TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA ( 2008-2012)
ĐỀ TÀI:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng
nhƣợng quyền thƣơng mại ở Việt Nam
Giảng viên hƣớng dẫn
Nguyễn Thị Hoa Cúc
Sinh viên thực hiện
Phan Văn Dũng Em
MSSV: 5086031
LỚP: Thƣơng mại 2-k34
Cần Thơ, 04/2012
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA ( 2008-2012)
………………………………………………………………………………………...……………
……………………………………………………………………………...………………………
…………………………………………………………………...…………………………………
………………………………………………………...……………………………………………
……………………………………………...………………………………………………………
…………………………………...…………………………………………………………………
………………………...……………………………………………………………………………
……………...………………………………………………………………………………………
…...…………………………………………………………………………………………...……
……………………………………………………………………………………...………………
…………………………………………………………………………...…………………………
………………………………………………………………...……………………………………
……………………………………………………...………………………………………………
…………………………………………...…………………………………………………………
………………………………...……………………………………………………………………
……………………...………………………………………………………………………………
…………...………………………………………………………………………………………….
..…………………………………………………………………………………………...………
…………………………………………………………………………………...…………………
………………………………………………………………………...……………………………
……………………………………………………………...………………………………………
…………………………………………………...…………………………………………………
………………………………………...……………………………………………………………
……………………………...………………………………………………………………………
…………………...…………………………………………………………………………………
………...…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...…………
………………………………………………………………………………...……………………
……………………………………………………………………..................................................
………………………………………………………………………………...……………………
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
…………………………………………………………………………………………..................
…………………………………………………………………………………………...…………
………………………………………………………………………………...……………………
……………………………………………………………………...………………………………
…………………………………………………………...…………………………………………
………………………………………………...……………………………………………………
……………………………………...………………………………………………………………
…………………………...…………………………………………………………………………
………………...……………………………………………………………………………………
……...…………………………………………………………………………………………...…
………………………………………………………………………………………...……………
……………………………………………………………………………...………………………
…………………………………………………………………...…………………………………
………………………………………………………...……………………………………………
CGCN
SHTT
NĐ
TT
NHHH
SHCN
Nhƣợng quyền thƣơng mại
Luật thƣơng mại
Chuyển giao công nghệ
Sở hữu trí tuệ
Nghị định
Thông tƣ
Nhãn hiệu hàng hóa
Sở hữu công nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................................... 2
3. Phạm vi nghiện cứu.................................................................................................. 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................... 2
5. Cơ cấu của luận văn ................................................................................................. 2
CHƢƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ HỢP
ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI ............................................................ 3
1.1. Nhƣợng quyền thƣơng mại ..................................................................................... 3
1.1.1 Lịch sử hình thành NQTM .............................................................................. 3
2.3 Giao kết hợp đồng NQTM....................................................................................... 27
2.4 Nội dung hợp đồng NQTM ..................................................................................... 31
2.4.1 Về đối tượng hợp đồng NQTM........................................................................ 31
2.4.2 Về quyền và nghĩa vụ các bên ......................................................................... 33
2.4.3 Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán ...................... 37
2.4.4 Thời điểm và thời hạn có hiệu lực của hợp đồng NQTM ............................... 38
2.4.5 Chấm dứt hợp đồng......................................................................................... 39
2.5 Vi phạm trong hợp đồng NQTM ............................................................................. 40
2.5.1 Một số vi phạm thƣờng gặp trong quan hệ NQTM ........................................ 40
2.5.2 Chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng NQTM ........................... 42
2.5.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng ........................................................... 42
2.5.2.2 Bồi thường thiệt hại ............................................................................ 43
2.5.2.3 Phạt vi phạm .................................................................................. 44
2.5.2.4 Các chế tài khác ............................................................................. 45
2.5.3 Xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm hợp đồng NQTM ........................... 45
2.6 Cung cấp thông tin ................................................................................................... 47
CHƢƠNG 3
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ...... 49
3.1 Thực trạng hoạt động NQTM ở Việt Nam .............................................................. 49
3.1.1 Tình hình hoạt động của một số mô hình nhượng quyền thương hiệu ở nước
ngoài vào Việt Nam ....................................................................................................... 49
3.1.2 Tình hình hoạt động của một số mô hình mô hình nhượng quyền của thương
hiệu Việt Nam ................................................................................................................ 52
3.2 Một số đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng
NQTM ở Việt Nam........................................................................................................ 56
thức kinh doanh franchising phát triển mạnh mẽ ở Việt nam, hơn nữa theo dự báo, sau khi
gia nhập WTO, nhƣợng quyền thƣơng mại ở nƣớc ta sẽ có cơ hội phát triển nhanh do sự
đầu tƣ của các công ty và tập đoàn lớn chuyên về franchising. Để có thể hội nhập thành
công thì một điều kiện tiên quyết đối với các doanh nghiệp Việt Nam là cần tìm hiểu,
nghiên cứu các thuận lợi và thách thức của hệ thống kinh doanh đặc thù này trƣớc khi
quyết định kí kết hợp đồng để tham gia mô hình kinh doanh nhƣợng quyền thƣơng mại.
Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại là hình thức pháp lý thực hiện hoạt động
nhƣợng quyền thƣơng mại là căn cứ pháp luật quan trọng nhất và cũng là căn cứ hợp tác
kinh doanh của hai bên, đó là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên đồng thời là
căn cứ giải quyết tranh chấp giữa các bên. Mặt khác, đó cũng là cơ sở để nhà nƣớc có thể
quản lý hoạt động nhƣợng quyền trên lãnh thổ Việt Nam, có thể nói hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại đóng vai trò quan trọng trong quan hệ nhƣợng quyền giữa các chủ thể.
Chính vì vậy việc nghiên cứu “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng nhượng
quyền thương mại ở Việt Nam” rất cần thiết và quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt
lý luận lẫn thực tiễn.
(1) Nhƣợng quyền thƣơng mại: Lịch sử, hiện tại và tƣơng lai. Đăng trên: http ://www.saga.vn/
Thuonghieu/Nhuongquyenvagiatrithuonghieu/3148.saga 15/07/2007
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nhƣợng quyền thƣơng mại nói chung
và hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại nói riêng, đồng thời nghiêng cứu một số nét cơ
bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm làm rỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp
đồng nhƣợng quyền thƣơng mại, kết hợp với việc xem xét thực trạng hoạt động nhƣợng
quyền thƣơng mại ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đƣa ra một số đánh giá và kiến nghị nhằm
hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ở Việt
Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Về lý luận: Đề tài này nghiên cứu về quy định của pháp luật về NQTM trong đó
tập trung vào các vấn đề về hợp đồng nhƣ: chủ thể, hình thức, nội dung… đƣợc quy định
“sự tự do”. Vào thời đó bên nhƣợng quyền là một ngƣời rất quan trọng, đƣợc trao quyền
hạn và quyền tự do để thay mặt nhà nƣớc điều hành triển khai các luật lệ tại một số các
lãnh thổ nhất định. Khái niệm trao quyền này sau đó đƣợc áp dụng trong ngành kinh
doanh và khu vực kinh tế tƣ nhân.
Trƣớc thế chiến thứ 2, NQTM phát triển ồ ạt trong các trạm xăng dầu và gara buôn
bán xe hơi, về thực chất đây chỉ là hình thức nhƣợng quyền phân phối sản phẩm, các đại
lý xăng dầu hay gara xe hơi đƣợc cấp giấy phép dƣới tên một thƣơng hiệu nào đó tuy
nhiên họ không phải trả khoản phí nhƣợng quyền nào. Điều kiện duy nhất để các đại lý
đƣợc hoạt động là phải mua sản phẩm độc quyền cung cấp bởi chủ thƣơng hiệu mà thôi.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, mô hình kinh doanh này mới thật sự phát triển và
trở nên phổ biến đặc biệt đối với các mặt hàng dich vụ bán lẻ, phân phối, nhà hàng, chuỗi
khách sạn. Phƣơng thức nhân rộng mô hình kinh doanh này phát triển mạnh nhất ở Mỹ từ
khoảng thập niên 90, vào năm 1994, 35% của tổng doanh số bán lẻ tại Mỹ là từ các cửa
hàng nhƣợng quyền. Theo số liệu thống kê năm 2001 có khoảng 800.000 cở sở kinh
doanh NQTM, hoạt động nhƣợng quyền tạo ra gần 10 triệu chỗ làm và chiếm đến 7.4%
tổng lực lƣợng lao động, chiếm 5% tổng số tiền lƣơng trong khối kinh tế tƣ nhân. Khối
lƣợng hàng hóa và dịch vụ mà lĩnh vực này tạo ra hàng năm là khoảng 630 tỷ USD,
chiếm 3.9% tổng số lƣợng hàng hóa, dịch vụ trong khu vực kinh tế tƣ nhân Hoa Kỳ (2).
Ngày nay, một số tiểu bang của Mỹ đã có luật bắt buộc bất kỳ công ty tƣ nhân nào
(2): Nghiên cứu tác động kinh tế của hoạt động NQTM - thực hiện bởi quỹ giáo dục hiệp hội nhƣợng
quyền quốc tế IFA.
muốn tham gia thị trƣờng chứng khoán phải có đăng kí nhƣợng quyền.
Khái niệm NQTM mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 và đến nay có khoảng
70 hệ thống nhƣợng quyền nhƣng hoạt động này đã từng bƣớc khẳng định vai trò của
mình đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam. Giờ đây ngƣời tiêu dùng đã quen thuộc với
các thƣơng hiệu nổi tiếng trên thế giới nhƣ KFC, DIMAL, QUALITEA, cho đến nay một
số thƣơng nhân Việt Nam đã kinh doanh khá thành công theo mô hình này (điển hình là
cà phê Trung Nguyên, Phở 24 và bakerry Kinh Đô), và các doanh nghiệp có tiềm năng
hiệu hàng hóa, phƣơng thức, phƣơng pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát
và bên nhận quyền đang và sẽ tiến hành đầu tƣ đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn
lực của mình”. Theo định nghĩa này vai trò của bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu
tƣ vốn và điều hành doanh nghiệp đƣợc đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của
bên giao quyền.
Liên minh Châu Âu định nghĩa: “NQTM là tập hợp những quyền sở hữu công
nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, biển hiệu cửa
hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bí quyết hoặc sáng chế sẽ đƣợc khai thác để bán sản
phẩm hoặc cung cấp dịch vụ tới ngƣời sử dụng cuối cùng”. Nhƣ vậy có thể thấy cách tiếp
cận của liên minh Châu Âu là việc nhấn mạnh quyền của bên nhận quyền khi sử dụng tập
hợp các quyền sở hữu trí tuệ
Định nghĩa của Australia là định nghĩa khá toàn diện về NQTM, ngoài việc chỉ ra
các đặc điểm đặc trƣng khái quát lên bản chất của NQTM còn chỉ ra đƣợc một quy trình
khá chi tiết và đầy đủ của hoạt động NQTM. Định nghĩa đó nhƣ sau: “NQTM là một thỏa
thuận một bên (bên nhƣợng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) quyền thực hiện
hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hàng hóa hoặc
dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản đƣợc
xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhƣợng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động
kinh doanh đƣợc chủ yếu gắn liền với thƣơng hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tƣợng
thƣơng mại của bên nhƣợng quyền. Trƣớc khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh
doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhƣợng quyền một khoản phí NQTM”. (3)
(3): Xem Một số khái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. Đăng trên />Thuonghieu/Nhuongquyenvagiatrithuonghieu/1579.saga 03/02/2007
Đối với Việt Nam khái niệm nhƣợng quyền thƣơng mại lần đầu tiên đƣợc đề cập
đến trong pháp luật tại Đ284 luật thƣơng mại 2005, theo quan điểm các nhà làm luật thì:
“NQTM là hoạt động thƣợng mại theo đó bên nhƣợng quyền cho phép và yêu cầu bên
nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều
kiện sau:
1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đƣợc tiến hành theo cách thức tổ chức do
khách hàng và các đối tác khác trong kinh doanh, vì vậy nó sẽ có địa vị pháp lý ngang
nhau khi kinh doanh NQTM.
Thứ hai, đối tƣợng của hoạt động NQTM là vô hình – chính là quyền thƣơng mại _
đó là một thể thống nhất tạo bởi rất nhiều các quyền tài sản khác nhau nhƣ quyền sử dụng
các đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, bí
quyết kinh doanh, bí quyết kỹ thuật...), quyền kinh doanh theo hệ thống vận hành với
phƣơng thức quản lý, tiếp thị, đào tạo của bên nhƣợng quyền.
Thứ ba là mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền.
Bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh của bên nhƣợng quyền
để sản xuất, phân phối hàng hóa và cung ứng dịch vụ, đồng thời còn nhận đƣợc sự giúp
đỡ về mặt kỹ thuật, đào tạo của bên nhƣợng quyền trong quá trình kinh doanh theo hợp
đồng NQTM. Chính vì vậy bên nhƣợng quyền luôn có quyền kiểm soát đối với hoạt động
kinh doanh của bên nhận quyền để đảm bảo tính đồng bộ cho toàn hệ thống nhƣợng
quyền. Ngƣợc lại, bên nhận quyền khi tham gia vào mạng lƣới kinh doanh nhƣợng quyền
sẽ phải trả cho bên nhƣợng quyền các khoản tiền cho việc sử dụng đối tƣợng NQTM để
kinh doanh cũng nhƣ các khoản tiền cho các công việc đào tạo, hỗ trợ mà mình nhận
đƣợc.Tuy nhiên có trƣờng hợp ngoại lệ là trong hình thức nhƣợng quyền phân phối (đƣợc
đề cập trong phần 1.1.2.3) thì bên nhận quyền chủ yếu thực hiện phân phối các sản phẩm
do bên nhƣợng quyền sản xuất, cung cấp dƣới thƣơng hiệu của bên nhƣợng quyền và sự
giúp đỡ, hỗ trợ từ phía bên nhƣợng quyền đó thì hạn chế.
Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản của nhƣợng quyền thƣơng mại, tùy theo
từng hình thức nhƣợng quyền cụ thể mà quan hệ nhƣợng quyền thƣơng mại còn có thể có
các đặc điểm khác.
1.1.2.3 Phân loại NQTM
Theo thông lệ quốc tế, nếu căn cứ vào phạm vi, tính chất của quan hệ nhƣợng
quyền thì NQTM sẽ đƣợc chia thành nhƣợng quyền sản xuất, nhƣợng quyền phân phối
sản phẩm và nhƣợng quyền phƣơng pháp kinh doanh.
Thứ nhất, nhƣợng quyền sản xuất: Đây là loại hình NQTM theo đó bên nhận đƣợc
của bên nhƣợng quyền trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Đổi lại bên nhận quyền
phải trả cho bên nhƣợng quyền khoản phí nhƣợng quyền và các khoản lợi tức đƣợc tính
hàng năm trong qúa trình hợp đồng NQTM có hiệu lực. Mặt khác bên nhận quyền còn
phải tuân thủ tuyệt đối các quy định kỹ thuât, chuẩn mực do bên giao quyền đặt ra. Hình
thức nhƣợng quyền kinh doanh đƣợc áp dụng nhiều trong các lĩnh vực khách sạn, nhà
hàng ăn uống.
Có thể nói đây là ba hình thức nhƣợng quyền cơ bản nhất, từ đây có thể phát triển
thành nhiều hình thức nhƣợng quyền khác. Phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mình
mà các bên chọn ra hình thức nhƣợng quyền thƣơng mại phù hợp để kinh doanh.
1.1.3 Khái niệm hợp đồng NQTM
Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng nhƣ bản chất pháp lý của hoạt động nhƣợng
quyền thƣơng mại, hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại cũng giống nhƣ các loại hợp
đồng thông thƣờng khác, là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nhƣợng quyền
thƣơng mại về những vấn đề chính trong nội dung của quan hệ này. Đây chính là cơ sở
phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhƣợng quyền và cũng là cơ sở để
giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng.
1.1.3.1 Khái niệm hợp đồng NQTM trên thế giới
Theo Hiệp ƣớc EEC, “Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại là một thoả thuận
trong đó, một bên là bên nhƣợng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền
khả năng đƣợc khai thác một “quyền thƣơng mại” nhằm mục đích xúc tiến thƣơng mại
đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp
một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các
bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thƣờng hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một
cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền; việc
tiếp tục thực hiện của bên nhƣợng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ
trợ thƣơng mại cũng nhƣ kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng
mại còn hiệu lực”
Hiệp hội nhƣợng quyền thƣơng mại của nƣớc Đức đã đƣa ra một khái niệm chính
thƣơng mại là một loại hợp đồng đƣợc các thƣơng nhân ký kết trong quá trình thực hiện
hoạt động thƣơng mại, mà cụ thể ở đây chính là thực hiện hoạt động nhƣợng quyền
thƣơng mại . Vì vậy, hợp đồng này cũng phải có những đặc điểm chung của hợp đồng
đƣợc quy định ở chƣơng VI của Bộ luật Dân sự và đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp
luật dân sự đặt ra dƣới góc độ của một loại giao dịch dân sự. Thêm vào đó, về cơ bản, nó
phải thể hiện đƣợc bản chất của giao dịch nhƣợng quyền thƣơng mại đã đƣợc định nghĩa
tại Điều 284 Luật Thƣơng mại năm 2005 (4).
1.2 Sự hình thành và phát triển pháp luật NQTM
Trên thế giới, nhƣợng quyền thƣơng mại đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII,
XIX ở châu Âu và Mỹ. Tại Việt Nam, nhƣợng quyền thƣơng mại mới du nhập vào từ
những năm 90 của thế XX và chỉ trong những năm gần đây nó mới thực sự đƣợc quan
tâm rõ ràng hơn.
(4) Vũ Đặng Hải Yến, Một số vấn đề pháp lý về chủ thể hợp đồng NQTM, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
4 năm 2008.
1.2.1 Trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 2006
Đây là giai đoạn mà các quy định về nhƣợng quyền thƣơng mại chƣa đƣợc luật
hóa. Các quy định sơ lƣợc và hạn chế về nhƣợng quyền thƣơng mại đƣợc thể hiện trong
một số văn bản dƣới luật nhƣ:
Thông tƣ số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trƣờng hƣớng dẫn thực hiện Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 của
Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Tại Thông tƣ này, theo Mục 4 về
“quản lý chuyển giao công nghệ” thì việc phân cấp phê duyệt hợp đồng quy định tại Điều
32 Nghị định 45/1998 đƣợc hiểu nhƣ sau: “Các Hợp đồng với nội dung cấp li xăng sử
dụng nhãn hiệu hàng hóa kèm theo các bí quyết sản xuất, kinh doanh được chuyển giao
từ nước ngoài vào Việt Nam có giá trị thanh toán cho một Hợp đồng trên 30.000 USD
(Hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh - tiếng Anh gọi là franchise)”. Nhƣ vậy, bằng
quy định này pháp luật Việt Nam đã đề cập đến việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh
284 Luật thƣơng mại nêu khái niệm nhƣợng quyền thƣơng mại nhƣ sau: “Nhượng quyền
thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên
nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều
kiện sau đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức
tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá,
tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,
quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp
cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”
Nhƣ vậy, đến nay pháp luật nƣớc ta đã quy định nội dung khái niệm “nhƣợng
quyền thƣơng mại” bằng văn bản luật, đồng thời các quy định điều chỉnh hoạt động
nhƣợng quyền thƣơng mại cũng đã đƣợc ban hành khá đầy đủ. Đây là điều kiện rất cần
thiết để nhà nƣớc quản lý hoạt động này.
1.3 Phân biệt NQTM với một số phƣơng thức kinh doanh khác
1.3.1. NQTM và lisence đối tượng SHTT
Lisence đối tƣợng sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu đối tƣợng sở hữu trí tuệ (hoặc
ngƣời đƣợc chủ sở hữu đối tƣợng SHTT chuyển giao độc quyền quyền sử dụng đối tƣợng
SHTT) chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng đối tƣợng SHTT của mình cho
cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác, qua đó bên chuyển giao lisence SHTT thu đƣợc
một khoản tiền.
Có thể thấy NQTM và lisence giống nhau ở điểm cả hai đều có hoạt động chuyển
giao quyền sử dụng các đối tƣợng SHTT, tuy nhiên đây là hai hoạt động kinh doanh hoàn
toàn khác nhau, mà dựa vào một số tiêu chí sau ta có thể phân biệt chúng:
Thứ nhất, đối tƣợng hợp đồng NQTM rộng hơn so với hợp đồng lisence, ngoài các
đối tƣợng quyền SHTT nó còn gồm các đối tƣợng khác nhƣ phƣơng pháp kinh doanh, chỉ
dẫn, quy tắc, tiêu chuẩn về chất lƣợng và kỹ thuật..
Thứ hai, bên nhận chuyển giao lisence ngoài việc sử dụng đối tƣợng SHTT của
bên chuyển giao thì không còn mối quan hệ nào với chủ thể giao lisence. Ngƣợc lại, trong
hợp đồng NQTM mối quan hệ giữa các chủ thể rất chặt chẽ, bên nhận quyền phải tuân
của bên nhƣợng quyền.
Ngoài ra, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hai hình thức kinh doanh này cũng
khác nhau. Nếu nhƣ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, giữa các bên không có quan
hệ gì sau khi công nghệ đƣợc chuyển giao thì ngƣợc lại, quan hệ giữa các chủ thể trong
hợp đồng NQTM rất chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau.
1.3.3. NQTM và Đại lý thương mại
Đại lý thƣơng mại là hoạt đông thƣơng mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý
thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá, hoặc cung ứng dịch
vụ của bên giao đại lý để hƣởng thù lao.
Về hình thức, NQTM và đại lý thƣơng mại đều là việc cùng phân phối hàng hoá,
dịch vụ trên thƣơng hiệu doanh nghiệp khác, tuy nhiên về bản chất thì NQTM và đại lý
thƣơng mại tƣơng đối khác nhau:
Thứ nhất, bên nhận quyền trong quan hệ NQTM là một pháp nhân độc lập, tiến
hành phân phối hàng hoá, dịch vụ cho chính mìnhvà tự hạch toán tài chính trong hoạt
động kinh doanh của mình. Còn bên nhận đại lý trong đại lý thƣơng mại chỉ là đại diện
của doanh nghiệp trong việc phân phối, cung ứng dịch vụ theo mức giá quy định của
doanh nghiệp đó, bên nhận đại lý sẽ nhận đƣợc khoản hoa hồng từ phía doanh nghiệp tính
trên doanh số bán đƣợc của đại lý đó
Thứ hai, trong quan hệ đại lý thƣơng mại bên nhận đại lý không phải trả khoản phí
nào cho doanh nghiệp khi trở thành đại lý của doanh nghiệp, không chỉ vậy, trong suốt
quá trình kinh doanh, bên nhận đại lý còn đƣợc hƣởng thù lao do bên giao đại lý trả (gọi
là hoa hồng) cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngƣợc lại, bên nhận quyền trong
NQTM muốn than gia vào mạng lƣới nhƣợng quyền phải trả cho bên nhƣợng quyền
khoản phí ban đầu để mua "quyền thƣơng mại", đồng thời trong suốt qúa trình kinh
doanh, bên nhận quyền còn phải đóng các khoản phí hàng tháng để tiếp tục duy trì sử
dụng các đối tƣợng SHTT.
Một điểm phân biệt khá quan trọng giữa NQTM và đại lý thƣơng mại chính là
cách bài trí cửa hàng. Đối với các cửa hàng nhƣợng quyền bên nhận quyền bắt buộc phải
bố trí thiết kế cửa hàng theo đúng quy định của bên nhƣợng quyền. Nhƣng với các cửa
thống cửa hàng nhƣợng quyền của mình, với số lƣợng lớn nhƣ vậy bên nhƣợng quyền sẽ
mua đƣợc nguyên liệu với giá thấp hơn so với giá thông thƣờng của hàng hóa đó. Các chi
phí về quảng cáo, tiếp thị cũng đƣợc tiết giảm nhờ ƣu thế chia nhỏ ra cho nhiều đơn vị
cùng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông qua phí hàng tháng của bên nhận quyền.
1.4.2. Đối với bên nhận quyền
Theo con số thống kê ở Mỹ, trung bình chỉ có khoảng 23% doanh nghiệp nhỏ kinh
doanh độc lập có thể tồn tại sau 5 năm kinh doanh, trong khi đó con số này là 92% đối với
các danh nghiệp kinh doanh NQTM. Điều đó cho thấy tỷ lệ thành công của mô hình kinh
doanh này cao hơn nhiều so với các mô hình khác. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi bên nhận
quyền sản xuất, phân phối hàng hoá và cung ứng dịch vụ dƣới nhãn hiệu, thƣơng hiệu của
bên nhƣợng quyền – thƣờng là những thƣơng hiệu lớn và có sức cạnh tranh trên thị
trƣờng. Bên nhận quyền chỉ cần bỏ ra một khoản tiền và đáp ứng các điều kiện của bên
nhƣợng quyền là có thể kinh doanh mà không phải tự xây dựng và phát triển thƣơng hiệu.
Đây có thể đƣợc coi là khoản đầu tƣ an toàn và khôn ngoan của bên nhận quyền vì khi
kinh doanh dƣới thƣơng hiệu mạnh thì vấn đề hồi vốn và thu lợi nhuận chỉ trong thời gian
ngắn. Một thí nghiệm nhỏ sau sẽ cho thấy sức mạnh của thƣơng hiệu trên thị trƣờng lớn
nhƣ thế nào: Ngƣời ta bỏ bơ, lạc dở và rẻ tiền vào lọ của thƣơng hiệu mạnh và bỏ bơ, lạc
ngon, đắt tiền vào lọ chƣa có thƣơng hiệu gì cho ngƣời tiêu dùng ăn thử, kết quả là đa số
mọi ngƣời cho rằng bơ lạc dở, rẻ tiền đựng trong lọ có thƣơng hiệu nổi tiếng ngon hơn .
Điều này chứng minh sức mạnh của thƣơng hiệu trong quyết định mua hàng của khách
hàng, hay nói cách khác, khi mua franchise của một sản phẩm đã có thƣơng hiệu thì khá
an tâm vì coi nhƣ họ đã chắc chắn có một lƣợng khách hàng nhất định.
Khi kinh doanh NQTM bên nhận quyền sẽ giảm thiểu đƣợc nhiều rủi ro trong kinh
doanh. Bên nhận quyền sẽ nhận đƣợc sự giúp đỡ từ bên nhƣợng quyền không chỉ trƣớc
trƣớc mà cả sau khi cửa hàng nhƣợng quyền đƣợc khai trƣơng về các vấn đề nhƣ quảng
cáo, tiếp thị, đào tạo nhân viên. Mặt khác các thƣơng hiệu đƣợc chuyển nhƣợng thƣờng
đã đƣợc bảo hộ sẵn, nhƣ vậy bên nhận quyền không phải mất phí bảo hộ (một khoản phí
không nhỏ) nhƣ các thƣơng nhân kinh doanh độc lập khác và cũng không lo bị khiếu kiện