Ễ2
ìir
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẰN THƠ
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
CẰN THƠ
KHOA
LUẬT
KHOA
LUẬT MẠI
BÔ MÔN
THƯỜNG
Bộ MÔN THƯỜNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
CỬ VĂN
NHÂN
LUẬT
I
V
V
NHÂN
LUẬT
NIÊNCỬ
KHÓA
(2008-2012)
Sinh viên
thực
hiện
Phan
Văn
Dũng Em
Phan Văn Dũng Em
MSSV:
5086031
MSSV:
5086031
LỚP:
Thương
mại
2-k34
LỚP:
Thưong
mại
2-k34
\y
A
Ạ
I
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẢN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIÊN
Trang
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài....................................................................................2
3. Phạm vi nghiện cứu.....................................................................................................2
4. Phuơng pháp nghiên cứu..............................................................................................2
5. Cơ cấu của luận vãn....................................................................................................2
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ HỢP
ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI.................................................................3
1.1........................................................................................ Nhuợng quyền thuong mại
.......................................................................................................................................3
1.1.1.......................................................................................................................... Lịc
h sử hình thành NQTM......................................................................................................3
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại NQTM..................................................................4
1.1.2.1 Khái niệm NQTM...........................................................................................4
1.1.2.2.............................................................................................................. Cá
c đặc điểm cơ bản của hoạt động NQTM....................................................................6
1.1.2.3 Phân loạiNQTM............................................................................................7
1.1.3 Khái niệm họp đồng NQTM...................................................................................9
1.1.3.1.............................................................................................................. Kh
ái niệm hợp đồngNQTM trên thể giới.........................................................................9
1.1.3.2.............................................................................................................. Kh
ái niệm hợp đồng NQTM ở Việt nam...........................................................................10
2.4.1....................................................................................................................... về
đối tượng hợp đồng NQTM................................................................................................31
2.4.2 về quyền và nghĩa vụ các bên.................................................................................33
2.4.3....................................................................................................................... Gi
á cả, phỉ nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán.............................................37
2.4.4 Thời điểm và thời hạn có hiệu lực của hợp đồngNQTM.......................................38
2.4.5 Chẩm dứt hợp đồng.................................................................................................39
2.5 Vi phạm trong hợp đồng NQTM.................................................................................40
2.5.1........................................................................................................................... Mộ
t số vi phạm thường gặp trong quan hệ NQTM.................................................................40
2.5.2........................................................................................................................... Ch
ế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng NQTM...................................................42
2.5.2.7 Buộc thực hiện đúng hợp đồng........................................................................42
THỰC
TRẠNG
HOẠT
ĐỘNG
NHƯỢNG
QUYỀN
64
KẾT
LUẬN ....................................................
3.2.3.3.
Một số vẩn đề khác liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương
mại
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
69
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhượng quyền thương mại (Franchise) cùng với các hình thức kinh doanh khác đã
tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới. Hình thành từ thế kỷ 19, hình
thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả trong kinh doanh. Doanh thu
từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên thế giới năm 2000 là khoảng 1.000 tỉ USD
với khoảng 320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành khác nhau.Nhượng quyền thương mại là
một phương thức kinh doanh rất phổ biến và đang lan rộng khắp thế giới. Theo thống kê
năm 2001 tại Mỹ có khoảng 800.000 cơ sở kinh doanh theo phương thức ữanchise với
hơn 10 hiệu nhân công và hơn 625 tỷ USD doanh số.(1)
Theo đánh giá của Hội đồng nhượng quyền quốc tế (WFC), hiện nay ở Việt Nam
có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền hoạt động do cả doanh nghiệp trong và ngoài nước
tiến hành với các tên tuổi đã hở lên quen thuộc như Cafe Trung Nguyên, Phở 24, Kinh
Do Bakery, Kentucky Fried Chicken (KFC), Dilmahs,...về cơ bản, với thị trường tiềm
năng hơn 80 hiệu dân, hạ tầng dịch vụ ngày càng hoàn thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế
hàng năm đạt trên 7%, số lượng doanh nghiệp tăng đáng kể....là những tiền đề để hình
thức kinh doanh ữanchising phát triển mạnh mẽ ở Việt nam, hơn nữa theo dự báo, sau khi
3. Phạm vỉ nghiên cứu
về lỷ luận: Đề tài này nghiên cứu về quy định của pháp luật về NQTM trong đó
tập trung vào các vấn đề về họp đồng nhu: chủ thể, hình thức, nội dung... đuợc quy định
tại Luật thuơng mại và các vãn bản liên quan nhu: Luật cạnh tranh 2004; Luật sở hữu trí
tuệ 2005; Luật chuyển giao công nghệ 2006; Nghị định 35/2006/NĐ-CP ...
về thực tiễn’. Nghiên cứu thực tiễn hoạt động NQTM. Trên cơ sở đó, tìm ra những
vuớng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về NQTM để đua
ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về NQTM.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận vãn lấy phuơng pháp trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhu: phuơng pháp
phân tích tổng họp, phuơng pháp đối chiếu so sánh, phuơng pháp liệt kê...Các phuơng
pháp này đuợc sử dung đan xem lẫn nhau xem xét toàn diện các vấn đề lý luận và thực
tiễn về họp đồng nhuợng quyền thuơng mại.
5. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận vãn gồm ba
chuông:
Chương 1: Một sổ vẩn đề lý luận về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng
quyền thương mạù
Chương 2: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
Chương 3: Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. Một số đánh
giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thong pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng
quyền thương mạù
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
VÀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
quyền quốc tế IFA.
muốn tham gia thị trường chứng khoán phải có đãng kí nhượng quyền.
Khái niệm NQTM mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 và đến nay có khoảng
70 hệ thống nhượng quyền nhưng hoạt động này đã từng bước khẳng định vai trò của
mình đối vói sự phát hiển kinh tế Việt Nam. Giờ đây người tiêu dùng đã quen thuộc với
các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như KFC, DIMAL, QUALITEA, cho đến nay một
số thương nhân Việt Nam đã kinh doanh khá thành công theo mô hình này (điển bình là
cà phê Trung Nguyên, Phở 24 và bakerry Kinh Đô), và các doanh nghiệp có tiềm năng
khác cũng đang khẩn trương chuẩn bị để chuyển nhượng quyền thương mại. Khái niệm
này cũng đã được các trường đại học về kinh tế đưa vào giảng dạy chính thức, một số
buổi hội thảo do các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền đã được tổ chức như hội
chợ hiển lãm về ữachise tổ chức bởi Vina Capital tại Thành phố Hồ Chí Minh 06/2005;
hội thảo về ữachise tổ chức bởi trung tâm xúc tiến thương mại (ITPC) và công ty Việt Âu
tại khách sạn New Word 12/2005, nhằm trao đổi kinh nghiệm giữa các thương nhân. Điều
đó cho thấy khái niệm NQTM đã được đề cập đến rất nhiều trong thời gian gần đây. Mặt
khác, theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO thì NQTM
sẽ tiếp tục phát hiển mạnh, cũng theo họ để Việt Nam có thể hội nhập kinh tế thế giới một
các nhanh chóng thì NQTM là con đường tốt nhất và rất phù họp với hoàn cảnh Việt Nam
hiện nay.
1.1.2
Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của NQTM
1.1.2.1 Khái niệm NQTM
Tuy có lịch sử phát hiển lâu dài nhưng đến nay hên thế giới vẫn chưa có khái niệm
thống nhất về NQTM. Mỗi quốc gia đưa ra khái niệm khác nhau phù họp với điều kiện
kinh tế xã hội và quan điểm lập pháp của nước mình.
dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được
xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhượng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động
kinh doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tượng
thương mại của bên nhượng quyền. Trước khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh
doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản phí NQTM”.
(3)
; Xem Một số khái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. Đăng trên http://www.
sagq.
vn/
Đối với Việt Nam khái niệm nhượng quyền thương mại lần đầu tiên được đề cập
đến trong pháp luật tại Đ284 luật thương mại 2005, theo quan điểm các nhà làm luật thi:
“NQTM là hoạt động thượng mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên
nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều
kiện sau:
1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức do
bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí
quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên
nhượng quyền.
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc
điều hành công việc kinh doanh.”
Qua các định nghĩa trên ta có thể thấy mặc dù quan điểm của các quốc gia về
nhượng quyền thương mại là khác nhau nhưng tất cả các định nghĩa trên đều có đặc điểm
kinh doanh của bên nhận quyền để đảm bảo tính đồng bộ cho toàn hệ thống nhượng
quyền. Ngược lại, bên nhận quyền khi tham gia vào mạng lưới kinh doanh nhượng quyền
sẽ phải trả cho bên nhượng quyền các khoản tiền cho việc sử dụng đối tượng NQTM để
kinh doanh cũng như các khoản tiền cho các công việc đào tạo, hỗ trợ mà mình nhận
được.Tuy nhiên có trường hợp ngoại lệ là trong hình thức nhượng quyền phân phối (được
đề cập trong phần 1.1.2.3) thì bên nhận quyền chủ yếu thực hiện phân phối các sản phẩm
do bên nhượng quyền sản xuất, cung cấp dưới thương hiệu của bên nhượng quyền và sự
giúp đỡ, hỗ trợ từ phía bên nhượng quyền đó thì hạn chế.
Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản của nhượng quyền thương mại, tùy theo
từng hình thức nhượng quyền cụ thể mà quan hệ nhượng quyền thưong mại còn có thể có
các đặc điểm khác.
1.1.23 Phân loạiNQTM
Theo thông lệ quốc tế, nếu căn cứ vào phạm vi, tính chất của quan hệ nhượng
quyền thì NQTM sẽ được chia thành nhượng quyền sản xuất, nhượng quyền phân phối
sản phẩm và nhượng quyền phương pháp kinh doanh.
Thứ nhất, nhượng quyền sản xuất: Đây là loại hình NQTM theo đó bên nhận được
sử dụng các nguyên liệu đặc thù và có thể là bí quyết kinh doanh để thực hiện việc sản
xuất và phân phối sản phẩm dưới tên thương mại và nhãn hiệu của bên giao. Bên giao
quyền chỉ cung cấp các nguyên liệu đặc thù, các bí quyết kỹ thuật và cấp lisence quyền sử
dụng các đối tuợng sở hữu trí tuệ cho bên nhận để tiến hành kinh doanh.
Thứ hai, nhuợng quyền phân phối: Đây là loại hình NQTM đơn giản nhất, mà mối
quan hệ giữa hai bên chủ thể (bên nhuợng quyền và bên nhận quyền) thực chất là quan hệ
giữa nhà cung cấp và nhà phân phối. Theo đó bên nhận quyền chỉ đuợc thực hiện phân
phối các sản phẩm do bên giao quyền sản xuất, cung cấp duới thuơng hiệu của bên giao
quyền còn sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía bên giao quyền nhu các hình thức nhượng quyền
kinh doanh khác thì rất hạn chế. Có chăng chỉ là việc bên nhận quyền được sử dụng các
quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của bên giao quyền như tên thương mại, nhãn hiệu
hàng hoá, biển hiệu cửa hàng để kinh doanh. Chính vì vậy, bên nhận quyền cũng tự do
quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng giống như các loại họp
đồng thông thường khác, là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền
thương mại về những vấn đề chính trong nội dung của quan hệ này. Đây chính là cơ sở
phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng là cơ sở để
giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện họp đồng.
1.1.3.1 Khái niệm hợp đồngNQTM trên thể giới
Theo Hiệp ước EEC, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thoả thuận
trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền
khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại
đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp
một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các
bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một
cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc
tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ
trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian họp đồng nhượng quyền thương
mại còn hiệu lực”
Hiệp hội nhượng quyền thương mại của nước Đức đã đưa ra một khái niệm chính
thức về hoạt động nhượng quyền thương mại, nhưng pháp luật thương mại của nước này
lại không đề cập đến khái niệm hợp đồng NQTM với tư cách là một loại hợp đồng đặc
thù. Ở Đức, họp đồng nhượng quyền thương mại chỉ là một loại hợp đồng họp tác để
phân phối sản phẩm.
Có thể nói, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng chứa đựng những đặc điểm tổng
hợp của rất nhiều loại họp đồng khác nhau. Hợp đồng NQTM có chứa đựng những yếu tố
của hợp đồng li -xăng, đó là sự hướng tới việc sử dụng một số đối tượng của quyền sở
hữu công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp. Bên cạnh đó,
giao, cung cấp, hướng dẫn cho bên nhận quyền các công nghệ đi kèm và các tài liệu
hướng dẫn vận hành công nghệ đó. Không những thế, bóng dáng của các họp đồng cung
XIX ở châu Âu và Mỹ. Tại Việt Nam, nhượng quyền thương mại mới du nhập vào từ
(4) Vũ Đặng Hải Yến, Một sổ vấn đề pháp lý về chủ thể hợp đồng NQTM, Tạp chí Nghiên cứu
lập 2008.
pháp số
4 năm
1.2.1 Trước ngày 01 tháng 01 năm 2006
Đây là giai đoạn mà các quy định về nhượng quyền thưong mại chưa được luật
hóa. Các quy định sơ lược và hạn chế về nhượng quyền thưong mại được thể hiện trong
một số vãn bản dưới luật như:
Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 của
Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Tại Thông tư này, theo Mục 4 về
“quản lý chuyển giao công nghệ” thì việc phân cấp phê duyệt họp đồng quy định tại Điều
32 Nghị định 45/1998 được hiểu như sau: “Các Hợp đồng với nội dung cấp lì xăng sử
dụng nhãn hiệu hàng hóa kèm theo các bỉ quyết sản xuất, kinh doanh được chuyển giao
từ nước ngoài vào Việt Nam có giá trị thanh toán cho một Hợp đồng trên 30.000 USD
(Hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh - tiếng Anh gọi là franchiseỴ\ Như vậy, bằng
quy định này pháp luật Việt Nam đã đề cập đến việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quan hệ nhượng quyền thương mại.(5)
Tiếp đó, tại khoản 6, Điều 4, Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngàỵ 02/2/2005 của
Chính phủ Quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (thay thế Nghị định số
45/1998/NĐ-CP) có quy định về nội dung chuyển giao công nghệ như sau: “Cấp phép
đặc quyền kinh doanh, theo đó Bên nhận sử dụng tên thưcmg mại, nhãn hiệu hàng hoá và
bỉ quyết của Bên giao để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ thương
mại. Thời hạn Hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh do hai Bên thoả thuận theo quy
định của pháp luật. ”
Điều 755 của Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định rằng hành vi cấp phép đặc
quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp
cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh. ”
Như vậy, đến nay pháp luật nước ta đã quy định nội dung khái niệm “nhượng
quyền thương mại” bằng vãn bản luật, đồng thời các quy định điều chỉnh hoạt động
nhượng quyền thương mại cũng đã được ban hành khá đầy đủ. Đây là điều kiện rất cần
thiết để nhà nước quản lý hoạt động này.
1.3 Phân biệt NQTM vói một sổ phương thức kỉnh doanh khác
1.3.1. NQTM và lisence đổi tượng SHTT
Lisence đối tượng sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ (hoặc
người được chủ sở hữu đối tượng SHTT chuyển giao độc quyền quyền sử dụng đối tượng
SHTT) chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng đối tượng SHTT của mình cho
cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác, qua đó bên chuyển giao lisence SHTT thu được
một khoản tiền.
Có thể thấy NQTM và lisence giống nhau ở điểm cả hai đều có hoạt động chuyển
giao quyền sử dụng các đối tượng SHTT, tuy nhiên đây là hai hoạt động kinh doanh hoàn
toàn khác nhau, mà dựa vào một số tiêu chí sau ta có thể phân biệt chúng:
Thứ nhất, đối tượng họp đồng NQTM rộng hơn so với họp đồng lisence, ngoài các
Thứ hai, bên nhận chuyển giao lisence ngoài việc sử dụng đối tượng SHTT của
bên chuyển giao thì không còn mối quan hệ nào với chủ thể giao lisence. Ngược lại, trong
hợp đồng NQTM mối quan hệ giữa các chủ thể rất chặt chẽ, bên nhận quyền phải tuân
theo các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật do bên nhượng quyền đặt ra đồng thời phải chịu sự
kiểm soát của bên nhượng quyền. Đổi lại, bên nhượng quyền có nghĩa vụ giúp đỡ, hỗ trợ
cho bên nhận quyền trong suốt thời hạn có hiệu lực của họp đồng.
Thứ ba, về vấn đề phí: phí trong họp đồng lisence là phí trả cho từng đối tượng
lisence cụ thể, còn phí trong hợp đồng NQTM chính là khoản tiền trả cho việc sử dụng
tổng họp mọi quyền SHTT được giao bởi bên nhượng quyền.
Điểm khác biệt nữa là trong hợp đồng NQTM bên nhượng quyền cho phép bên
1.3.3. NQTM và Đại lỷ thương mại
Đại lý thương mại là hoạt đông thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý
thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá, hoặc cung ứng dịch
vụ của bên giao đại lý để hưởng thù lao.
về hình thức, NQTM và đại lý thương mại đều là việc cùng phân phối hàng hoá,
dịch vụ ữên thương hiệu doanh nghiệp khác, tuy nhiên về bản chất thì NQTM và đại lý
thương mại tương đối khác nhau:
Thứ nhất, bên nhận quyền trong quan hệ NQTM là một pháp nhân độc lập, tiến
hành phân phối hàng hoá, dịch vụ cho chính mìnhvà tự hạch toán tài chính trong hoạt
động kinh doanh của mình. Còn bên nhận đại lý trong đại lý thương mại chỉ là đại diện
của doanh nghiệp trong việc phân phối, cung ứng dịch vụ theo mức giá quy định của
doanh nghiệp đó, bên nhận đại lý sẽ nhận được khoản hoa hồng từ phía doanh nghiệp tính
trên doanh số bán được của đại lý đó
Thứ hai, trong quan hệ đại lý thương mại bên nhận đại lý không phải trả khoản phí
nào cho doanh nghiệp khi trở thành đại lý của doanh nghiệp, không chỉ vậy, trong suốt
quá trình kinh doanh, bên nhận đại lý còn được hưởng thù lao do bên giao đại lý trả (gọi
là hoa hồng) cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngược lại, bên nhận quyền trong
NQTM muốn than gia vào mạng lưới nhượng quyền phải trả cho bên nhượng quyền
khoản phí ban đầu để mua "quyền thương mại", đồng thời trong suốt qúa trình kinh
doanh, bên nhận quyền còn phải đóng các khoản phí hàng tháng để tiếp tục duy trì sử
dụng các đối tượng SHTT.
Một điểm phân biệt khá quan trọng giữa NQTM và đại lý thương mại chính là
cách bài trí cửa hàng. Đối với các cửa hàng nhượng quyền bên nhận quyền bắt buộc phải
bố trí thiết kể cửa hàng theo đúng quy định của bên nhượng quyền. Nhưng với các cửa
hàng đại lý, bên nhận đại lý được toàn quyền quyết định việc bài trí cửa hàng, không chịu
bất kỳ sức ép nào từ bên giao đại lý.
1.4 Vai trò và ý nghĩa của NQTM
mua được nguyên liệu với giá thấp hơn so với giá thông thường của hàng hóa đó. Các chi
phí về quảng cáo, tiếp thị cũng được tiết giảm nhờ ưu thế chia nhỏ ra cho nhiều đơn vị
cùng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông qua phí hàng tháng của bên nhận quyền.
1.4.2. Đối với bên nhận quyền
Theo con số thống kê ở Mỹ, trung bình chỉ có khoảng 23% doanh nghiệp nhỏ kinh
doanh độc lập có thể tồn tại sau 5 năm kinh doanh, trong khi đó con số này là 92% đối với
các danh nghiệp kinh doanh NQTM. Điều đó cho thấy tỷ lệ thành công của mô hình kinh
doanh này cao hơn nhiều so với các mô bình khác. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi bên nhận
quyền sản xuất, phân phối hàng hoá và cung ứng dịch vụ dưới nhãn hiệu, thương hiệu của
bên nhượng quyền - thường là những thương hiệu lớn và có sức cạnh tranh trên thị
trường. Bên nhận quyền chỉ cần bỏ ra một khoản tiền và đáp ứng các điều kiện của bên
nhượng quyền là có thể kinh doanh mà không phải tự xây dựng và phát hiển thương hiệu.
Đây có thể được coi là khoản đầu tư an toàn và khôn ngoan của bên nhận quyền vì khi
kinh doanh dưới thương hiệu mạnh thì vấn đề hồi vốn và thu lợi nhuận chỉ trong thời gian
ngắn. Một thí nghiệm nhỏ sau sẽ cho thấy sức mạnh của thương hiệu trên thị trường lớn
như thế nào: Người ta bỏ bơ, lạc dở và rẻ tiền vào lọ của thương hiệu mạnh và bỏ bơ, lạc
ngon, đắt tiền vào lọ chưa có thương hiệu gì cho người tiêu dùng ăn thử, kết quả là đa số
mọi người cho rằng bơ lạc dở, rẻ tiền đựng trong lọ có thương hiệu nổi tiếng ngon hơn .
Điều này chứng minh sức mạnh của thương hiệu trong quyết định mua hàng của khách
hàng, hay nói cách khác, khi mua ữanchise của một sản phẩm đã có thương hiệu thì khá
an tâm vì coi như họ đã chắc chắn có một lượng khách hàng nhất định.
Khi kinh doanh NQTM bên nhận quyền sẽ giảm thiểu được nhiều rủi ro trong kinh
doanh. Bên nhận quyền sẽ nhận được sự giúp đỡ từ bên nhượng quyền không chỉ trước
trước mà cả sau khi cửa hàng nhượng quyền được khai trương về các vấn đề như quảng
cáo, tiếp thị, đào tạo nhân viên. Mặt khác các thương hiệu được chuyển nhượng thường
đã được bảo hộ sẵn, như vậy bên nhận quyền không phải mất phí bảo hộ (một khoản phí
không nhỏ) như các thương nhân kinh doanh độc lập khác và cũng không lo bị khiếu kiện
liên quan đến vấn đề bảo hộ. Không chỉ vậy, bên nhận quyền còn được học hỏi kinh
nghiệm quản lý, được tiếp nhận các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến từ bên nhượng
các doanh nghiệp tin tưởng và lựa chọn, không những thế, nó cũng là mô hình kinh doanh
được các quốc gia trên thế giới đánh giá cao trong việc đưa nền kinh tế phát triển và hội
nhập với kinh tể thể giới.
1.5 Pháp luật về họp đồng Nhượng quyền thương mại một sổ nước trên thế giới
1.5.1 Pháp luật Mỹ về họp đồng NQTM
Hoạt động NQTM ở Mỹ được điều chỉnh bởi Quy chế về công bố thông tin, các
điều cấm trong NQTM và các cơ hội kinh doanh NQTM của ủy ban thương mại liên bang
Hoa Kỳ năm 1979. Quy chế này quy định các thông tin bắt buộc mà bên nhượng quyền
phải cung cấp cho bên nhận quyền thông qua tài liệu công bố (UFOC-Uniform Franchise
Oííering Circular). Một tài liệu UFOC chuẩn tại Mỹ có 23 hạng mục thông tin cập nhật
nhất về bên nhượng quyền và gần như tất cả điều kiện chính của một hợp đồng NQTM,
bên nhận quyền sẽ rà soát từng hạng mục và sau đó góp ý xem hạng mục nào nên hay có
thể chỉnh sửa. Đi kèm tài liệu UFOC thường có đính kèm một bản hợp đồng mẫu cho các
bên tham khảo, tài liệu UFOC thường chỉ ra hạng mục chi tiết mà bên nhượng quyền phải
công bố cho các bên dự định nhận quyền và phải được trao cho bên nhận quyền trước khi
hợp đồng. Pháp luật Mỹ quy định bên nhượng quyền bắt buộc phải cung cấp tài liệu
UFOC cho bên dự định nhận quyền ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên hoặc chậm nhất là 10
ngày trước khi ký họp đồng hay trả phí nhượng quyền. Nếu việc này không được thực
hiện đúng, bên nhượng quyền có nguy cơ bị khiếu kiện bởi đối tác mua ữachise của mình.
1.5.2 Pháp luật Trung Quốc về họp đồng NQTM
Ngày 14/10/1997 Bộ Nội Thương Trung Quốc thông qua Thông tư công bố các
biện pháp quản lý hoạt động NQTM. Thông tư quy định cụ thể các vấn đề có liên quan
đến họp đồng NQTM như:
Điều kiện trở thành chủ thể của họp đồng
Quyền và nghĩa vụ các bên tham gia ký kết họp đồng
Yêu cầu công bố thôngtin trước khi ký họp đồng
Nội dung họp đồng