CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỆT MAY HOA KỲ - Pdf 67

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY VIỆT NAM VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỆT MAY HOA
KỲ
1.1. Tìm hiểu chung về xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu
1.1.1. Tìm hiểu chung về xuất khẩu
Trong lý luận Thương mại Quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ
cho nước ngoài. Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF) thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Nếu các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu trong nước
không đổi, thì giá trị xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và tỉ giá hối
đoái. Nếu như thu nhập của nước ngoài tăng (tăng trưởng của nước ngoài tăng tốc) thì
giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng. Nếu tỉ giá hối đoái tăng (đồng tiền trong nước mất giá
so với ngoại tệ) thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng vì giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ
trở nên thấp đi.
Trong thời gian qua, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng lên khá nhanh
và bền vững qua các năm.
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (Đơn vị: triệu USD,
%)
Năm Tổng kim ngạch
xuất khẩu
Tốc độ tăng trưởng
kim ngạch xuất khẩu
2000 14482.7
2001 15029.2 3.78
2002 16706.1 11.16
2003 20149.3 20.61
2004 26485.0 31.44
2005 32447.1 22.51
2006 39826.2 22.74
2007 48560.4 15.15
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

sản xuất kinh doanh.
Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời
sống của nhân dân: trước hết, việc sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thu hút hàng triệu lao
động vào làm việc và có thu nhập không thấp. Đó còn là nguồn tạo vốn để nhập khẩu
vật phẩm tiều dùng phục vụ đời sống và làm phong phú thêm những nhu cầu tiêu dùng
của nhân dân.
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của đất
nước: Chúng ta có thể thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động
qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Có thể
hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điều kiện
thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặc khác,
chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất
khẩu.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng dệt may Việt Nam
Đầu tiên, chúng ta biết Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời trong lĩnh
vực sản xuất hàng may mặc. Lý do đơn giản là vì Việt Nam có chiều dài lịch sử 4000
năm, hơn nữa Việt Nam lại là nước có khí hậu khá phù hợp để trồng các loại nguyên
liệu sản xuất hàng may mặc.
Thứ hai, Việt Nam có lao động dồi dào và nhân công giá rẻ. Trong khi đó, dệt
may là ngành cần nhiều lao động. Vì thế, đây là một yếu tố có tác động tích cực trong
quá trình sản xuất hàng dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, năng suất lao động trong
ngành dệt may Việt Nam chưa cao. Vì thế không phải lúc nào đây cũng là một lợi thế để
chúng ta có thể cạnh tranh về giá thành sản phẩm.
Thứ ba, các cơ sở dệt may của Việt Nam được phân bố ở các vùng đông dân cư
sinh sống (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng…).
Vì thế có thể sử dụng lao động tại chỗ và một lần nữa giảm được chi phí sản xuất và
tăng tính cạnh tranh về giá cho hàng dệt may Việt Nam.

Thứ hai, vai trò của các cơ quan xúc tiến thương mại ở Việt Nam cũng như trên
các thị trường nước ngoài chưa được phát huy một cách triệt để. Vì thế nhiều khi các
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam không hiểu rõ về thị trường và luật pháp nước
bạn nên gặp phải một số khó khăn. Trong thời gian tới, hàng dệt may của Việt Nam trên
thị trường Euro (EU) và Hoa Kỳ rất có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị kiện bán phá
giá. Điều này sẽ gây khó khăn lớn cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam.
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu thị trường vào loại ít nhất thế
giới. Điều này sẽ gây trở ngại lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như hoạt động
xuất khẩu dệt may của Việt Nam ra thị trường thế giới nếu có bất cứ một trục trặc nào.
Do chúng ta không nắm rõ luật pháp của nước ngoài và không nghiên cứu kỹ thị trường
nên có thể gặp nhiều rủi ro. Vì thế, Việt Nam sẽ rất dễ bị thua thiệt nếu có xảy ra tranh
chấp.
Thứ tư, do nhập khẩu quá nhiều nguyên phụ liệu và phần lớn là gia công thuê
cho nước ngoài, nên tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam rất ít so
với kim ngạch xuất khẩu. Vì thế kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam chưa
phản ánh một cách chính xác năng lực của ngành.
Thứ năm, vấn đề thương hiệu. Hàng dệt may Việt Nam không hề có thương hiệu
trên thế giới. Ở một vài thị trường tuy hàng dệt may có dán nhãn “made in Việt Nam”
nhưng lại không hề được khách hàng để ý đến. Đây chính là một điểm yếu lớn khiến
cho hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu ra các thị trường thế giới không nâng cao
được khả năng cạnh tranh của mình. Đó cũng là một hệ quả của việc thiếu tự chủ trong
khâu nguyên phụ liệu và gia công thuê cho nước ngoài.
Thứ sáu, yếu tố vốn, pháp luật và chính sách quản lý của Nhà nước với hoạt
động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam:
• Như trên đã nói, ở các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam vốn tự có ít và vốn vay là chủ
yếu nên rất rủi ro. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra thì không những hoạt động sản xuất gặp khó
khăn mà nó còn làm đình trệ hoạt động xuất khẩu.
• Bộ Công thương đã ra thông báo số 6494/TM – XNK ngày 24/12/2004 để hướng dẫn
xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU và Bộ Tài chính cũng ra quyết định số

sử dụng như sau:
• Hàng mặc mùa đông (các loại áo Jacket, Comple)
• Quần áo thể thao
• Quần âu và sơ mi các loại
• Đồ lót
• Ngoài ra còn có một số loại hàng dệt may khác như: Túi xách, các sản phẩm phục vụ
trang trí nối thất (áo gối, chăn, ga trải giường, thảm…)
1.3.1.2. Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của ngành lớn
Do các sản phẩm dệt may phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người là nhu
cầu mặc. Mà nhu cầu mặc của con người cũng lại rất phong phú và đa dạng, đòi hỏi
phải có nhiều chủng loại. Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, nhu cầu “ăn no mặc ấm” đã
chuyển thành “ăn ngon mặc đẹp” để người ta thể hiện trình độ thẩm mỹ, sự văn minh
của bản thân mình. Vì thế, thị hiếu cũng như nhu cầu với các sản phẩm dệt may ngày
càng thay đổi nhanh chóng, yếu tố mốt cũng được chú trọng và đầu tư, vòng đời của
sản phẩm ngày càng thu hẹp (vòng đời của sản phẩm dệt may ngày nay thường chỉ là
một năm, thậm chí còn ngắn hơn). Do đó, nếu các nhà sản xuất đầu tư thích hợp vào
nghiên cứu thị trường, liên tục đổi mới sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu thị
trường thì lượng sản phẩm tiêu thụ hàng năm có thể tăng lên mạnh mẽ.
1.3.1.3. Sử dụng nhiều nhân công
Tỷ lệ lao động sốn trong sản xuất hàng dệt may tương đối cao, đặc biệt là đối
với Việt Nam – một nước có trình độ tự động hóa thấp. Trong các phân ngành sản xuất
hàng dệt may như kéo sợi, dệt vài, may đều cần nhiều khâu sản xuất quan trọng cần
phải có sự tham gia trực tiếp của con người mà máy móc không thể nào thay thế được.
Ví dụ như trong thời đại ngày nay, theo kinh nghiệm cho thấy thì việc thao tác và xử lý
nhiều công đoạn nhỏ, chi tết (cắt, ráp, may) hoàn toàn bằng máy một cách chính xác
trên loại nguyên liệu mềm và dễ xô lệch như vải là rất khó khăn và nếu có làm được thì
chi phí cũng rất cao.
Do đó, ngành dệt may là ngành thu hút rất nhiều nhân công, ở Việt Nam số lượng
lao động hoạt dộng trong ngành dệt may lên đến 2 triệu người, tức là khoảng hơn 4%
lực lượng lao động cả nước và chiếm khoảng 27% lao động công nghiệp trên toàn quốc

phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt may, da giầy, giấy, các mặt hàng thủ công
mỹ nghệ, đầu tư hiện đại hóa các dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng và sức
cạnh tranh của sản phẩm; chuyển dần việc nhận gia công dệt may, đồ da sang mua
nguyên liệu, vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu; coi trọng nâng cao năng lực tiếp thị để
mở rộng thị trường; khắc phục sự lạc hậu của ngành sợi – dệt…” Văn kiện đại hội IX
của Đảng khẳng định: “…phát triển các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế
cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường về tiêu dùng thiết yếu ở trong nước và đẩy mạnh
xuất khẩu như chế biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, da giầy, điện tử và một số sản
phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng trong toàn quốc…”
Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của
người dân trong nước, mặc dù Việt Nam là một nước đông dân và nhu cầu về hàng may
mặc rất lớn.
• Phục vụ nhu cầu tiêu dùng to lớn trong nước
Việt Nam là quốc gia có dân số đông thứ 13 thế giới (hơn 80 triệu người). Vì thế
nhu cầu về hàng dệt may của Việt Nam vô cùng lớn. Tuy vậy, do thu nhập thấp nên nhu
cầu hàng may mặc của Việt Nam chủ yếu là những loại hàng hóa thông thường, giá phải
chăng. Nắm bắt nhu cầu đó, trong thời gian gần đây, ngành dệt may không ngừng mở
rộng sản xuất, nâng cao năng suất, số lượng và chất lượng cũng như tìm cách hạ giá
thành sản phẩm, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước.
• Tạo sản phẩm xuất khẩu chủ lực
Phương hướng của hầu hết các nước trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa là phát
triển những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, Việt Nam cũng không phải là
ngoại lệ. Ngành dệt may Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò ngành hàng xuất khẩu chủ lực
trong những năm qua. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong nhiều năm
qua tăng trưởng nhanh và ổn định. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong
nhiều năm qua luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Không chỉ có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu, việc đẩy mạnh xuất khẩu
hàng dệt may còn góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc
gia khác, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể tìm hiểu và thâm nhập thị trường
các nước xuất khẩu không chỉ cho hàng dệt may mà còn cho những hàng hóa khác dựa

là loại sợi có giá trị cao trên thị trường cả trong và ngoài nước, phát triển các vùng trồng
dâu nuôi tằm không chỉ giúp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất
nông nghiệp mà còn giúp phục hồi và phát triển các làng nghề truyền thống với những
sản phầm dệt may độc đáo, đặc trưng của vùng và có giá trị rất cao trên thị trường.
Ngoài ra phát triển các vùng trồng nguyên liệu sẽ tạo điều kiện phát triển công nhiệp
chế biến nguyên liệu thô như dập, cán bông.
1.4. Giới thiệu chung về thị trường dệt may Hoa Kỳ
1.4.1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ
Trong thời gian đầu và khoảng giữa thế kỷ XX, trong khi nền kinh tế châu Âu và
châu Á bị tàn pháp nặng nề do hậu quả của hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ
2, thì kinh tế Hoa Kỳ lại phát triển mạnh.
Kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Hoa Kỳ
chiếm 42% GNP toàn cầu, đồng thời Hoa Kỳ cũng chiếm tới 54.6% về tổng sản lượng
công nghiệp, 24% xuất khẩu và 74% dự trữ vàng so với toàn thế giới.
Nhờ có nền kinh tế hùng mạnh và phát triển, Hoa Kỳ đã bỏ vốn thành lập các tổ
chức tài chính tiền tệ như Ngân hàng thế giới (WB), quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), sau đó
thành lập công ty Tài chính Quốc tế IFC vào năm 1954, Hiệp hội phát triển quốc tế
(IDA) năm 1960, Ngân hàng Á châu (ADB) vào năm 1966, Công ty đầu tư đa biên
(MIGA) năm 1990…
Với sự tài trợ của Hoa Kỳ, nhiều tổ chức hoạt động kinh tế và thương mại ra đời
như GATT, các tổ chức khác của Liên hợp quốc: UNDP, FAO, UNIDO…
a. Về tài chính
Sau một nửa thế kỷ, Hoa Kỳ duy trì sức mạnh và khả năng chuyển đổi tự do
đồng USD, gần 50% tổng sản lượng thanh toán và đầu tư quốc tế được thực hiện qua
đồng tiền này.
Hoa Kỳ cũng thống trị thị trường tài chính tiền tệ thế giới bằng cách đẩy nhanh
phát triển thị trường chứng khoán.
b. Về công nghiệp
Hoa Kỳ đi đầu khám phá và phát triển những ngành công nghiệp tiên phong.
Vào cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đi đầu trong lĩnh vực khai thác và chế biến dầu mỏ. Đến

f. Vài nét về thị trường Hoa Kỳ
Có thể nói, Hoa Kỳ là một trong những thị trường lớn nhất toàn cầu, với dân số
đông thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Trong năm 2006, thu nhập bình quân
đầu người của Hoa Kỳ đạt khoảng 38.200 USD/người/năm (theo US Cencus Bureau),
và với GDP là 13.194,7 nghìn tỷ USD (theo Bureau of Economic Analysis). Hoa Kỳ là
một thị trường có sức tiêu dùng lớn nhất thế giới.
GDP của Hoa Kỳ trong những năm gần đây tăng trưởng khá ổn định, mặc dù tỷ
lệ tăng trưởng không cao (do GDP của Hoa Kỳ quá lớn), song xét về mặt tuyệt đối,
lượng GDP tăng thêm của Hoa Kỳ trong mỗi năm còn lớn hơn nhiều so với tổng GDP
của nhiều nước trên thế giới.
Bảng 1.2: Tốc độ tăng GDP của Hoa Kỳ trong những năm gần đây
( Đơn vị: nghìn tỷ USD, %)
Năm GDP) Tốc độ tăng trưởng
1999 9.268,4
2000 9.817,0 5,92
2001 10.128,0 3,17
2002 10.469,6 3,37
2003 10.960,8 4,69
2004 11.685,9 6,62
2005 12.433,9 6,5
2006 13.194,7 6,03
2007 13.843,8 3,78
(Nguồn: US Bureau of Economic Analysis)
Nhìn vào bảng số liệu trên, chúng ta có thể thấy tốc độ tăng GDP của Hoa Kỳ
trong giai đoạn 2000 – 2007 rất ổn định. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP của Hoa
Kỳ trong hai năm 2001 và 2002 có thấp hơn so với các năm khác. Nguyên nhân chính là
vì ảnh hưởng của vụ khủng bố ngày 11/9/2001. Nhưng điều này cũng cho thấy khả năng

Trích đoạn Nâng cao tính cạnh tranh về giá để chiếm lĩnh thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status