Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài - Pdf 25


2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa: CHXHCN
2. Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi giữa các
nước: Công ước Lahay năm 1993.
3. Bộ luật dân sự: BLDS
4. Hiệp định tương trợ tư pháp: HĐTTTP
5. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Luật HN&GĐ 2000
6. Xã hội chủ nghĩa: XHCN

3
MỤC LỤC

NỘI DUNG
TRANG


7. Kết cấu của luận văn………………………………………………
-

Chƣơng I: Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố
nƣớc ngoài ở Việt Nam ….…………………………………………….
13

1.1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài …………………
-

1.1.1.Khái quát về nuôi con nuôi ……………………………………
-

1.1.2.Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài……………………
17

1.1.3.Vai trò của pháp luật về nuôi con nuôi ……………………………
19

1.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ……………………
20 4
1.2.1. Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế …….
21

1.2.2. Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế……… ………….
26


2.2.2.Điều kiện đối với con nuôi ………………………………………
56

2.2.3. Điều kiện về ý chí ………………………………………………
59

2.3.Hệ quả pháp lí của nuôi con nuôi và chấm dứt việc nuôi con nuôi
63

2.3.1.Hệ quả pháp lí của nuôi con nuôi …………………………………
-

2.3.2.Chấm dứt việc nuôi con nuôi ……………………………………
72

2.4.Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài .….
74 5
2.5.Trình tự, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi……… ……………………
79

2.6.Nhận xét, đánh giá quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam với pháp luật một số nước
trên thế giới và bài học cho Việt Nam…………………………………
87

Kết luận chương II……………………………………………………….


Kết luận chương III
118

Kết luận chung ……………………………………………………
119

Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………………
121 6
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt đã xuất hiện từ lâu ở nhiều
nước trên thế giới. Vấn đề này chỉ thực sự trở thành mối quan tâm của cộng
đồng từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và được khẳng định là một trong
những quyền dân sự cơ bản của trẻ em trong các văn kiện pháp lý quan trọng
về quyền con người từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Những thập niên gần
đây, nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài nói riêng
ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và phức tạp hơn.
Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc
tế ngày càng được mở rộng, thì các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi ngày càng thu hút được sự
chú ý của xã hội. Trong bối cảnh đó, về mặt pháp luật có thể thấy trước đây

dân Việt Nam và người nước ngoài, đã có một số công trình khoa học nghiên
cứu về quan hệ nuôi con nuôi như: Chuyên đề về "Chế định nuôi con nuôi
trong pháp luật Việt Nam và quốc tế" của Viện nghiên cứu khoa học pháp lí -
Bộ Tư pháp năm 1998; bài viết của Nguyễn Công Khanh "Hoàn thiện pháp
luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài" đăng trên
tạp chí nghiên cứu lập pháp.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khoá X thông qua
ngày 09/06/2000 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 đánh dấu bước phát triển

8
mới của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Sau sự kiện này, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết mang tính chất
bình luận Luật Hôn nhân và gia đình đã góp phần làm phong phú lí luận cơ
bản về các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi như: Bài
viết của thạc sĩ Ngô Thị Hường "Về chế định nuôi con nuôi trong luật hôn
nhân và gia đình năm 2000" đăng trên Tạp chí luật học số 3/2001; Bài viết
của thạc sỹ Nguyễn Phương Lan “Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi
theo pháp luật Việt Nam” đăng trên tạp chí Luật học số 3 năm 2004…;
Trong thời gian Việt Nam đang xem xét để gia nhập Công ước Lahay
1993 có nhiều hội thảo đề cập đến quan hệ nuôi con nuôi như: Hội thảo của
Bộ Tư pháp (10/2003) “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam hướng tới gia nhập
Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi ”
với nhiều báo cáo tham luận đề cập tới quan hệ nuôi con nuôi; đề tài nghiên
cứu khoa học tháng 10/2005 của Cục con nuôi quốc tế - Bộ Tư pháp “Hoàn
thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu gia nhập
Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi
con nuôi quốc tế”.
Ngoài ra, vấn đề nuôi con nuôi quốc tế còn được đề cập trong một số công
trình nghiên cứu khoa học như: đề tài luận án tiến sỹ “Pháp luật điều chỉnh
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của tác giả Nguyễn Công Khanh; đề tài

quốc tế mà Việt Nam là thành viên) với pháp luật một số nước trên thế giới về
các vấn đề cơ bản của nuôi con nuôi như: nguyên tắc, điều kiện nuôi, hệ quả

10
pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của việc nuôi con uôi có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam. Khi so sánh quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, luận văn cũng chỉ chủ yếu so sánh với
pháp luật của những nước đã là thành viên của Công ước Lahay năm 1993 để từ
đó rút ra bài học, kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật
về nuôi con nuôi.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những mục đích đã được xác định ở trên, tác giả dựa trên cơ
sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, trong đó tác giả đặc biệt coi trọng các phương
pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, so sánh và phương
pháp lịch sử. Trong số các phương pháp cụ thể này, phương pháp so sánh được
sử dụng như là phương pháp chủ đạo để đối chiếu giữa quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành với quy định trước đây; để đối chiếu quy định của pháp luật
Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới và khu vực để tìm ra những
điểm tương đồng và những điểm khác biệt của pháp luật Việt Nam trong lĩnh
vực này.

5. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Có thể coi những
điểm sau đây là những đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn:
- Phân tích một cách có hệ thống lí luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài;


Chương II: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - so sánh với pháp luật một số
nước trên thế giới.
Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt nam điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay.

13 CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM


Quan điểm của các nước về bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi có sự
khác nhau. Một số nước như Thuỵ Điển, Pháp, Đức… cho rằng việc nuôi con
nuôi thể hiện ý chí đơn phương. Ý chí đó chỉ có hiệu lực khi được những người
có liên quan (cha, mẹ đẻ, người giám hộ hoặc chính bản thân đứa trẻ) và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) đồng ý. Do vậy, việc nuôi con nuôi
được coi là hành vi pháp lý đơn phương.
Quan điểm khác lại cho rằng việc nuôi con nuôi là một hợp đồng song vụ
giữa người nhận con nuôi và người cho con nuôi (cha mẹ đẻ, người giám hộ, cơ
sở nuôi dưỡng…) và có sự đồng ý của những người liên quan. Quan điểm này
được thể hiện trong pháp luật về nuôi con nuôi của Trung Quốc, Hàn Quốc…
Theo đó, việc nhận con nuôi không cần phải qua thủ tục công nhận tại Toà án mà
chỉ cần các bên thoả thuận phù hợp với yêu cầu pháp luật.
Quan điểm của Việt Nam tuy chưa thật sự rõ nét nhưng cũng đã được thể
hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ 2000), theo đó
dưới góc độ pháp lý, việc nuôi con nuôi không thể là một hợp đồng dân sự giữa
người nhận nuôi và người cho con nuôi. Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2000 quy

15
định “sự đồng ý” mà không phải sự thoả thuận của các bên. Đây là sự khác biệt
quan trọng so với quy định phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người
nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên.
Điều này cho thấy sự ghi nhận bản chất của việc nuôi con nuôi không phải là
một hợp đồng. [23, tr.24].
Dù quan điểm khác nhau thì tựu chung lại có thể thấy về bản chất pháp lý,
nuôi con nuôi được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ và
con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Như vậy, với tư cách là một
sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi là một hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ
cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi
theo các điều kiện do pháp luật quy định, mà không liên quan đến quan hệ huyết
thống giữa hai bên.

ban hành, điều chỉnh việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có liên quan trong việc cho nhận con nuôi, trên
cơ sở hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được
nhận làm con nuôi.
Khái niệm nuôi con nuôi đã được quy định một cách rõ ràng tại Điều 67
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan
hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con
nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”. Luật Nuôi con nuôi năm 2010

17
đã thừa kế khái niệm đó nhằm kiến tạo một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về
nuôi con nuôi.
Theo đó, khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 xác định: Nuôi
con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người
nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em
được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình
thay thế.
Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ và con bằng
con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha, mẹ và
con bằng con đường huyết thống. Nếu như quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ là
quan hệ gia đình “huyết thống” được hình thành do việc sinh đẻ thì quan hệ giữa
cha, mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ “nhân tạo” được xác lập về mặt pháp lí. Một
quan hệ nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng lúc của hai loại
chủ thể hưởng quyền, có khả năng và điều kiện thực hiện các quyền chủ thể
tương ứng, đó là “chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha, mẹ nuôi) và “chủ thể được
nhận làm con nuôi” (con nuôi).
1.1.2. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

là vợ chồng cùng thường trú ở nước ngoài xin nhận một trẻ em thường trú ở
nước khác làm con nuôi, có sự di chuyển trẻ em từ nước này sang nước khác, và

19
thông lệ của một số nước trên thế giới coi việc nhận một trẻ em có quốc tịch
khác làm con nuôi là nuôi con nuôi quốc tế. [14,tr.5].
1.1.3. Vai trò của pháp luật về nuôi con nuôi
Nếu trước đây việc nuôi con nuôi được coi như một phương thức để đảm
bảo sự nối dõi tông đường và duy trì sự phát triển tài sản của cha ông để lại thì
ngày nay ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi đã thay đổi. Nuôi con nuôi không
chỉ là một biện pháp phúc lợi cho trẻ em mà còn là một biện pháp xã hội và pháp
lý bảo vệ trẻ em nhằm tạo ra mái ấm gia đình, sự yêu thương đùm bọc của cha
mẹ nuôi để cứu giúp những trẻ em bất hạnh bị mồ côi, lang thang cơ nhỡ, cha mẹ
bỏ rơi, không nơi nương tựa…
Pháp luật về nuôi con nuôi có vai trò quan trọng trong việc xác lập, điều
chỉnh quan hệ gia đình được hình thành từ việc nuôi con nuôi, cụ thể:
- Sự điều chỉnh của pháp luật là nhằm định hướng, tạo khung pháp lý cơ
bản cho việc nuôi con nuôi, để thực hiện một trong các quyền cơ bản của con
người, đặc biệt là của trẻ em, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội và
lợi ích chung của đất nước;
- Mục đích của việc nuôi con nuôi trong thực tế rất đa dạng. Sự điều chỉnh
của pháp luật là cần thiết nhằm xác định rõ mục đích của việc nuôi con nuôi là
xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên, bảo vệ lợi ích chính đáng của các
bên, mà trước hết là của trẻ em được nhận làm con nuôi;
- Pháp luật nuôi con nuôi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong
quan hệ nuôi con nuôi, làm cho các bên đặc biệt là bên người nhận nuôi con nuôi
hiểu rõ được quyền và trách nhiệm của mình khi thiết lập quan hệ nuôi con nuôi.
Quan hệ cha mẹ và con trong việc nhận nuôi con nuôi là quan hệ đặc thù, không
gắn với huyết thống sinh học. Do đó, việc xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý


1. 2.1. Giai đoạn trước thời Kì đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn này, có thể thấy những điểm phát triển của nó
qua các giai đoạn nhỏ sau:
1.2.1.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945
Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi chiếm vị trí quan
trọng trong pháp luật phong kiến nước ta từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, tiêu biểu
nhất là hai bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ.
- Quốc triều hình luật, còn gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới
triều Lê. Bộ luật Hồng Đức là một công trình vĩ đại, đã kế thừa các di sản luật
pháp của các đời vua trước, đồng thời tiếp thu có gạn lọc Bộ luật nhà Đường
(Trung Quốc) mà vẫn giữ được nét độc đáo của nền cổ luật Việt Nam, thể hiện
phong tục tập quán lâu đời và truyền thống văn hoá dân tộc.
- Hoàng Việt luật lệ, còn gọi là Bộ luật Gia Long, được ban hành vào đầu
thời Nguyễn.
Hai bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ pháp lí giữa vợ
và chồng, quan hệ tài sản của vợ, chồng và con trong gia đình, vấn đề nuôi con
nuôi. Nghiên cứu các chế định này cho thấy, pháp luật nước ta lúc đó đã thể hiện
rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người Việt Nam về gia đình, trong
đó có những điểm mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu. Song các bộ luật này
cũng không thể tránh khỏi hạn chế của chế độ phong kiến đang suy tàn, xu
hướng duy trì chế độ phụ hệ cứng nhắc, triệt tiêu sự bình đẳng giữa vợ và chồng,
giữa con trai và con gái, con nuôi và con đẻ. Nói về mối quan hệ này INSUNYN

22
học giả người Hàn Quốc viết: “Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ
giữa hai thế hệ (cha mẹ là thế hệ bề trên, con cái là thế hệ bề dưới); Sự thống trị
và sự lệ thuộc là kiểu mẫu chung của cách đối xử trong xã hội truyền thống Việt
Nam”[31, tr.134].
Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia làm ba Kì là Bắc Kì, Trung Kì và

nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng
còn hết sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các
quan hệ đó. Ngoài các văn bản hướng dẫn về đường lối xét xử của Toà án nhân
dân tối cao đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài, Nhà nước ta chủ trương
chưa ban hành văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh trực tiếp quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài mà chỉ điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
trong nước theo Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đã ghi nhận quyền bình đẳng
giữa nam và nữ về mọi mặt. Đó là cơ sở pháp lí quan trọng để xây dựng chế độ
gia đình mới dân chủ và tiến bộ ở nước ta. Ngoài ra, trong thời kì này quan hệ
hôn nhân và gia đình còn được điều chỉnh theo một số sắc lệnh. Các sắc lệnh đã
xoá bỏ những quy định lạc hậu của chế độ gia đình phong kiến, thực dân, góp
phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thúc đẩy phát triển xã hội Việt Nam.
Thứ hai, quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với các
nước chủ yếu với các nước XHCN ở giai đoạn này mới bắt đầu kiến lập và dần
dần được củng cố. Bên cạnh sự giúp đỡ về chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật,
các nước còn tiếp nhận đào tạo nhiều công dân Việt Nam thuộc các ngành nghề

24
khác nhau. Thời kì này Việt Nam đã bắt đầu gửi sang Liên Xô và các nước Đông
Âu nhiều công dân để học tập, nghiên cứu, đồng thời Việt Nam cũng tiếp nhận
chuyên gia, cán bộ của các nước đến công tác, giúp đỡ và huấn luyện cho cán bộ
Việt Nam. Trong bối cảnh đó, các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài phát sinh,
đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, tuy vậy, vấn đề điều chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc. Nhưng chính nhờ
vậy đã làm nảy sinh khả năng tiềm tàng cho sự phát triển tiếp tục các xu hướng
điều chỉnh pháp luật quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong các giai đoạn sau.
Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959 tiếp tục
khẳng định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24). Xuất phát từ

Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), quan hệ hợp tác giữa Việt Nam
với các nước ngày càng được mở rộng. Trong bối cảnh có nhiều công dân Việt
Nam ra nước ngoài học tập, công tác, nghiên cứu và lao động, cũng như có nhiều
chuyên gia, cán bộ nước ngoài vào Việt Nam công tác, làm việc đã phát sinh
ngày càng nhiều các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh. Để xử lí tình hình này,
CHXHCN Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các HĐTTTP với Cộng
hoà dân chủ Đức (1980), Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba (1984),
Hungari (1985), Bungari (1986). Các hiệp định này đã tạo lập một khung pháp lí
khá hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi giữa các nước kí kết hiệp định.

26
Song song với việc kí kết các hiệp định, Nhà nước cũng ban hành một số văn
bản để điều chỉnh một số vấn đề riêng lẻ trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài.
Thứ hai, ngoài quan hệ hợp tác quốc tế với các nước XHCN, Việt Nam đã
dần dần mở rộng quan hệ với các nước khác, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài cũng dần dần trở nên phức tạp hơn. Tuy vậy, trong giai đoạn này,
HĐTTTP đã chỉ được kí giữa các nước XHCN, được thực hiện trên các nguyên
tắc XHCN, có nội dung cơ bản giống nhau.
Các HĐTTTP này đã điều chỉnh khá toàn diện các vấn đề quan hệ hôn nhân
và gia đình như quan hệ kết hôn, quan hệ pháp lí giữa vợ, chồng, quan hệ pháp lí
giữa cha, mẹ và con, vấn đề nuôi con nuôi, vấn đề giám hộ; vấn đề xung đột
pháp luật và xung đột thẩm quyền được giải quyết khá cụ thể. Việc thiết lập quan
hệ điều ước quốc tế như vậy cũng đặt ra khả năng đàm phán và kí với các nước
khác những hiệp định tương tự và cũng đặt ra yêu cầu cần thiết hoàn thiện hệ
thống pháp luật điều chỉnh quan nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta
trong giai đoạn sau đó.
1.2.2. Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status