ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT VÕ THỊ HUYỀN MY
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI DƢỚI GIÁC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VÀ TƢƠNG QUAN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG
MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 6
1.1. Lịch sử hình thành nhƣợng quyền thƣơng mại 6
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương
mại trên thế giới 6
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương
mại tại Việt Nam 8
1.2. Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài 10
1.2.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 11
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
nước ngoài 17
1.2.3. Mục đích, vai trò của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
nước ngoài trong thương mại quốc tế 19
1.2.4. Phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài với
một số hợp đồng thương mại khác 22
1.3. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại có yếu tố
nƣớc ngoài 27
1.3.1. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có
yếu tố nước ngoài 27
1.3.2. Những vấn đề pháp lý cơ bản về Hợp đồng nhượng quyền thương mại
có yếu tố nước ngoài 29
Chƣơng 2: HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ
3.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài ở Việt Nam 93
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về nhượng quyền thương mại 93
3.2.2. Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng nhượng
quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 95
KÊ
́
T LUÂ
̣
N 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nhượng quyền thương mại đã và đang là vấn đề “nóng” tại Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù quan hệ nhượng quyền thương mại xuất hiện
khá lâu và trở nên thông dụng trên thị trường thương mại quốc tế nhưng tại
Việt Nam đây vẫn còn là phương thức kinh doanh khá mới mẻ. Việc Việt Nam
trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), mở ra
nhiều cơ hội cho các nhà kinh doanh cả trong và ngoài nước. Những năm gần
đây có không ít những thương hiệu lớn đã “xâm nhập” thị trường Việt Nam
thông qua hình thức nhượng quyền thương mại và đã tạo ra một mô hình kinh
doanh hiệu quả như: KFC (Singapore), Lotteria (Hàn Quốc), Cleverlearn (Mỹ),
Gloria Jean’s Coffee (Australia) Cùng với sự đầu tư vào Việt Nam của các hệ
thống toàn cầu, các hệ thống nhượng quyền thương mại Việt Nam cũng đã
biệt đối với Việt Nam, khi mà hình thức kinh doanh này còn khá mới mẻ và
luật điều chỉnh còn cần phải hoàn thiện. Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên
cứu và đánh giá một cách thấu đáo các quy định của pháp luật về hợp đồng
nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
trong điều kiện hiện nay và tương quan so sánh với pháp luật của một số quốc
gia điển hình, sẽ góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước từng
bước tương thích với chuẩn pháp lý của các nước trên thế giới và thông lệ
chung của quốc tế; đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động nhượng quyền của
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
là một trong những khía cạnh pháp lý quan trọng, đã và đang được nhiều nhà
khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu.
3
Hiện nay, các sách, báo, tạp chí viết về hợp đồng nhượng quyền thương
mại có yếu tố nước ngoài hầu hết đều là của các tác giả nước ngoài. Rất nhiều
trong số này được viết bằng tiếng nước ngoài và chưa được dịch sang tiếng
Việt. Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhượng quyền
thương mại, nhưng chỉ dừng lại nghiên cứu nhượng quyền thương mại ở khía
cạnh kinh tế như: Sách chuyên khảo “Nhượng quyền thương mại tại Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Đông Phong (Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc
dân – 2008), “Franchise Chọn hay Không” của tác giả Nguyễn Khánh Trung
(Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - 2008), “Mua
Franchise – Cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Lý Quí
Trung (Nhà xuất bản Trẻ - 2008); hoặc ở góc độ pháp lý nhưng chỉ giới hạn ở
một trong những nội dung cụ thể của pháp luật về hợp đồng nhượng quyền
thương mại như bài viết “Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại” của tác giả Bùi Ngọc Cường đăng trên tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 07/2007; tác giả Vũ Đặng Hải Yến với các bài viết “Một số
chế cho việc áp dụng chúng một cách phù hợp với pháp luật và tập quán
thương mại quốc tế.
4. Đối tƣợng điều chỉnh và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về
hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt
Nam và pháp luật của một số quốc gia điển hình trên thế giới; thực tiễn xây
dựng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
tại Việt Nam.
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu trên, luận văn sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp phân tích, so sánh,
đối chiếu các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia
5
điển hình; thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong việc áp
dụng hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài trong hình
thức kinh doanh nhượng quyền thương mại; từ đó rút ra những ưu điểm trong
quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước điển hình trên
thế giới về vấn đề hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài;
xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hướng tới việc hoàn
thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc áp dụng hình thức kinh
doanh nhượng quyền thương mại trong quan hệ quốc tế, nhằm kết hợp hài hoà
lợi ích của tự do hoá thương mại và bảo hộ cho các nhà đầu tư Việt Nam khi
đặt chân vào “đấu trường” kinh tế thương mại thế giới.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Luận văn được kết cấu làm 03 chương với
các nội dung sau:
Chƣơng 1. Tổng quan về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu
tố nước ngoài.
Chƣơng 2. Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới.
quyền thương mại trở thành mô hình kinh doanh hiệu quả và thích hợp
không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở nhiều quốc gia Châu Âu khác. Mô hình kinh
doanh này đã góp phần làm hình thành và gia tăng số lượng các tập đoàn
xuyên quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, đồ ăn
nhanh và chuỗi các nhà hàng, khách sạn như: KFC (Kentucky Fried Chicken
7
– Gà rán xứ Kentucky - 1939), Carvel – thương hiệu kem (1934), Inter
Continental Hotels Group (1777), McDonald’s (1955)… Ngày nay, hình
thức nhượng quyền thương mại đã có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới,
riêng tại Châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương
thức nhượng quyền. Để đáp ứng xu thế mới của nền kinh tế, Chính phủ các
quốc gia phát triển như: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Australia…. đã lần lượt luật
hóa và ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích thúc đẩy phát triển
hoạt động kinh doanh nhượng quyền thương mại.
Tại Châu Á, với lợi thế là một thị trường rộng lớn, “màu mỡ” và đầy
tiềm năng đã nhanh chóng trở thành “cánh tay nối dài” cho các thương hiệu
lớn thông qua phương thức kinh doanh nhượng quyền. Nhận thấy tác động và
hiệu quả to lớn mà hoạt động nhượng quyền thương mại mang lại cho sự phát
triển của nền kinh tế, Chính phủ các quốc gia Châu Á như Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Việt Nam…. đã bắt đầu triển khai
chính sách phát triển hoạt động kinh doanh nhượng quyền với mục tiêu gia
tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng
quyền. Với sự hỗ trợ về hành lang pháp lý và chính sách ưu đãi của Chính
phủ mà nhiều thương hiệu kinh doanh theo hình thức nhượng quyền ở các
quốc gia Châu Á này đã và đang dần vươn ra khỏi tầm khu vực như: Lotteria
(Hàn Quốc), MK Restaurant (Thái Lan), Spinelli Pte (Singapore), Bucamita
(Việt Nam), Cà phê Trung Nguyên (Việt Nam)….
Bên cạnh sự hỗ trợ của Chính phủ các quốc gia, nhiều tổ chức phi
Chính phủ cũng được hình thành nhằm quảng bá và mở rộng lối kinh doanh
doanh và các đối tượng khác do pháp luật về chuyển giao công nghệ quy
định.” Như vậy có thể thấy, pháp luật chỉ ghi nhận nhượng quyền thương
9
mại là một bộ phận trực thuộc, chịu sự điều chỉnh của Luật chuyển giao
công nghệ mà không có luật chuyên ngành điều chỉnh riêng.
Nhận thấy vai trò quan trọng và xu thế thịnh hành của phương thức
kinh doanh nhượng quyền thương mại ngày một gia tăng, đặc biệt khi các
quốc gia phát triển trên thế giới cũng như một số quốc gia trong khu vực đã
sớm ban hành các định chế điều chỉnh quan hệ kinh doanh trên. Ngày
14/06/2006, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính
thức luật hóa và ghi nhận nhượng quyền thương mại là một loại hình kinh
doanh thương mại độc lập tại mục 8, Chương VI, Luật Thương mại 2005.
Đây là một mốc quan trọng, đánh dấu cho việc ghi nhận của các nhà làm luật
Việt Nam trong việc thừa nhận nhượng quyền thương mại là một loại hình
kinh doanh hoàn toàn độc lập và cần phải có các chế định pháp lý riêng biệt
để điều chỉnh.
Để góp phần thắt chặt hành lang pháp lý cho loại hình kinh doanh này
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 quy
định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại, Nghị
định 120/2011/NĐ-CP ngày 16/12/2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ
sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết
Luật Thương mại; Bộ Thương mại ban hành Thông tư 09/2006/TT-BTM
ngày 25/05/2006 hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và
Quyết định 106/2008/QĐ-BTC ngày 17/11/2008 của Bộ tài chính quy định
mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động
nhượng quyền thương mại. Đây chính là những căn cứ pháp lý cơ bản nhất và
tương đối đầy đủ điều chỉnh hoạt động kinh doanh nhượng quyền tại Việt
Nam, “tạo hành lang pháp lý” cho các chủ thể, đặc biệt là các thương nhân
Việt Nam có cơ hội phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
11
1.2.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài
Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của hoạt động
nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
nước ngoài cũng mang những nét chung của hợp đồng thông thường khác, đó
là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại về
những vấn đề chính trong nội dung của quan hệ này. Đây chính là cơ sở phát
sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng là
cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực
hiện hợp đồng. Một thực tế đặt ra, không phải quốc gia nào cũng có khái niệm
riêng biệt để nhận biết hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước
ngoài. Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, loại hợp đồng này vẫn được
phân biệt với các loại hợp đồng khác như hợp đồng li - xăng hay hợp đồng đại
lý phân phối sản phẩm…
Bàn về khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước
ngoài trước tiên chúng ta phải tìm hiểu khái niệm hợp đồng nhượng quyền
thương mại nói chung. Pháp luật hầu hết các quốc gia đều ghi nhận và điều
chỉnh quan hệ trong hợp đồng nhượng quyền, tuy nhiên việc đưa ra một khái
niệm cụ thể về hợp đồng này thì không phải quốc gia nào cũng quy định hoặc
nếu có đưa ra thì ở mỗi quốc gia và thậm chí ở mỗi bang của quốc gia lại có
quy định riêng.
Theo Luật nhượng quyền kinh doanh của Ủy ban thương mại Liên bang
Hoa Kỳ, hợp đồng nhượng quyền thương mại được định nghĩa:
“Hợp đồng nhượng quyền kinh doanh là hợp đồng theo đó Bên giao:
(i) Hỗ trợ đáng kể cho bên nhận trong việc điều hành doanh
nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp
của Bên nhận.
12
(i) Một thỏa thuận bằng văn bản;
(ii) Một thỏa thuận bằng miệng;
(iii) Một thỏa thuận ngầm; và
(b)Trong đó một bên (chủ thương hiệu) cho phép một bên khác
(bên nhận quyền) quyền thực hiện việc kinh doanh chào bán, cung cấp
hoặc phân phối hàng hoá, dịch vụ ở Australia theo một hệ thống hay kế
hoạch tiếp thị được xác định, kiểm soát hoặc đề nghị của Bên nhượng
quyền hoặc một bên liên kết của bên nhượng quyền; và
(c) Theo đó, các hoạt động của doanh nghiệp sẽ được liên kết
đáng kể về mặt vật chất với một nhãn hiệu thương mại, quảng cáo
thương mại hoặc một biểu tượng thương mại:
(i) Sở hữu, sử dụng hoặc cấp giấy phép bởi chủ thương hiệu hay
một bên liên kết của bên nhượng quyền; hoặc
(ii) Xác định bởi bên nhượng quyền hoặc bên liên kết của bên
nhượng quyền; và
(d) Theo đó, trước khi bắt đầu kinh doanh hoặc tiếp tục kinh
doanh, bên nhận quyền phải trả hoặc đồng ý thanh toán cho bên
nhượng quyền hoặc bên liên kết của bên nhượng quyền một khoản tiền
bao gồm, ví dụ:
(i) Chi phí đầu tư vốn ban đầu, hoặc
(ii) Một thanh toán hàng hoá, dịch vụ; hoặc
(iii) Một khoản phí dựa trên phần trăm của tổng thu nhập ròng
có hoặc không được gọi là phí bản quyền hoặc phí dịch vụ nhượng
quyền; hoặc
(iv) Một khoản phí đào tạo, học phí đào tạo;
nhưng không bao gồm:
14
(v) Thanh toán hàng hoá và dịch vụ bằng hoặc thấp hơn giá bán
buôn; hoặc
(e) Để được cấp quyền, bên nhận quyền phải trả một khoản phí
hoặc hình thức khác xem xét; và
(f) Bên nhận quyền hoạt động kinh doanh tách biệt với các
nhượng quyền, mối quan hệ của bên nhận quyền và bên nhượng quyền
không phải trong mọi trường hợp đều được coi là một quan hệ đối tác,
hợp đồng dịch vụ;
"Thỏa thuận nhượng quyền thương mại" là hợp đồng hoặc thỏa
thuận thực hiện giữa một bên nhượng quyền và nhận quyền đối với
kinh doanh nhượng quyền lại cho bất kỳ hình thức xem xét nhưng
không bao gồm bất kỳ hợp đồng hoặc thỏa thuận được thực hiện với
mục đích bán hàng trực tiếp được cung cấp bởi hành động bán hàng
trực tiếp 993 [Đạo luật 500];”
Có thể thấy, hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự tổng hòa các
đặc điểm của nhiều loại hợp đồng thương mại khác nhau. Thấp thoáng trong
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là hình ảnh của Hợp đồng Li-xăng mà
cụ thể là sự hướng đến sử dụng một số đối tượng của quyền sở hữu công
nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp. Hay là sự tương
đồng trong việc xác định nghĩa vụ phải chuyển giao bí quyết, công nghệ, tài
liệu,hướng dẫn, đào tạo… của bên nhượng quyền như trong Hợp đồng chuyển
giao công nghệ. Không những thế, bóng dáng của các hợp đồng đại lý thương
mại, hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng hiện hữu trong hợp đồng nhượng
quyền thương mại. Với tính chất tổng hợp này, hợp đồng nhượng quyền
thương mại và các vấn đề cụ thể liên quan tới chúng đã đặt việc nghiên cứu
trước ngưỡng cửa của sự phức tạp.
16
Bản thân Thái Lan là một quốc gia rất phát triển theo mô hình kinh
doanh nhượng quyền. Tuy nhiên, pháp luật của quốc gia này không hề có một
quy định riêng biệt nào điều chỉnh mối quan hệ nhượng quyền thương mại mà
được điều chỉnh ở nhiều đạo luật riêng lẻ như: Luật Dân sự và Luật Thương
ngoài. Do vậy, hoàn toàn có thể vận dụng Điều 758 Bộ luật Dân sự 2005 quy
định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài để làm rõ nội hàm khái niệm
Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài.
Điều đầu tiên dễ nhận ra đó là để trở thành một Hợp đồng nhượng
quyền thương mại có yếu tố nước ngoài thì phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, là về tư cách chủ thể của các bên trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại có yếu tố nước ngoài, ít nhất một trong các bên của hợp đồng phải
là thương nhân nước ngoài mang quốc tịch nước ngoài hoặc thương nhân đó
đang cư trú ở nước ngoài. Ví dụ: Một thương nhân mang quốc tịch Việt Nam
nhưng đang cư trú tại Singapore ký hợp đồng nhượng quyền thương mại với
một thương nhân Việt Nam; Thứ hai, là sự kiện xác lập, sự kiện thay đổi hoặc
sự kiện chấm dứt quan hệ hợp đồng diễn ra tại nước ngoài. Ví dụ: hợp đồng
nhượng quyền thương mại giữa Phở 24 của Việt Nam cho bên nhận quyền là
thương nhân Việt Nam nhưng hợp đồng được ký ở Singapore, thì cũng được
xem là hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại có
yếu tố nước ngoài
Trên cơ sở phân tích khái niệm của Hợp đồng nhượng quyền thương
mại có yếu tố nước ngoài, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản riêng có,
thông qua đó có thể phân biệt dễ dàng hợp đồng này với các loại hợp đồng
thương mại khác.
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
18
nước ngoài là thương nhân nước ngoài. Yếu tố nước ngoài ở đây được hiểu, ít
nhất một trong các bên hợp đồng phải là thương nhân mang quốc tịch nước
ngoài hoặc cứ trú ở nước ngoài. Tuy nhiên, tùy thuộc vào pháp luật của từng
quốc gia mà tiêu chí này cũng khác nhau. Ở Việt Nam, tại Khoản 1, Điều 16,
Mục 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân nước ngoài là thương
nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước
hợp đồng thương mại khác có liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ.
1.2.3. Mục đích, vai trò của hợp đồng nhượng quyền thương mại có
yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế
1.2.3.1. Mục đích của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
nước ngoài
Trong bối cảnh hiện nay, khi giao lưu hợp tác quốc tế ngày càng rộng mở.
Sự thông thương trong thương mại ngày càng phát triển, nhiều mô hình hợp tác
kinh doanh ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường, chính trong bối
cảnh đó hình thức kinh doanh nhượng quyền ra đời, với ưu thế tiềm tàng mà mô
hình này mang lại đã khiến nó nhanh chóng “bùng nổ” và “lan rộng” trên hầu hết
các châu lục. Và cũng chính vì lý do này, mà hợp đồng nhượng quyền thương
mại có yếu tố nước ngoài càng trở nên hết sức quan trọng.
Pháp luật của quốc gia là “hành lang pháp lý” hỗ trợ cho mối quan hệ
kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, nhưng nó không thể bao quát
hết mọi vấn đề có thể xảy ra xung quanh quan hệ này; Bởi một lẽ đơn giản,
quy luật xã hội luôn luôn đặt trong trạng thái động, quy định của pháp luật
không thể điều chỉnh kịp những thay đổi của xã hội. Do vậy, sự thỏa thuận
của các bên hay nói cách khác là Hợp đồng có ý nghĩa và vai trò hết sức to
lớn. Thông qua Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài mà
20
các bên thương nhân dù ở quốc gia khác nhau nhưng đều có thể bình đẳng để
thương lượng, thỏa hiệp việc chuyển giao “quyền thương mại” một cách hài
hòa và đảm bảo lợi ích nhất cho các bên, mà không “sợ” bị “gài bẫy pháp
luật” của một bên đối tác.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài là “chìa
khóa” mở rộng hoạt động kinh doanh của thương nhân. Các tập đoàn lớn hay
các thương hiệu nổi tiếng thông qua việc ký kết Hợp đồng nhượng quyền này
để mở rộng thị trường tiêu thụ, quảng bá sản phẩm của mình một cách hiệu
quả nhất và từ đấy gia tăng lợi nhuận.