm 1991 là 25% và năm 1992 khoảng
30%. Trong những năm gần đây tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng lên.
1.2.3Cơ cấu và phương thức ngày càng đa dạng hơn
về cơ cấu FDI, đặc biệt FDI vào các nước công nghiệp phát triển có
những thay đổi như sau:
- Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng
khoa học cao tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hằng năm là tập
trung vào các ngành then chốt như điện tử, chế tạo máy tính,
chất dẻo và chế tạo máy. Trong khi đó, nhiều ngành công
nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm
tuyệt đối hoặc không đầu tư.
- 10 -
- Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống
trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên. Điều này có
liên quan đến tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP của các

nhận và nước cho rất thấp. Ở các nước chậm phát triển nhất hiện nay viện
trợ và cho vay chiếm 90% các nguồn vốn từ bên ngoài bên ngoài. Viện
trợ và cho vay trong nhiều trường hợp dẫn đến sự phụ thuộc một chiều
hơn là giúp cho các nước nhận có được sự phát triển tự thân và tham gia
có hiệu quả và phân công lao động quốc tế. Vì vậy, các nguồn vốn này đã
được các chính phủ, các tổ chức quốc tế đặt trong các mối quan hệ với
các nguồn vốn tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng.
2.Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế đất nước
2.1 Một số quan điểm về FDI của các nhà kinh tế học
- 11 -
Đầu thế kỷ XX các nhà kinh tế đã bàn nhiều về xuất khẩu tư bản.
V.I.Lênin cho rằng:xuất khẩu tư bản là một đặc điểm kinh tế của chủ
nghĩa tư bản hiện đại (tức chủ nghĩa tư bản độc quyền). Theo ông, trong
giai đoạn cạnh tranh tự do đặt diểm của chủ nghĩa tư bản là xuất khẩu
hàng hóa, còn trong giai đoạn hiện đại là xuất khẩu tư bản. Xuất khẩu tư
bản có ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư của các nước xuất khẩu tư bản,
nhưng lại giúp các tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận cao ở nước
ngoài. Ngoài ra, xuất khẩu tư bản còa vai trò bảo vệ chế độ chính trị ở các
nước nhập khẩu tư bản và ít nhiều có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế,
kỹ thuật. Song về hậu quả nhân dân oqr các nước nhập khẩu tư bản bị bốc
lột nhiều hơn, sự lệ thuộc về kinh tế và kỹ thuật tăng lên, dẫndeens sự
phụ thuộc về chính trị là khó tránh khỏi.
Từ phân tích trên, V.L.Lê nin rút ra kết luận “ các nước xuất khẩu
tư bản hầu như bao giờ cũng có khả năng thu được một số” khoản lợi”
nào có, và tính chất của những khoản lợi này làm sáng tỏ đặc trưng của
thời đại tư bản tài chính và độc quyền”.
Vào giữa thế kỹ XX, việc xuất khẩu tư bản, nhất là FDI, phát triển
nhanh chóng. Các nhà kinh tế học cho rằng, dể phát triển kinh tế các nước
đang phát triển phải có biện pháp thu hút được FDI. Điẻn hình là hai nhà
kinh tế học P.Samue lson và R. Nukse. Trong lý thyết “ cái vàng luẩn

hiệu quả. FDI giúp các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi về
lãi suất chặt chẽ, về điều kiện thanh toán nợ và những điều hay tác động
đến vay nợ quốc tế. Mặc dù FDI là để phục vụ cho việc củng cố hệ thống
này, các nước có thu nhập thấpđược chuyên môn hóa sản xuất nguyên
liệu và thực phẩm xuất khẩu, được chuyên môn hoá dựa trên nguyên tắt
bất di bất dịch của lợi thế trong thương mại quốc tế, dù rằng FDI trước
hết phục vụ cho lợi ích của các công nghiẹp xuất khẩu, chứ không phải
của nước nhận vốn, và thậm chí phần nào các nước đang phát triển phải
chịu sự mất cân bằng không tránh khỏi, nhưng vẫn nên mở cửa hơn là
đóng cửa. R.Nurkse cho rằng, FDI đem lại lại lợi ích chung cho cả hai
bên, dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được
vì nó là đòi hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình vận động thị trường. Đầu
tư trực tiếp là kết quả hoàn toàn tự nhiên bởi hoạt động tự do của các
động cơ kiếm lợi nhuận. Lẽ tất yếu là phương hướng của đầu tư tư nhân
chịu tác động lớn của hướng vận động lớn của hướng vận động thị
trường.
2.2 Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế
Qua phân tích quan điểm của nhà kinh điển về vai trò của FDI và
đặc điểm của FDI, ta thấy FDI có những thế mạnh của nó. Dù vẫn chịu
chi phối của Chính phủ, nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị
giữa hai bên. Mặt khác, bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản
xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt la trong
việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Do quyền lợi gắn
chặt với dự án, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh nên có thể lựa chọn
công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công
nhân. Vì vậy, FDI ngày càng có vai trò Phòng tổ chức hành chính lớn đối
với việc thúc đẩy qúa trình phát triển kinh tế ở nước đầu tư và các nước
nhận đầu tư. Cụ thể là:
- Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao
hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu

kéo dài. FDI là phương thức đầu tư phù hớp với các nước đang phát triển,
tình tràng tích lũy quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế
không đáng xảy ra.
Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới, giúp các nước
đang phát triển tiếp cận với khoa học-kỹ thuật mới. Quá trình đưa công
nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh
của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại
được du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong
nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao
động quen dần với phong cách làm việc công nghiêpk cũng như hình
thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi.
FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa
nước ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở
rộng không ngừng.
FDI giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh
thuế các công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả
năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển.
- 14 -
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên
cạnh những ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là:
 Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị thì
nhà đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn.
 Nếu nước sở tại không có một qui hoạch đầu tư cụ thể và
khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên
thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
Cũng như các nước đang phát triển, để phá “cái vòng luẩn quẩn”
và phát triển kinh tế, đòi hỏi Việt Nam phải có biện pháp thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, nhất là FDI. Ngày 18-04-1977, nước ta thông qua “điều lệ

ngiệm quản lý kinh doanh và cách làm thương mại trong điều kiện kinh tế
thị trường của các nước tiên tiến.
- 15 -
Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh
chóng hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.
III. Tầm quan trọng của các doanh nghiệp có vốn FDI
1. Doanh nghiệp có vốn FDI
1.1 Nguồn gốc của doanh nghiệp có vốn FDI
Một trong những hình thức biểu hiện của đầu tư trực tiếp nước
ngoài là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với
Việt Nam đây là một loại hình doanh nghiệp mới, được hình thành kể từ
khi luật đầu tư nước ngoài được ban hành đầu tiên vào năm 1988. Mặc dù
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm một tỷ trọg
không lớn ở nhiều quốc gia kể cả các nước NICs ở Châu Á, tuy nhiên ở
một số nước ASEAN con số này là khá cao và thực tế đã cho thấy vai trò
quan trọng của loại hình doanh nghiệp này đối với đời sống kinh tế của
Việt Nam. Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoa, quốc tế hoá nền kinh tế
không thê đảo ngược thì các doanh nghiệp FDI thực sự trở thành một bộ
phận cấu thành hữu cơ của toàn nền kinh tế, là nhân tố cần thiết, quan
trọng tạo dựng những nền tảng cơ bản giúp Việt Nam nói và Đà Nẵng nói
riêng từng bước hoà nhập vào thị trường thế giới.
Bắt đầu từ những năm 90, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hoá nền
kinh tế thế giới được mở rộng, cùng với tự do hoá thương mại, tự do hoá
đầu tư xuất hiện đã tạo cơ hội phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp
FDI phát triển với quy mô ngày càng tăng. Đồng thời do nghịch lý của tự
do hoá đầu tư, các doanh nghiệp FDI được coi là phương tiện hữu hiệu để
vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Sự khác nhau về văn hóa,
luật pháp và các chính sách của Chính phủ các nước cũng như trình độ
phát triển, các doanh nghiệp FDI thực hiện mở rộng quy mô, thực hiện
chuyển giao công nghệ và do đó kéo dài chu kỳ sống sản phẩm và dịch

và lợi nhuận ra nước ngoài , rõ ràng tạo ràng ra một môi trường đầu tư
thuận lợi, cho phép nhà đầu tư được hưỡng những điều kiện kinh doanh
hết sức ưu đãi.
1.3 Các hình thức của các doanh nghiệp có vốn FDI
Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều
bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc
hiệp định ký giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và chính phu nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vố
đầu tư nước ngoài hợp tác vóidn Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên
doanh hợp tác với nhà đầu tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Có thể chia doanh nghiệp liên doanh thành 3 loại hình sau:
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại
Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc
các Bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.
- Doanh nghiệp liên doanh mới: là doanh nghiệp được thành
lập giữa doanh nghiệp liên doanh đã được phép hoạt động tại
Việt Nam hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài đã được phép hoạt động tại Việt Nam.
- Trong trường hợp đặc biệt,doanh nghiệp liên doanh có thể
được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa chính phủ
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính phủ nước
ngoài.
Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh dẫn
đến sự hình thành một pháp nhân mới. Doanh nghiệp liên doanh được
thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp
nhân tuân theo pháp luật Việt Nam. Đối với doanh nghiệp liên doanh, các
bên tham gia được chia lợi nhuận và chia sẽ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của
mỗi bên vào phần vốn pháp định của liên doanh. Theo pháp luật Việt
- 17 -
Nam phần góp vốn pháp định của bên nước ngoài không hạn chế về mức

phản ánh trạng thái của các nhà đầu tư nước ngoài muốn được tự chủ
trong kinh doanh, trong điều hành hoạt động của doanh nghiệp, không bị
lệ thuộc vào đối tác Việt Nam, đồng thời tận dụng được nguồn lao động,
tài nguyên và thị trường sẵn có. Mặt khác cũng thể hiện một thực tế là
khả năng góp vốn, khả năng hợp tác của các tổ chức kinh tế Việt Nam với
nước ngoài còn có nhiều hạn chế.
Như vậy, thông qua hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài cho phép các nước chủ nhà tăng cường khai thác nguồn vốn
bên ngoài, cũng như giải quyết các vấn đề vướng mắc khác. Thực tế ở
nhiều nước đang phát triển mà nôit bật là ASEAN, nhở FDI đã giải quyết
một phần khó khăn, góp phần thúc đẩy việc thực hiện thành công quá
trình công nghiệp hoá đất nước.
- 18 -
2.Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn FDI
Là một loại hình doanh nghiệp hình thành và phát triển bắt nguồn
từ hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nên loại hình doanh nghiệp
có những đặc điểm riêng, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác,
cần phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ lưỡng, để hạn được những sai lầm không
đáng có trong quá trình quản lý hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp
này.
2.1 Loại hình doanh nghiệp và chủ thể của các doanh nghiệp có
vốn FDI
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dù hình thức đầu tư là
doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng
điều được thành lập duới dạnh các công ty trách nhiệm hữu hạng. Do đó
trong quá trình hoạt động, cũng như khi thanh lý hợp đồng, xử lý tranh
chấp đều tiến hành áp dụng những quy định của loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn.
Trong hoạt động của các doanh nghiệp này cá sự tham gia có đối
tác nước ngoài, chủ yuế làn công ty đa quốc gia ( chiếm 90% số lượng

doanh nghiệp nước ngoài là một bộ phạn cấu thành trong dây
chuyền của công ty mẹ. nó chịu trách nhiệm khai thác nguồn
nguên liệu tại chỗ của nước sở tại cung cấp cho công ty mẹ đẻ
tiếp tục sản xuất dảnb phẩm hoàn chỉnh.
2.2 Lĩnh vực và địa bàn đầu tư của doanh nghiệp có đầu tư FDI
Thời gian qua cơ cáu đầu tư của các doanh nghệp Fdi đã có những
sự chuyển dịch khá lớn theo định hướngb và nhu cầu phát triển kinh tế và
Việt Nam. Về cơ cấu ngành, nếu trong nhữnh năm đầu khi luật đầu tư
nước ngoài ra đời, đa số các doanh nghiệp tẩp trung vài các ngành dầu
( 32,2% ), khách sạn ( 20,6% ) thì hiện nay đầu tư nước ngoài hướng
mạnh vào lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất, xây dựng két cấu hạ tầng.
Số lưọng các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào công nghiệp ngày càng
tăng lênm, nhiều doanh nghiệp đàu tư chiều sâu nhằm khai thác, nâng cấp
năng lực sản xuất hiện có. Đến nay có khoảng 70% số doanh nghiệp các
ngành sản xuất vật chất, xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất hàng tiêu dùng,
dịch vụ và hàng xuất nhập khẩu. Cụ thể, công nghiệp: 1.985 dự án, vốn
đầu tư 20.878 triệu USD; dịch vụ (giao thông vận tải, bưu điện, khách sạn
– du lịch, tài chính – ngân hàng, xây dựng): 679 dự án, vốn đầu tư 14.838
triệu USD. Trong đó Đà Nẵng có 52 dự án (trong đó có 42 dự án công
nghiệp và 10 dự án dịch vụ).
Về cơ cấu vùng lãnh thổ, đa số các doanh nghiệp tập trung vào
vùng kinh tế trọng điểm là: thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai – Vũng
Tàu, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Đà Nẵng - Huế - Quảng Ngãi. Số
lượng và tỷ trọng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các
vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa là
rất ít.
Tuy có những chuyển biến tích cực so với những năm đầu thực
hiện luật đầu tư, nhưng hiện đa số các doanh nghiệp tạp trung vào các
ngành công nghiệp nhẹ, sản xuất gia công, lắp ráp, khách sạn, dịch vụ, du
lịch những ngành có tỷ suất sinh lời cao và có khả năng nhanh chóng thu

móc, nhà xưởng, thiết bị, vật tư.
2.4 Lao động có trình độ chuyên môn cao, có tay nghề cao:
Tính đến ngày 31-12-2001 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã tạo cho Việt Nam 380.000 chỗ làm việc trực tiếp và khoảng 1
triệu lao động gián tiếp ( bao gồm công nhân xây dựng và các ngành sản
xuất, dịch vụ phụ trợ có liên quan). Như vậy, số lao động làm việc trong
các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài
bằng khoảng 39% tổng số lao động bình quân hàng năm của khu vực nhà
nước – đây là một kết quả nổi bật của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thu nhập bình quân của lao động làm viẹc trong các doanh nghiệp
có vốn ĐTNN là 70 USD/tháng (tương đương 980.000 đồng) bằng
khoảng 150% mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà
nước. Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam, do đó đã tạoh ra
sự cạnh tranh nhất định trên thị trường lao động. Tuy nhiên, lao động làm
việc trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cường độ lao động cao, kỷ luật
lao động nghiêm khắc… đúng với yêu cầu của lao động làm việc trong
nền sản xuất hiện đại, trong một số lĩnh vực còn có yêu cầu đối với lực
lượng lao động phải có trình độ tay nghề cao, học vấn, ngoại ngữ … Sự
hấp dẫn và thu nhập cùng với đòi hỏi cao về trình độ về yếu tố tạo cơ chế
buộc người lao động Việt Nam có ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao
trình độ và tay nghề để có thể đủ các điều kiện được tuyển chọn vào việc
làm việc tại các doanh nghiệp loại này.
- 21 -
Về đội ngũ quản lý, kinh doanh : trước khi bước vào cơ chế thị
trtường, chúng ta chưa có nhiều nhà doanh nghiệp giỏ có khả năng tổ
chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong môi trường cạnh tranh. Khi
các dự án ĐTNN bắt đầu hoặt động, các nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam
những chuyên gia giỏi, dồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức
kinh doanh hịên đại nhằm thực hiện dự án có hiệu quả, đây chính là diều
kiện tốt một mặc để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, học tập và nâng

được đầu tư nằm ở công nghệ dạng mềm. Có nắm được yếu tố quan trọng
này, chúng mới thực sự nhận được công nghệ kỹ thuật đích thực, hiện
đại, có giá trị từ đó có thể hi vọng đạt được những kết quả cao khi áp
dụng vào thực tế kinh doanh trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Nhưng công nghệ phần mềm rất khó chuyển giao
và nói chunhg các nà đầu tư không muốn chuyển giao cho nước nhận đầu
- 22 -
tư. Trong khi đó các nhà đầu tư trong nước tỏ ra rất bỡ ngỡ, thiếu kinh
nghiệm và lúng túng với việc ký kết các hợp đồng chuyển gioa công
nghệ.
2.6 Sản phẩm có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp có
công nghệ hiện đại, có tiềm lực về tài chính, sản phẩm tai các doanh
nghiệp này được sản xuất, chế tao theo những tiêu chuẩn chấ lượng cao
cấp của thế giới do đó họ có lợi thuế hơn hẳn các doanh nghiệp trong
nước. Sản phẩm thường có chất lưọng cao hơn, giá thành rẽ hơn mặt
bằng chung, nên có ưu chế trong cạnh tranh. Các doanh nghiệp liên
doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đều là công ty con của các tập
đoàn kinh tế, họ có nhiều kinh nghiệm trong quản lý tiêu thụ, trong các
hoạt động marketing, trong giới thiệu sản phẩm, có đủ điều kiện cần thiết
như uy tín đối với bạn hàng nước ngoài, cho phép sản phẩm nhanh hóng
tiếp cận thị trường thế giới. Nhìn chung những sản phẩm này có khả năng
xuất khẩu tốt, có thể mạnh trong cạnh tranh ở cả thị trường trong và
ngoài nước.
Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là hoạt động của đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã giúp Việt Nam mở rộng thị trường phần ở
nước ngoài. Đối với những hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN, vô hình dung đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà
ĐTNN tại Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam.
IV. Kinh nghiệm thu hút FDI

Về thủ tục hành chính, Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa
phương về thẫm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi cho giấy
phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết
mau lẹ. Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cúp điện, nước, giao thông, môi
trường được giải quyết dứt điểm. Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo
kinh doanh thu hút FDI thuận lợi.
Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung Quốc cho
thời hạn hợp đồng kéo dài hơn, có thể tới 50 năm.
1.2 Thái Lan
Chính phủ Thái Lan khuyến khích các nhà đầu tư hợp tác với các
cơ quan nước ngoài khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường, các dự án
sử dụng nhiều lao động, Xuất khẩu sản phẩm, sử dụng nguyên liệu thô
của Thái Lan, thay thế hàng nhập khẩu được nước ngoài ưu tiên.
Tỷ lệ góp vốn liên doanh không thành điều kiện bắt buộc. Tuy
nhiên, các dự cho phép Thai Lan góp vốn trên 50% thì được uỷ ban đầu
tư cấp chứng chỉ bảo lãnh.
Về thuế lợi tức, đánh thuế 30% vào các công ty và đối tác đã đăng
ký tại thị trường chứng khoáncủa Thái lan và đánh thuế 35% vầo các
công ty và các đối tác khác. Tuỳ từng dự án mà có thể dược miễn giảm
thuế lợi tức từ 3-8 kể từ khi có lãi.
Về thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp được miễn giảm50% thuế
nhập khẩu đối với máy móc, thiét bị nhập khẩu vào Thái Lan chưa sản
xuất được. Được miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu và linh
kiên đưa vào để sản xuất và lắp ráp hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp
được xét giảm 90% thuế nhập khảu đối với nguyên liệu nhập vào nếu các
thứ nàỷơ Thái Lan chưa sản xuất đựưc.
Về chính sách xuất khẩu, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu vật tư, phụ tùng, các chi tiết tạm nhậptái xuất, được miễn hoạc giảm
thuế lợi tức 5%. Các doanh nghiệp trong khu chế xuất được miễn thuế
nhập khẩu đối với nhập tư.

giống Malaixia và xingapo, Philippin cho phép tất cả các ngành công
nghiệp, trừ các ngành trong danh mục cấm hoặc hạn chế đầu tư được tiếp
cận tự do với thị trường đội địa.
Về quản lý ngoại hối, toàn bộ thu nhập và lãi phát sinh từ kinh
doanh đã đăng ký ở ngân hàng trung ương được phép chuyển ra nước
ngoài .
Về đất đai và lao động, Hiến pháp của Philippin hạn chế quyền sử
dụng đất. Đất đai của liên doanh phải thuộc sở hữu của ngưòi Philippin ít
nhất là 60%.
Các công ty liên doanh hạn chế thuê lao động nước ngoài. Họ chỉ
được thuê người nước ngoài tối đa là 5 năm để làm các việc như: kiển
soát viên, kỹ thuật viên, cố vấn. Nếu kéo dài thời gian phải xin phép uỷ
ban đầu tư quốc gia.
Về thủ tục hành chính, nước này đơn giản hoá thủ tục hành chính,
đảm bảm cấp giấy phép đầu tư nhanh gọn, không phiền hà cho các đối tác
nước ngoài , thực hiện nghiêm chỉnh các quy chế về hành chính.
2.Kinh nghiệm của các tỉnh, thành phố trong cả nước
- 25 -
2.1 Thành phố Hồ Chí Minh
- Mục tiêu quan trọng nhất, yêu cầu lớn nhất của công tác
thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với thành phố không chỉ
là số là số lượng vốn thu nhận được mà chính là hiệu quả
của nó đem lại cho sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố.
Hiệu quả kinh tế xã hội của nguồn vốn đầu tư nước ngoài
đối với thành phố được đo bằng việc góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thúc đẩy khu vực kinh tế trong nước phát
triển tăng năng suất lao động và theo đó là nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống cho người thành phố. Chính vì thế,
việc xác định rõ ràng, cụ thể chính xác phương hướng đầu
tư là một vệc quan trọng, trước hết là tăng công tác thu hút

vụ và trong số các doanh nghiệp này có bị đỗ vỡ theo quy

Trích đoạn THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÀ NẴNG Những thuận lợi và thách thức của chính sách thu hút đầu tư tại thành phố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status